TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 207/2024/DS-PT
Ngày: 22-11-2024
“V/v tranh chấp hợp đồng chuyển
nhượng quyền sử dụng đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ái Loan
Các Thẩm phán: Ông Ngô Đê
Bà Ngô Thị Kim Châu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Liên, Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 207/2024/TLPT-DS ngày 17 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 29/2024/DS-ST ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 121/2024/QĐXXPT-DS ngày 25 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Bà Thạch Thị T, sinh năm 1956. (Vắng mặt)
- Bà Lâm Thị T1, sinh năm 1966. (Có mặt)
- Bà Thạch Thị Đ, sinh năm 1967. (Vắng mặt)
- Bà Kim Thị N, sinh năm 1979. (Vắng mặt)
- Bà Thạch Thị Sa Oan T2, sinh năm 1982. (Có mặt)
- Ông Thạch Sâm B, sinh năm 1981. (Vắng mặt)
- Bà Lâm Thị C, sinh năm 1970. (Vắng mặt)
- Bà Sơn Thị Mi K, sinh năm 1988. (Vắng mặt)
- Bà Huỳnh Thị H, sinh năm 1981. (Vắng mặt)
- Bà Thạch Thị Sốc K1, sinh năm 1984. (Vắng mặt)
- Bà Thạch Thị Sa E, sinh năm 1985. (Vắng mặt)
- Bà Sơn Thị Sa N1, sinh năm 1965. (Vắng mặt)
- Bà Thạch Sa R, sinh năm 1978. (Vắng mặt)
- Bà Trần Thị Ngọc E1, sinh năm 1970. (Có mặt)
- Bà Thạch Thị Phu Phon Na R1, sinh năm 1988. (Vắng mặt)
- Bà Thạch Thị H1, sinh năm 1960. (Vắng mặt)
- Bà Thạch Thị Sa Q, sinh năm 1980. (Vắng mặt)
- Bà Sơn Thị Hoài L, sinh năm 1988. (Có mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh
- Bà Thạch Thị Sa P, sinh năm 1964. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh
- Bà Thạch Thị Sao Sa L1, sinh năm 1992. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp K, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
Người đại diện hợp pháp của các nguyên đơn: Ông Phạm Minh L2, sinh năm 1993; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh (Văn bản ủy quyền ngày 07/8/2017). (Có mặt)
- Bị đơn:
- Bà Lâm Thị Thúy N2, sinh năm 1987; (Vắng mặt)
- Ông Thạch Minh L3, sinh năm 1987. (Có mặt)
- Bà Dương Thị T3, sinh năm 1968. (Có mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân huyện T. Địa chỉ trụ sở: khóm D, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh. (Xin vắng mặt)
- Chi cục Thi hành án dân sự huyện T; trụ sở: Ấp C, xã P, huyện T, tỉnh Trà Vinh. (Xin vắng mặt)
- Ngân hàng N3 – Chi nhánh huyện T. (Xin vắng mặt)
- Bà Lâm Thị Thúy H2, sinh năm 1989. Địa chỉ: Ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh. (Xin vắng mặt)
- Người kháng cáo: Bà Dương Thị T3 là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 17/10/2019, đơn khởi kiện bổ sung và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, các nguyên đơn trình bày:
Theo các quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, bản án của Tòa án huyện T và các quyết định thi hành án theo yêu cầu, thì bà Lâm Thị Thúy N2, ông Thạch Minh L3 có nghĩa vụ trả cho các nguyên đơn tổng số tiền 534.000.000 đồng. Ngoài ra, bà N2, ông L3 còn phải có nghĩa vụ trả cho nhiều người khác tổng số tiền 955.045.000 đồng. Qua xác minh của Cơ quan Thi hành án, ông L3, bà N2 có tài sản là các thửa đất: thửa 207, diện tích 1.209m², tờ bản đồ 16; thửa 90, diện tích 2.420m², tờ bản đồ 2; thửa 91, diện tích 1.568m², tờ bản đồ 16 và thửa 89, diện tích 3.365m², tờ bản đồ 16, cùng tọa lạc ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Nhưng trong đó, các thửa 207, 90, 91 ông L3 và bà N2 có thế chấp tại Ngân hàng N3 Chi nhánh huyện T vay số tiền 200.000.000 đồng. Đến ngày 14/6/2019 Ngân hàng có thông báo gửi Chi cục Thi hành án biết là Ngân hàng đã thỏa thuận chuyển nhượng cho bà Dương Thị T3 thửa đất 207 bằng số tiền ông L3, bà N2 thiếu Ngân hàng gốc, lãi tổng cộng 221.134.227 đồng và yêu cầu Chi cục Thi hành án giải tỏa việc phong tỏa tài sản của ông L3, bà N2 và được Chi cục Thi hành án đồng ý. Nhưng Ngân hàng đã không tổ chức việc bán đấu giá theo quy định, mà để cho ông L3, bà N2 tự làm thủ tục chuyển nhượng cho bà T3. Do bà T3 là mẹ của bà N2, ông L3 nên việc chuyển nhượng đất này là nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho các nguyên đơn và tẩu tán tài sản, vì thời điểm chuyển nhượng giá trị thực tế của thửa đất 207 và tài sản gắn liền trên đất là khoảng trên 600.000.000 đồng, nhưng họ chỉ thỏa thuận chuyển nhượng bằng 221.134.227 đồng nên các nguyên đơn khởi kiện cùng yêu cầu tuyên bố vô hiệu/hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất 207, tờ bản đồ 16, tọa lạc ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh giữa bà Lâm Thị Thúy N2, ông Thạch Minh L3 với bà Dương Thị T3 và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T chỉnh lý sử dụng ngày 19/7/2019 cho bà Dương Thị T3 đối với thửa 207 nêu trên. Trong quá trình giải quyết vụ án, tháng 6/2023 bà T3 đã làm thủ tục sang tên thửa đất 207 cho con tên Lâm Thị Thúy H2, tháng 7/2023 bà H2 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc bà H2 được sang tên và được cấp giấy này là không ngay tình, trái quy định của pháp luật và cũng có dấu hiệu tẩu tán tài sản. Nên các nguyên đơn cùng yêu cầu tuyên bố vô hiệu hợp đồng này và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp mới cho bà H2 đối với thửa 207.
Tại bản khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Dương Thị T3 trình bày:
Bà là mẹ của vợ chồng Lâm Thị Thúy N2, Thạch Minh L3 và Lâm Thị Thúy H2, bà không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn. Bởi vì, trong năm 2019 thửa đất 207, tờ bản đồ 16, tọa lạc ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh là vợ chồng N2, L3 đang thế chấp vay tiền tại Ngân hàng N3 và Chi cục Thi hành án huyện T, nhưng không trả được nợ nên đã đồng ý ủy quyền giao cho Ngân hàng xử lý thu hồi nợ, vợ chồng N2, L3 cũng ủy quyền cho bà để làm việc Cơ quan Thi hành án liên quan các thửa đất giao kê biên để trả nợ cho các chủ nợ hụi, vay theo các quyết định, bản án của Tòa án huyện T. Mặc dù thửa đất 207 bà ký hợp đồng chuyển nhượng từ vợ chồng N2, L3 nhưng thực tế do Ngân hàng đứng ra chuyển nhượng cho bà với giá 221.134.227 đồng, bà đã trả số tiền này nộp vô Ngân hàng để trả nợ vay gốc, lãi mà vợ chồng N2, L3 còn thiếu Ngân hàng, theo bà việc thỏa thuận chuyển nhượng này là hợp pháp, đúng quy định và thửa đất 207 này đã thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bà nên trong năm 2023 bà đã làm thủ tục tặng cho Lâm Thị Thúy H2 là con của bà đang sinh sống chung nhà với bà. Ngoài việc không đồng ý theo các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà không có yêu cầu gì khác.
Tại bản khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn ông Thạch Minh L3 trình bày thống nhất ý kiến trình bày của bà T3. Ngoài ra ông không có yêu cầu gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lâm Thị Thúy H2 trình bày:
Bà là con của bà Dương Thị T3, đang sinh sống chung nhà với bà T3, năm 2023 bà được bà T3 tặng cho thửa đất 207, tờ bản đồ 16, tọa lạc ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh, nhưng không có trực tiếp quản lý, sử dụng hay đầu tư xây dựng hoặc trồng cây trên thửa đất 207 này. Bởi vì, bà và bà T3 sinh sống trên thửa đất khác gần thửa 207. Bà không biết gì về việc thỏa thuận chuyển nhượng thửa đất 207 giữa vợ chồng bà N2, ông L3 với bà T3, bà cũng ý kiến và yêu cầu như bà T3 và không có yêu cầu gì khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân huyện T vắng mặt không có lời trình bày.
Tại bản tự khai, đơn đề nghị xét xử vắng mặt cùng ngày 10/4/2024 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi nhánh văn phòng đăng ký đất huyện T trình bày:
Căn cứ vào Điều 99 của Luật đất đai năm 2013, khoản 1 Điều 37 của Nghị định số: 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014; khoản 1 Điều 19 của Thông tư số: 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014; khoản 11 Điều 7 của Thông tư s: 33/2014/NĐ-CP ngày 29/9/217 và khoản 5 điều 1 của Nghị định số: 10/2023/NĐ-CP ngày 03/4/2023, thì việc Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T xác nhận thay đổi vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất 207, tờ bản đồ số 16 cho bà Dương Thị T3 ngày 19/7/2019 và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất 207, tờ bản đồ số 16 cho bà Lâm Thị Thúy H2 ngày 10/7/2023 là đúng quy định của pháp luật.
Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 16/4/2024 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi cục Thi hành án huyện T có ý kiến như sau:
Chi cục Thi hành án dân sự huyện T có tiến hành cưỡng chế thi hành án các thửa đất của bà N2, ông L3 gồm: thửa 90, diện tích 2.420m², tờ bản đồ số 2; thửa 91, diện tích 1.568m², tờ bản đồ 16 và thửa 89, diện tích 3.365m², tờ bản đồ số 2, cùng tọa lạc ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Riêng thửa 207, tờ bản đồ 16, tọa lạc ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh là tài sản của bà N2 thế chấp tại Ngân hàng N3 chi nhánh huyện T. Quá trình Chi cục Thi hành án dân sự huyện T tiến hành cưỡng chế thi hành các thửa đất của bà N2, ông L3, Chi cục thi hành án có Công văn số: 197/CV-CCTHA ngày 15/5/2019 phối hợp với Ngân hàng và được Ngân hàng phúc đáp bằng văn bản số: 154/NHNoTCa-KHKD ngày 14/6/2019 cho biết Ngân hàng đã tự thỏa thuận chuyển nhượng được với giá 221.134.227 đồng để thu hồi nợ theo hợp đồng tín dụng ngày 22/4/2016 nên Chi cục Thi hành án không có kê biên đối với thửa đất 207, tờ bản đồ 16 nêu trên.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 29/2024/DS-ST ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh đã xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, đối với thửa đất 207, tờ bản đồ 16, tọa lạc ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh giữa bà Lâm Thị Thúy N2, ông Thạch Minh L3 với bà Dương Thị T3 được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh chứng thực số 301, quyển số 01/2019 (1) – SCT/HĐ, GD ngày 08/7/2019 là vô hiệu;
Tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất, đối với thửa đất 207, tờ bản đồ 16, tọa lạc ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh giữa Dương Thị T3 với bà Lâm Thị Thúy H2 được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh chứng thực số 267, quyển số 06/2023 – SCT/HĐ, GD ngày 20/6/2023 là vô hiệu;
Đình chỉ giải quyết, xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của bà Thạch Thị Phu Phon Na R1.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của đương sự.
Ngày 06 tháng 5 năm 2024, bà Dương Thị T3 kháng cáo yêu cầu Toà án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, công nhận thửa đất 207, tờ bản đồ số 16, tọa lạc tại ấp G, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh thuộc quyền sử dụng của bà.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của các nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn bà Dương Thị T3 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm, các đương sự đã tuân thủ trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, bà T3 kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu công nhận thửa 207 cho bà trong khi thửa 207 bà T3 đã tặng cho bà H2 và bà H2 đang quản lý sử dụng nhưng bà H2 không kháng cáo. Do đó, kháng cáo của bà Dương Thị T3 là không có căn cứ chấp nhận.
Tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm tuyên hợp đồng chuyển nhượng giữa bà N2, ông L3 với bà T3 và hợp đồng tặng cho giữa bà T3 với bà H2 là vô hiệu nhưng không tuyên các bên phải khôi phục lại tình trạng ban đầu hoàn trả cho nhau những gì đã nhận là chưa đảm bảo theo Điều 131 Bộ luật dân sự cũng như sẽ gây khó khăn cho việc thi hành án, vì thửa 207 hiện nay bà H2, bà T3 đang quản lý sử dụng.
Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, hủy Bản án sơ thẩm số 29/2024/DS-ST ngày 19/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh và chuyển hồ sơ về Tòa án nhân dân huyện T để giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: vụ án tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, do đất tranh chấp và bị đơn cư trú tại huyện T, tỉnh Trà Vinh nên Toà án nhân dân huyện T giải quyết là đúng quy định tại Điều 26 và Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án: Năm 2019 ông L3, bà N2 có thiếu tiền vay, tiền hụi của các nguyên đơn và những người khác với số tiền 1.489.045.000 đồng và được giải quyết bằng các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật. Tại thời điểm đó, thửa đất số 207 ông L3, bà N2 đang thế chấp vay tiền tại Ngân hàng N3 chi nhánh huyện T. Ngày 02/01/2019 Chi cục Thi hành án dân sự huyện T có Công văn số 02/CV-CCTHADS gửi các phòng công chứng trên địa bàn tỉnh Trà Vinh, Văn phòng Đ chi nhánh huyện T, Ủy ban nhân dân xã T phối hợp giải quyết thi hành án, nội dung để tránh việc tẩu tán tài sản...khi chứng nhận các giao dịch dân sự như chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp, tặng cho...đối với tài sản là quyền sử dụng đất của ông L3, bà N2 thì thông báo cho Chi cục Thi hành án biết phối hợp thực hiện (BL 12). Ngày 15/5/2019 Chi cục thi hành án huyện T có Công văn số: 197/CV-CCTHA gửi Ngân hàng N3 chi nhánh huyện T nội dung thông báo phối hợp kê biên, xử lý tài sản đang thế chấp, khi xử lý tài sản kê biên sẽ ưu tiên thanh toán nợ cho Ngân hàng trước (BL 370). Ngày 14/6/2019 Ngân hàng có Thông báo số 154/NHNoTCa-KHKD ngày 14/6/2019 cho biết Ngân hàng đã tự thỏa thuận chuyển nhượng thửa 207 cho bà Dương Thị T3 với giá 221.134.227 đồng, Ngân hàng thông báo để Chi cục Thi hành án giải tỏa việc phong tỏa tài sản của ông L3, bà N2 (BL 13). Ngày 17/6/2019 Chi cục Thi hành án dân sự huyện T có Công văn số 253/CV-CCTHADS gửi các phòng công chứng trên địa bàn tỉnh Trà Vinh, Văn phòng Đ chi nhánh huyện T, Ủy ban nhân dân xã T nội dung Ngân hàng đã thỏa thuận chuyển nhượng thửa 207 cho bà Dương Thị T3 với giá 221.134.227 đồng để thu hồi nợ vay, Chi cục Thi hành án dân sự huyện T thông báo đến các phòng công chứng trên địa bàn tỉnh Trà Vinh, Văn phòng Đ chi nhánh huyện T, Ủy ban nhân dân xã T biết để thực hiện các quyền: chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp, tặng cho...đối với tài sản thuộc quyền sở hữu và quyền sử dụng của ông L3, bà N2 theo thẩm quyền (BL 14). Trên cơ sở đó, ngày 08/7/2019 ông Thạch Minh L3, bà Lâm Thị Thúy N2 lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 207 cho bà Dương Thị T3 (BL 241-243). Đến ngày 20/6/2023 bà Dương Thị T3 lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thửa 207 cho bà Lâm Thị Thúy H2 và bà H2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 10/7/2023 (BL 347-348, 358).
[3] Xét việc Ngân hàng N3 chi nhánh huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện T đồng ý cho ông L3, bà N2 tiến hành các thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa số 207 cho bà Dương Thị T3 không phù hợp quy định tại Điều 90 của Luật thi hành án dân sự và Điều 24 Nghị định 62 ngày 18/7/2015 của Chính phủ hướng dẫn một số điều của Luật thi hành án dân sự. Theo kết quả định giá tại thời điểm năm 2019 thửa số 207 trị giá 420.660.200 đồng (BL 175), nhưng các bên thỏa thuận giá chuyển nhượng là 221.134.227 đồng là không phù hợp với giá thị trường. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thửa 207 giữa bà Lâm Thị Thúy N2, ông Thạch Minh L3 với bà Dương Thị T3 là vô hiệu và hợp đồng tặng cho giữa bà Dương Thị T3 với bà Lâm Thị Thúy H2 vô hiệu là có căn cứ.
[4] Bà Dương Thị T3 kháng cáo bản án sơ thẩm yêu cầu công nhận thửa 207 cho bà trong khi ngày 20/6/2023 bà đã lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất thửa 207 cho bà Lâm Thị Thúy H2, sau khi án sơ thẩm xử, bà H2 không kháng cáo. Do đó, kháng cáo của bà Dương Thị T3 là không có căn cứ chấp nhận.
[5] Tòa án sơ thẩm tuyên hủy các hợp đồng là đúng, các bên không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng nên Tòa án sơ thẩm không giải quyết là đúng. Tuy nhiên việc Tòa án sơ thẩm không khôi phục tình trạng ban đầu của đất và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để làm cơ sở pháp lý cho cơ quan chức năng thực hiện các thủ tục pháp lý thi hành án đối với ông Phạm Minh L4, bà Lâm Thị Thúy N2 là chưa giải quyết toàn diện vụ án. Để đảm bảo vụ án được giải quyết triệt để cần hủy án để giải quyết lại, trường hợp này cấp sơ thẩm không có lỗi.
[6] Khi giải quyết lại vụ án, cấp sơ thẩm cần thu thập hồ sơ tại Ngân hàng liên quan việc vay vốn, thế chấp tài sản, việc thỏa thuận chuyển nhượng tài sản, ai là người nhận tiền chuyển nhượng để làm căn cứ cho việc giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu. Đồng thời cũng cần lưu ý đảm bảo quyền lợi của những người đang canh tác, sử dụng đất liên quan đến các chi phí tu bổ, cải tạo đất, sửa chữa tài sản gắn liền với đất (nếu có).
[7] Đề nghị của Kiểm sát viên xét xử phúc thẩm là phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.
[8] Về án phí dân sự: Do hủy án sơ thẩm, các đương sự không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Hủy bản án dân sự sơ thẩm số: 29/2024/DS-ST ngày 19 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh
- Giao hồ sơ vụ án cho Toà án nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
- Về án phí: Bà Dương Thị T3 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng nộp theo biên lai thu tiền số 0002899 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện T thu được hoàn trả cho bà Dương Thị T3.
Riêng nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm, được xác định lại khi giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Ái Loan |
Bản án số 207/2024/DS-PT ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Số bản án: 207/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 22/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa Nguyễn Thị Th với Lâm Thị Thúy Ng
