|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 2064/2024/DS-ST
Ngày : 24-5-2024
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Ngọc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Hương Thủy
- Ông Cao Quốc Hưng
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dung– Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Ngọc Bích – Kiểm sát viên.
Vào các ngày 22 và 24 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1690/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 10 năm 2023, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1759/2024/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 2432/2024/QĐST-DS ngày 24 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty Tài chính TNHH Một thành viên Mirae Asset (Việt Nam);
Trụ sở: Số 91, Đường Pasteur, phường Bến Nghé, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh;
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Bà Huỳnh Thị Hà Vy, sinh năm 2001; Giấy ủy quyền ngày 27/10/2023 – Có đơn đề nghị vắng mặt.
Điạ chỉ: Phòng 401, Tầng 4, Tòa nhà 793/49/1 đường Trần Xuân Soạn, phường Tân Hưng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh;
Bị đơn: Ông Võ Hoàng Thảo, sinh năm: 1997
Địa chỉ: 63/4/5 Đường số 9, Khu phố 3, phường Trường Thọ, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt không có lý do;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 22/9/2023 các văn bản trình bày ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty T1 – Bà Huỳnh Thị Hà V trình bày:
Ngày 11/02/2023, ông Võ Hoàng T và Công ty T1 (Việt Nam) (sau đây gọi tắt là Công ty T1) ký đề nghị vay vốn kiêm Hợp đồng tín dụng số: 4294385 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng tín dụng), về việc cấp tín dụng cho ông T với khoản vay trị giá 32.310.000 đồng. Trong đó tiền vay: 30.000.000 đồng, phí bảo hiểm: 2.310.000 đồng. Thời hạn cho vay: Từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến ngày 25/02/2025; Lãi suất vay hàng tháng: 4.83%/tháng (lãi suất theo năm 58.00 %/năm, một năm là 365 ngày); Ngày thanh toán: Ngày 25 dương lịch hàng tháng; Ngày thanh toán đầu tiên: 25/03/2023. Sau khi ký kết, Công ty T1 đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho ông T.
Tuy nhiên, kể từ ngày được giải ngân, ông T mới chỉ thanh toán cho Công ty được 1 kỳ với tổng số tiền đã thanh toán là 3.359.000 đồng. Ngày 20/02/2023 là ngày thanh toán cuối cùng, sau đó ông T không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết với Công ty T1.
Công ty T1 đã tiến hành liên hệ qua điện thoại đề nghị ông T thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình theo hợp đồng. Đồng thời, Công ty T1 cũng đã gửi thư đề nghị thực hiện nghĩa vụ thanh toán, để thông báo trực tiếp cho ông T biết về việc hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Tuy nhiên, ông T vẫn không có bất kỳ hành động thực tế nào thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng cho phía Công ty T1.
Việc vi phạm nghĩa vụ thanh toán của ông T đã gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty T1, do đó Công ty T1 khởi kiện yêu cầu Tòa án:
Buộc ông T phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho công ty T2 số tiền tạm tính (do nợ lãi, phí vẫn tiếp tục phát sinh) đến ngày 24/05/2024 là 56.767.973 đồng. Trong đó: số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 31.961.192 đồng; số tiền lãi trong hạn: 17.667.407 đồng. số tiền lãi quá hạn: 5.987.649 đồng; số tiền lãi chậm trả: 1.151.725 đồng.
Buộc ông T phải tiếp tục trả lãi, phí phát sinh theo mức lãi suất, phí thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 4294385 kể từ ngày 25/5/2024 cho đến ngày thực tế trả hết nợ cho Công ty T1.
Bị đơn ông Võ Hoàng T vắng mặt không rõ lý do trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án không thu thập được lời khai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:
Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã
thực hiện đúng quy định tại các Điều 239, 240, 241, 242, 247, 249, 250, 251, 252, 253, 254, 255, 256, 257, 259, 260 và Điều 263 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại số tiền đã vay theo đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4294385 lập ngày 11/02/2023, đây là tranh chấp hợp đồng tín dụng, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố T, do đó căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự:
Bị đơn ông Võ Hoàng T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, triệu tập đến Tòa án tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, tuy nhiên ông T vắng mặt không rõ lý do. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Công ty T1 – Bà Huỳnh Thị Hà V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T, bà V theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.3] Về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án và giải quyết khiếu nại nếu có:
Ngày 26/12/2023, Tòa án tiến hành phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Tuy nhiên, phía bị đơn vắng mặt không lý do. Mặt khác, phía nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải. Do đó, căn cứ khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hoà giải được. Đương sự khởi kiện có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp, đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó và chịu trách nhiệm về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của mình theo quy định tại Điều 6, Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đương sự đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để tham gia quá trình giải quyết vụ án và cung cấp các chứng cứ, tài liệu liên quan nhưng vắng mặt, phải chịu trách nhiệm
vì sự vắng mặt của mình. Do đó, Tòa án căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xem xét giải quyết theo quy định.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Công ty T1 (VIỆT NAM):
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ. Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ Giấy phép số 73/GP-NHNN ngày 12/11/2021 của Ngân hàng N thì Công ty T1 (Việt Nam) được thực hiện các hoạt động của Công ty tài chính tín dụng tiêu dùng theo quy định của pháp luật và của Ngân hàng N, trong đó Công ty được cấp tín dụng dưới hình thức cho vay bao gồm cho vay trả góp, cho vay tiêu dùng và phát hành thẻ tín dụng...
Ngày 15/02/2023, ông Võ Hoàng T đã ký với Công ty T1 đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4294385 lập ngày 11/02/2023, với nội dung: Công ty T1 đồng ý cho ông T vay số tiền 31.980.000 đồng; Trong đó tiền vay: 30.000.000 đồng, phí bảo hiểm: 2.310.000 đồng. Mục đích vay: Vay tiêu dùng. Thời hạn cho vay: Từ ngày tiếp theo ngày giải ngân đến ngày 25/02/2025; Lãi suất vay hàng tháng: 4.83%/tháng (lãi suất theo năm 58.00 %/năm, một năm là 365 ngày); Ngày thanh toán: Ngày 25 dương lịch hàng tháng; Ngày thanh toán đầu tiên: 25/03/2023. Như vậy, tại thời điểm ký kết đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4294385 lập ngày 11/02/2023, các bên tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện, nội dung và mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại Điều 117; Điều 118; Điều 119 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Do đó, Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng có giá trị pháp lý ràng buộc giữa các bên.
Công ty T1 đã giải ngân số tiền 30.000.000 đồng theo Phiếu báo nợ ngày 15/02/2023 vào tài khoản số [...] của ông T mở tại Ngân hàng V1 (V2), đồng thời chuyển toàn bộ số tiền bảo hiểm 2.310.000 đồng cho Công ty TNHH B (M) (Hợp đồng bảo hiểm số 9628194). Theo bảng tính lãi do nguyên đơn cung cấp, quá trình thực hiện hợp đồng, ông T đã thanh toán cho Công ty T1 số tiền 3.359.000 đồng. Trong đó: Tiền gốc đã trả: 348.808 đồng, tiền lãi đã trả: 3.010.192 đồng. Số tiền nợ gốc còn lại chưa thanh toán là 31.961.192 đồng.
Kể từ ngày 21/02/2023 đến nay ông T không thanh toán thêm bất cứ khoản tiền nào cho Công ty T1.
Tòa án đã tiến hành đã tiến hành thủ tục tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng về việc khởi kiện của Công ty T1 với ông T, thông báo về việc công khai chứng cứ và hòa giải và việc triệu tập của Tòa án đến tham dự các phiên họp, phiên tòa nhưng ông T vẫn vắng mặt không rõ ký do và không có văn bản phản đối, do đó theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 không thuộc trường hợp phải chứng minh. Ông T phải chịu tránh nhiệm đối với yêu cầu khởi kiện và những tài liệu chứng cứ mà Công ty T1 đưa ra. Việc ông T không thanh toán đầy đủ khoản vay đã vi phạm thỏa
thuận giữa các bên tại Điều 8 Hợp đồng tín dụng; Điều 7 và Điều 11 bản điều khoản và điều kiện cho vay, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty T1. Do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu của Mirae A buộc ông T phải trả cho Mirae A số tiền nợ gốc là 31.961.192 đồng.
[2.2] Đối với yêu cầu buộc ông T trả số tiền lãi tạm tính đến ngày 24/5/2024 là 24.806.781 đồng, trong đó tiền lãi trong hạn: 17.667.407 đồng; tiền lãi quá hạn: 5.987.649 đồng và số tiền lãi chậm trả: 1.151.725 đồng.
Khoản 3.7 và 3.8 Điều 3 Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng được các bên thỏa thuận mức lãi suất vay như sau:
“Lãi suất vay hàng tháng: Lãi suất vay hàng tháng: 4.83%/tháng; Lãi suất theo năm 58.00%/năm, (một năm là 365 ngày)”.
Do ông T vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Công ty T1 đã chuyển toàn bộ dư nợ còn lại sang nợ quá hạn theo mức lãi suất quy định tại khoản 8.3 Điều 8 Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng.
Xét, mức lãi suất đã được các bên tự nguyện thỏa thuận, phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 13, khoản 5 Điều 14, Điều 21 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N, do đó có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông T phải trả cho Công ty T1 số tiền lãi tạm tính đến ngày 24/5/2024 là: 24.806.781 đồng, trong đó tiền lãi trong hạn: 17.667.407 đồng; tiền lãi quá hạn: 5.987.649 đồng và số tiền lãi chậm trả: 1.151.725 đồng.
[2.3] Kể từ ngày 25/5/2024 cho đến khi thi hành án xong, ông T còn phải còn phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền nợ chưa thi hành theo mức lãi suất được quy định tại Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4294385 lập ngày 11/02/2023.
[3] Đối với nội dung phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa về giải quyết vụ án là phù hợp với tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, nên được chấp nhận.
[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định;
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5, Điều 6, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, Điều 147, khoản 4 Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 3, Điều 116, Điều 117, Điều 118, Điều 119 Điều 274, Điều 275, Điều 276, Điều 278, Điều 280, Điều 282, Điều 357, Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ Điều 13, Điều 20, Điều 21, Điều 23, Điều 32a, Điều 32c, Điều 32e Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2018;
Căn cứ khoản 1 Điều 7, Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Công ty T1 (Việt Nam):
Buộc bị đơn ông Võ Hoàng T phải thanh toán cho Công ty T1 (Việt Nam) tổng số tiền còn nợ đối với Đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4294385 lập ngày 11/02/2023, tạm tính tới ngày 24/05/2024 là 56.767.973 đồng. Trong đó: số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 31.961.192 đồng; số tiền lãi trong hạn: 17.667.407 đồng. số tiền lãi quá hạn: 5.987.649 đồng; số tiền lãi chậm trả: 1.151.725 đồng.
Thanh toán một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 25/5/2024, cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, bị đơn ông Võ Hoàng T còn phải chịu khoản tiền lãi trên số tiền và thời gian chậm thi hành theo mức lãi suất được quy định tại đề nghị vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 4294385 lập ngày 11/02/2023.
Các bên thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn ông Võ Hoàng T phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 2.838.399 đồng (Hai triệu tám trăm ba mươi tám ngàn ba trăm chín mươi chín đồng). Ông T chưa nộp án phí.
Hoàn trả lại cho nguyên đơn Công ty T1 (Việt Nam) số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 988.830 đồng (Chín trăm tám mươi tám ngàn tám trăm ba mươi đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0006102 ngày 26/10/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức.
4. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện
thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Anh Ngọc |
Bản án số 2064/2024/DS-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 2064/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
