Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẢNG BOM

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 206/2024/HS-ST

Ngày 31-7-2024

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

----------

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Hữu Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Tạ Văn Đài

Ông Nguyễn Đình Quang

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Lê Quỳnh Anh- Thư ký Toà án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom- tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Phạm Ngọc Lương- Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 76/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoản phiên tòa số 39/2024/HSST-QĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên Tòa số 09/TB-TA ngày 31 tháng 5 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên Tòa số 10/TB-TA ngày 05 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Phạm Xuân Đ, sinh ngày 14 tháng 8 năm 1993 tại tỉnh Hải Dương. Nơi đăng ký thường trú: Khu dân cư C, phường B, thành phố C, tỉnh Hải Dương. Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Chí N, sinh năm 1970 (đã chết) và bà Dương Thị H, sinh năm 1972 (đã chết); Vợ, con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 36/2014/HSST ngày 25/6/2014 của Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dương xử phạt 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và 15 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt là 22 tháng tù (chấp hành xong bản án ngày 28/01/2016).
  • + Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HSST ngày 06/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, (bị cáo đang chấp hành).

Bị cáo đang chấp hành hình phạt theo bản án sự sơ thẩm số 15/2024/HSST ngày 06/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh tại Trại giam T2- Cục C- Bộ C1 (Có mặt).

Bị hại: Ông Nguyễn Danh H1, sinh năm 1998. Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Xuân Đ và anh Nguyễn Danh H1 có mối quan hệ là bạn bè, quen biết nhau ngoài xã hội. Vào khoảng tháng 7/2020, Đ mượn của anh H1 4.000.000 đồng và đã trả được 2.000.000 đồng, còn nợ lại 2.000.000 đồng. Do không có tiền tiêu xài nên Đ nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh H1. Khoảng 17 giờ ngày 26/4/2021, Đ nhờ cháu Nguyễn Trần Thanh P, dùng xe đạp điện chở đến quán L1 thuộc khu phố C, thị trấn T, huyện T, Đ nói cháu P vào gọi món rồi mượn xe đạp điện của cháu P đi đến nơi làm việc của anh H1 ở khu phố D, thị trấn T, mời anh H1 đến quán Lẩu trâu để nhậu và nói dối sẽ trả số tiền mà Đ nợ cho anh H1. Do tin tưởng nên anh H1 đã điều khiển xe mô tô biển số 36P2-7301 đi với Đ đến quán Lẩu trâu ăn nhậu cùng với Đ và cháu P. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, mặc dù tài khoản của Đ không có tiền nhưng Đ giả vờ lấy lý do đi rút tiền về trả cho anh H1 để mượn xe mô tô biển số 36P2-7301 của anh H1 nhằm chiếm đoạt chiếc xe mô tô này. Tuy nhiên, anh H1 không đồng ý cho Đ mượn xe mà chỉ đồng ý chở Đ đi rút tiền. Để anh H1 không nghi ngờ, Đ đã nói anh H1 chở đến 4 cây ATM để rút tiền nhưng không rút được vì tài khoản không có tiền. Sau đó Đ giả vờ nói anh H1 chở Đ đến nhà anh N1 ở xã S để mượn tiền, trên đường đi Đ rủ anh H1 vào quán cà phê ở ấp B, xã S để uống nước. Lợi dụng lúc anh H1 đi vệ sinh để chìa khóa xe mô tô ở trên bàn, Đ hỏi mượn xe mô tô của anh H1 rồi lấy chìa khóa xe và điều khiển xe đi, sau đó chạy đi tìm nơi bán xe nhưng chưa bán được nên Đ điều khiển xe mô tô về quán nước của ông Nguyễn T (ông nội của cháu P ở xã G) để uống nước, ông T nghi ngờ Đ lấy trộm xe mô tô của người khác nên giữ lại và trình báo Công an xã G. Khi Công an xã G đến làm việc thì Đ thừa nhận hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của mình như trên. Ngoài ra, Đ còn khai nhận vào ngày 12/4/2021 tại ấp Q, xã Q, huyện T đã mượn xe mô tô biển số 60N9-4381 của chị Mai Thị Mỹ D, sinh năm 1985, HKTT: tổ G, ấp A, xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai sử dụng làm phương tiện để đi làm, sau đó do cần tiền tiêu xài nên Đ đã tự ý bán xe mô tô 60N9-4381 cho ông Lê Văn B, sinh năm 1973, HKTT: ấp Đ, xã G, huyện T được 500.000 đồng rồi bỏ trốn (bút lục số 96-114; 139-157).

Công an xã G đã lập hồ sơ ban đầu, cùng vật chứng là các xe mô tô biển số 36P2-7301 và xe mô tô biến số 60N9-4381 mà Đ đã chiếm đoạt của anh H1 và chị D. Sau đó bàn giao hồ sơ, vật chứng cho Cơ quan CSĐT Công an huyện T để điều tra, xác minh theo thẩm quyền.

Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã yêu cầu Hội đồng Định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T định giá các tài sản mà Phạm Xuân Đ đã chiếm đoạt. Ngày 26/8/2021 Hội đồng Định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T kết luận: “Xe mô tô biển số: 36P2-7301 trị giá 4.500.000 đồng và xe mô tô biển số 60N9-4381 trị giá 1.000.000 đồng” (bút lục số 76).

Ngày 09/12/2022 Cơ quan CSĐT Công an huyện T ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và Lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Phạm Xuân Đ để điều tra về tội: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự, tuy nhiên, Phạm Xuân Đ đã bỏ trốn khỏi địa phương. Ngày 09/4/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra truy nã số 08/QĐ-ĐTTH đối với Phạm Xuân Đ.

Ngày 09/10/2023, Phạm Xuân Đ đã đến Công an phường B, TP ., tỉnh Hải Dương đầu thú.

Ngày 11/11/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án hình sự số 18/QĐ-ĐTTH, Phục hồi điều tra bị can số 25/QĐ-ĐTTH, Quyết định đình nã số 26/QĐĐN-ĐTTH đối với Phạm Xuân Đ.

Quá trình điều tra, Phạm Xuân Đ đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như trên. Ngoài ra, trong quá trình điều tra, Đ còn khai nhận vào thời gian đầu tháng 03 và đầu tháng 4 năm 2021, Đ còn chiếm đoạt 02 xe mô tô (không rõ biển số) của người tên M và người tên L (không rõ nhân thân, lai lịch) để bán được số tiền là 6.000.000 đồng.

Tại phiên Tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tôi như nội dung cáo trạng truy tố là đúng sự thật. Bị cáo trình bày, do không có tiền tiêu xài nên nãy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của anh H1 bằng cách rủ anh H1 đi ăn nhậu rồi nói dối để mượn tài sản là xe mô tô rồi mang đi bán. Cụ thể, Mặc dù tài khoản của Đ không có tiền nhưng Đ giả vờ lấy lý do đi rút tiền về trả cho anh H1 để mượn xe mô tô biển số 36P2-7301 của anh H1. Tuy nhiên, anh H1 không đồng ý cho Đ mượn xe mà chỉ đồng ý chở Đ đi rút tiền. Để anh H1 không nghi ngờ, Đ đã nói anh H1 chở đến 4 cây ATM để rút tiền nhưng không rút được vì tài khoản không có tiền. Sau đó Đ giả vờ nói anh H1 chở Đ đến nhà anh N1 ở xã S để mượn tiền, trên đường đi Đ rủ anh H1 vào quán cà phê ở ấp B, xã S để uống nước. Lợi dụng lúc anh H1 đi vệ sinh để chìa khóa xe mô tô ở trên bàn, Đ hỏi mượn xe mô tô của anh H1 rồi lấy chìa khóa xe và điều khiển xe đi, sau đó chạy đi tìm nơi bán xe nhưng chưa bán được thì bị phát hiện xử lý như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 75/CT-VKS-TB, ngày 23 tháng 02 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố bị cáo Phạm Xuân Đ về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo từ 07 tháng đến 10 tháng tù. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng: Đối với Xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu sơn đen, biển số 36P2-7301, số máy HC12E1244869, số khung HC12129Y044828 đứng tên chứng nhận đăng ký là anh Nguyễn Quang T1, sinh năm 1997, HKTT: thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, có nguồn gốc hợp pháp. Vào ngày 26/4/2021, anh T1 cho anh Nguyễn Danh H1 mượn sau đó bị Phạm Xuân Đ chiếm đoạt. Cơ quan CSĐT đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Quang T1. Đối với xe mô tô nhãn hiệu YMY, màu sơn hồng, biển số 60N9-4381, số máy 231736, số khung 71002336, Cơ quan CSĐT đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu là chị Mai Thị Mỹ D (bút lục số 207)

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Danh H1 không yêu cầu bị cáo bồi thường về về dân sự.

Đối với hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt xe mô tô biển số 60N9-4381 (trị giá 1.000.000 đồng) của chị Mai Thị Mỹ D vào ngày 12/4/2021, do trị giá tài sản bị chiếm đoạt chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 102/QĐ-XPVPHC-ĐTTH ngày 09/4/2023 đối với Phạm Xuân Đ về hành vi: “Dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 15 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực An ninh, Trật tự, an toàn xã hội; Phòng, chống tệ nạn xã hội; Phòng cháy, chữa cháy; Cứu nạn, cứu hộ; Phòng, chống bạo lực gia đình (bút lục số 208).

Đối với hành vi của Phạm Xuân Đ đã chiếm đoạt 02 xe mô tô (không rõ biển số) của người tên M và người tên L (không rõ nhân thân, lai lịch) bán được số tiền là 6.000.000 đồng, Cơ quan CSĐT Công an huyện T tiếp tục điều tra xác minh làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật sau.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Qua xem xét lời khai của bị cáo Phạm Xuân Đ đã khai nhận thể hiện trong hồ sơ vụ án, cũng như lời khai của bị cáo tại phiên Tòa thống nhất với hành vi phạm tội theo như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai người làm chứng, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua đó, đã có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 26/04/2021 tại quán cà phê không tên ở ấp B, xã S, huyện T, tỉnh Đồng Nai, do nãy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Danh H1, Phạm Xuân Đ đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt của anh Nguyễn Danh H1 là 01 xe mô tô biển số: 36P2-7301, có trị giá 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng).

[2.2] Hành vi nêu trên của Phạm Xuân Đ là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ và đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 điều 174 Bộ luật hình sự 2015.

[2.3] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo thì thấy: Bị cáo là người có nhân thân xấu vì đã bị Tòa án kết án 02 lần vào năm 2014. Tuy nhiên, trong giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thể hiện sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[2.4] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Danh H1 không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự; Vật chứng đã được giải quyết xong. Nên HĐXX không phải đặt ra xem xét, giải quyết.

[3] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Về tổng hợp hình phạt: Do bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HSST ngày 06/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” đã có hiệu lực pháp luật nên cần áp dụng điều 55, điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp với hình phạt chung cho bị cáo.

Quan điểm đề nghị về tội danh truy tố đối với bị cáo của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 56 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017): Tuyên bố bị cáo Phạm Xuân Đ phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Phạm Xuân Đ 07 (bảy) tháng tù. Tổng hợp hình phạt của tội này với hình phạt 02 (hai) năm tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HS-ST ngày 06/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh: Buộc bị cáo Phạm Xuân Đ phải chấp hành hình phạt chung là 02 (hai) năm 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/10/2023.

[2] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phạm Xuân Đ phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

[3] Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - VKSND huyện Trảng Bom;
  • - Công an huyện Trảng Bom;
  • - Chi cục THADS huyện Trảng Bom;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Lê Hữu Phúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 206/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 206/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Xuân Đức về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger