TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PH TỈNH HẬU GIANG Bản án số: 206/2024/HNGĐ-ST Ngày: 11 - 12 - 2024 V/v “Tranh chấp ly hôn” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PH-TỈNH HẬU GIANG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Liêm.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Dương;
2. Ông Nguyễn Văn Chiến.
-Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Yến Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện PH, tỉnh Hậu Giang.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PH, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện PH, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 607/2024/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 203/2024/QĐXXST-HN, ngày 28 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Phạm Thị Kim K, sinh năm 1985.
Địa chỉ: ấp X, xã B, huyện PH, tỉnh Hậu Giang.
2. Bị đơn: Bùi Minh N, sinh năm 1986.
Địa chỉ: ấp X, xã B, huyện PH, tỉnh Hậu Giang.
Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết, nguyên đơn Phạm Thị Kim K (Sau đây gọi chị K) trình bày:
Giữa chị và bị đơn Bùi Minh N (Sau đây gọi anh N) qua tìm hiểu nhau mà tự nguyện quyết định đi đến hôn nhân vào năm 2011, có đăng ký kết hôn. Vợ chồng chung sống phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do chồng chị hay nhậu nhẹt về thì chửi bới những lời thô tục với vợ con và nặng lời với gia đình bên vợ, từ đó vợ chồng hay cãi vã nhau, đã nhiều lần chồng chị hứa sửa chữa nhưng
không thay đổi được gì, vợ chồng không ai quan tâm đến ai, nhiều lần hòa giải hàn gắn tình cảm nhưng vẫn không đoàn tụ được, vợ chồng đã sống ly thân. Do cuộc sống chung không hạnh phúc, chị K khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- - Về hôn nhân: Xin ly hôn với anh N.
- - Về con chung: Có hai người con chung tên Bùi Minh V (Nam), sinh ngày 19 tháng 9 năm 2011 và Bùi Minh P (Nam), sinh ngày 29 tháng 8 năm 2015. Từ khi ly thân đến nay thì các con chung do chị nuôi dưỡng. Khi ly hôn chị yêu cầu được nuôi cả hai người con chung, chưa yêu cầu chồng chị cấp dưỡng.
- - Về nợ và tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Quá trình tố tụng bị đơn Bùi Minh N có lời trình bày: Thừa nhận lời trình bày của nguyên đơn về quan hệ hôn nhân, thời gian ly thân, con chung. Về nguyên nhân mẫu thuẫn thừa nhận anh có nhậu, về nóng nảy nên có lời lẻ cọc cằn với vợ con, nhưng lâu lâu mới có lời lẻ cọc cằn một lần chớ không thường xuyên. Anh thì sống bên đất nhà vợ, sở dĩ anh có những lời lẻ không tốt đẹp đối với bên vợ là do bên vợ có lời lẽ xúc phạm anh. Tuy vậy nhưng do còn thương vợ con nên anh chưa đồng ý ly hôn.
Giả sử phải ly hôn, con chung đồng ý cho vợ nuôi dưỡng. Khi anh làm có tiền thì cho tiếp để vợ anh nuôi con chớ không ràng buộc nghĩa vụ cấp dưỡng.
Về nợ và tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết.
Tại các bản tự khai ngày 09 tháng 10 năm 2024 các cháu Bùi Minh V và Bùi Minh P trình bày (Có sự chứng kiến của chị K và anh N): Khi cha mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng được sống với mẹ.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu: Về thủ tục tố tụng: Tòa án, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tuân thủ đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của nguyên đơn; giao con chung cho nguyên đơn nuôi dưỡng. Bị đơn chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Về nợ và tài sản chung, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Tranh chấp giữa các đương sự là Tranh chấp ly hôn được qui định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự
nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện PH, tỉnh Hậu Giang.
[2] Về thủ tục tố tụng: Chị Phạm Thị Kim K có đơn xin xét xử vắng mặt căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử mở phiên tòa xét xử vắng mặt đối với đương sự này.
[3] Xét về quan hệ hôn nhân: Chị K và anh N qua tìm hiểu nhau, tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn ngày ngày 23 tháng 8 năm 2011 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện PH, tỉnh Hậu Giang nên hôn nhân của anh, chị là hợp pháp và được pháp luật thừa nhận.
[4] Xét yêu cầu xin ly hôn của chị K: Chị và anh N trong thời gian chung sống có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống mà không có giải pháp khắc phục để hoà giải hàn gắn tình cảm mà đã chọn cách sống ly thân; xét thời gian ly thân thì không ai quan tâm, lo lắng cho ai. Trong quá trình giải quyết, Tòa án tạo điều kiện để hòa giải đoàn tụ. Anh N đưa ra giải pháp đoàn tụ để vợ chồng tiếp tục chung sống nhưng không được chị K đồng ý. Trong khi đó, chị K xác định là anh N khi nóng tính lên là có lời lẽ xúc phạm chị và gia đình bên chị, đã nhiều lần hứa thay đổi nhưng không thay đổi được gì và chị K cương quyết xin ly hôn. Từ đó thấy rằng hôn nhân giữa hai người đã thật sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân gia đình, có cơ sở chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Phạm Thị Kim K.
[5] Về con chung: Có hai người con chung, anh chị không tranh chấp về quyền nuôi con. Xét hai người con chung đều do chị K nuôi dưỡng khi hai người ly thân. Chị K có yêu cầu nuôi cả hai người con chung, yêu cầu này là phù hợp với nguyện vọng của cả hai cháu V và P. Nhằm tránh gây xáo trộn đời sống của các cháu, cần tiếp tục giao cả hai người con chung cho chị K được tiếp tục nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc khi chị K, anh N có yêu cầu khác.
[6] Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị K chưa yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho chị anh N mà không ai có quyền cản trở.
[7] Về nợ và tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[8] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải nộp theo quy định pháp luật.
Lời đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là có căn cứ chấp nhận;
Các đương sự được quyền kháng cáo theo luật định;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228 Bộ Luật Tố tụng dân sự. Các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30.12.2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Kim K và anh Bùi Minh N.
2. Về nuôi con chung: Giao các cháu Bùi Minh V (Nam), sinh ngày 19 tháng 9 năm 2011 và Bùi Minh P (Nam), sinh ngày 29 tháng 8 năm 2015 cho Chị Phạm Thị Kim K được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc khi chị K, anh N có yêu cầu khác.
Bùi Minh N chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho Bùi Minh N mà không ai có quyền cản trở.
3. Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, không xem xét.
4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Phạm Thị Kim K phải nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ từ 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007194, ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện PH, tỉnh Hậu Giang thành án phí, không phải nộp thêm.
Trường hợp quyết định này được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự có mặt được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Liêm |
Bản án số 206/2024/HNGĐ-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PH, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 206/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PH, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Thị Kim K và anh Bùi Minh N. Về nuôi con chung: Giao các cháu Bùi Minh V (Nam), sinh ngày 19 tháng 9 năm 2011 và Bùi Minh P (Nam), sinh ngày 29 tháng 8 năm 2015 cho Chị Phạm Thị Kim K được trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc khi chị K, anh N có yêu cầu khác. Bùi Minh N chưa phải cấp dưỡng nuôi con. Dành quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung cho Bùi Minh N mà không ai có quyền cản trở. 3. Về tài sản và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, không xem xét
