Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 206/2024/DS - PT

Ngày: 22 - 11 - 2024

V/v Tranh chấp hợp đồng vay và

hợp đồng mua bán

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Văn Hùng

Các Thẩm phán: Ông Lê Thành Trung

Ông Phạm Văn Long

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Xuân Hải Yến - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 225/2024/TLPT-DS ngày 17 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay và hợp đồng mua bán”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 29/2024/DS-ST ngày 29 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 131/2024/QĐ - PT ngày 24 tháng 10 năm 2024 và Thông báo dời phiên tòa số: 320/TB –TA ngày 28 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Trầm Quốc T, sinh năm 1969 (có mặt)

Địa chỉ: ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

- Bị đơn:

  1. Anh Kim Minh T1, sinh năm 1985 (có mặt)
  2. Chị Kim Thị Lệ T2, sinh năm 1985 (có mặt)

Cùng địa chỉ: ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn chị Kim Thị Lệ T2: Luật sư Nguyễn Thanh H - Văn phòng L, thuộc Đoàn luật sư tỉnh T. (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Trần Thị Kim T3, sinh năm 1970 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

Người đại hợp pháp của chị T3: Anh Trầm Quốc T, sinh năm 1969.

Địa chỉ: ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Theo văn bản ủy quyền ngày 15/9/2023.

- Người kháng cáo: Chị Kim Thị Lệ T2 là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cấp sơ thẩm anh Trầm Quốc T trình bày:

Từ năm 2019 đến năm 2020, anh cho anh Kim Minh T1, chị Kim Thị Lệ T2 vay tiền 06 lần, cụ thể các lần như sau:

Lần 1 ngày 17/10/2019 vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất 1,66%/tháng, thời hạn vay là 10 tháng, mục đích vay làm vốn làm ăn.

Lần 2 cùng ngày 17/10/2019 vay thêm số tiền 40.000.000 đồng, lãi suất 1,66%/tháng, thời hạn vay là 10 tháng, mục đích vay làm vốn làm ăn.

Lần 3 ngày 17/01/2020 vay số tiền 30.000.000 đồng, lãi suất 1,66%/tháng, thời hạn vay là 8 tháng, mục đích vay làm vốn làm ăn.

Lần 4 ngày 14/02/2020 vay số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất 1,66%/tháng, thời hạn vay là 8 tháng, mục đích vay làm vốn làm ăn.

Lần 5 cùng ngày 14/02/2020 vay số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất 1,66%/tháng, thời hạn vay là 8 tháng, mục đích vay làm vốn làm ăn.

Lần 6 ngày 25/02/2020 vay số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất 1,66%/tháng, thời hạn vay là 8 tháng, mục đích vay làm vốn làm ăn.

Các khoản vay lần 1 và lần 2 thì anh T1 đóng lãi cho anh được đến ngày 17/01/2020, thì ngưng đóng lãi và không trả vốn. Các khoản vay lần 3, 4, 5, 6 thì

anh T1 và chị T2 không có đóng lãi và chưa trả vốn. Tất cả các khoản vay trên có làm biên nhận và anh T1 có ký tên vào giấy nhận nợ.

Đồng thời vào ngày 24/3/2020, anh T1, chị T2 có mua vật tư xây dựng của anh tổng số tiền là 20.000.000 đồng, việc mua bán có ghi vào sổ theo dõi. Số tiền này anh T1 và chị T2 chưa trả.

Nay anh T yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh T1 và chị T2 có nghĩa vụ trả cho anh của 6 lần vay số tiền vốn là 140.000.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 25/10/2020 đến ngày 25/7/2023 trên số tiền vốn 120.000.000 đồng, với lãi suất 10%/năm. Đối với số tiền 20.000.000 đồng vay lần thứ 6 thì không yêu cầu tính lãi. Đối với số tiền 20.000.000 đồng tiền mua vật liệu xây dựng thì xin rút lại và lãi suất vượt 10%/năm xin rút lại.

Bị đơn anh Kim Minh T1 trình bày:

Anh thừa nhận từ năm 2019 đến năm 2020 có vay tiền của anh Trầm Quốc T như anh T đã khai là tổng cộng 6 lần với số tiền 140.000.000 đồng, mỗi lần vay tiền vợ anh đều biết. Mục đích vay tiền là mua thức ăn cho cá, vì thời điểm này vợ chồng anh đang nuôi cá thác lác. Anh thừa nhận số tiền 20.000.000 đồng vay lần thứ 6 vợ anh đã đưa anh trả cho anh T nhưng anh không có trả, vì số tiền này anh đã trả tiền mua tập hoá xong. Nay anh đồng ý trả nợ và yêu cầu vợ anh là chị Lệ T2 cũng có nghĩa vụ trả nợ cho anh T số tiền vốn là 140.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh. Đối với tiền mua vật liệu xây dựng anh T xin rút lại anh thống nhất không có ý kiến.

Bị đơn chị Kim Thị Lệ T2 trình bày:

Việc anh T1 vay tiền và mua vật tư xây dựng, chưa thanh toán và trả tiền của anh Trầm Quốc T thì chị không biết. Chị chỉ biết lần vay thứ 6, không nhớ ngày tháng năm, do có người thân trong gia đình chết nên chị có điện thoại cho anh T để cho anh T1 vay số tiền 20.000.000 đồng và số tiền này chị đã đưa cho anh T1 trả anh T xong. Anh T1 khai chưa trả số tiền 20.000.000 đồng thì có trách nhiệm trả cho anh T. Nay chị không đồng ý trả tiền trên cho anh Trầm Quốc T.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 29/2024/DS-ST ngày 29 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú đã quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trầm Quốc T.

Buộc anh Kim Minh T1 có nghĩa vụ trả cho anh Trầm Q T số tiền vốn là 80.000.000 đồng và tiền lãi là 16.499.340 đồng.

Buộc chị Kim Thị Lệ T2 có nghĩa vụ trả cho anh Trầm Q T số tiền vốn là 60.000.000 đồng và tiền lãi là 16.499.340 đồng.

  1. Đình chỉ đối với số tiền 20.000.000 đồng tiền mua vật liệu xây dựng và tiền lãi suất vượt 10%/năm.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, nghĩa vụ chậm thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 10 tháng 7 năm 2024, bị đơn chị Kim Thị Lệ T2 kháng cáo bản án sơ thẩm, không đồng ý trả số tiền 60.000.000 đồng và tiền lãi 16.434.000 đồng cho anh T.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, nguyên đơn anh Trầm Quốc T không rút yêu cầu khởi kiện, bị đơn chị Kim Thị Lệ T2 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Nguyên đơn anh Trầm Quốc T cho rằng do có sự nhầm lẫn trong quá trình làm đơn khởi kiện nên đơn khởi kiện ghi không chính xác các lần anh cho anh T1 vay; việc anh cho vay các lần và số tiền chính xác cụ thể như sau: Vào ngày 13/6/2019 anh cho anh T1 vay số tiền 10.000.000 đồng, đến ngày 17/10/2019 anh T1 vay thêm số tiền 40.000.000 đồng, cộng với số tiền 10.000.000 đồng anh T1 vay ngày 13/6/20219 nên ngày 17/10/2019 ghi số tiền vay tổng cộng là 50.000.000 đồng; đến ngày 17/01/2020 anh T1 vay thêm 30.000.000 đồng; đến ngày 14/02/2020 anh T1 vay thêm 20.000.000 đồng; ngày 25/02/2020 anh T1 vay thêm 20.000.000 đồng; ngày 24/3/2020 anh T1 vay thêm 20.000.000 đồng, lần vay này chị T2 có điện thoại cho anh kêu đưa tiền cho anh T1; ngoài ra anh T1, chị T2 còn mua vật liệu xây dựng của anh nợ số tiền 20.000.000 đồng nhưng số tiền này anh đã rút lại yêu cầu khởi kiện.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn chị Kim Thị Lệ T2 cho rằng: Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn anh T thay đổi lời khai về thời gian và các lần cho vay, việc này chưa được trình bày ở cấp sơ thẩm nên phía bị đơn chị T2 không biết về tình tiết này. Đối với số tiền nợ 140.000.000 đồng là do anh T1

vay, anh T1 là người ký nhận nợ, chị T2 không biết việc anh T1 vay số tiền này nên chị T2 không có trách nhiệm cùng với anh T1 trả số tiền vay này. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị T2.

Ý kiến của vị Kiểm sát viên:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án, vị Kiểm sát viên cho rằng: So với đơn khởi kiện và lời trình bày của anh T tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay có sự khác nhau về thời gian và các lần cho vay nhưng về số tiền anh T1 vay của anh T không thay đổi, tổng cộng vẫn là 140.000.000 đồng. Tại phiên tòa hôm nay, chị T2 cũng thừa nhận lần vay cuối cùng ngày 24/3/2020 chị có điện thoại cho anh T hỏi vay 20.000.000 đồng. Về số tiền nợ vay 140.000.000 đồng, anh T1 cho rằng vay số tiền này là để mua thức ăn cho cá, chị T2 cũng thừa nhận giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2020 thì vợ chồng chị có nuôi cá thác lác, vợ chồng vẫn sống chung với nhau, cho nên đây là nợ chung của anh T1, chị T2. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của chị T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Xét về số tiền anh Kim Minh T1 vay của anh Trầm Quốc T: Tại phiên toà hôm nay, anh T xác định lại thời gian và các lần cho vay có sự thay đổi so với đơn khởi kiện nhưng tổng số tiền anh T cho anh T1 vay so với yêu cầu khởi kiện không thay đổi vẫn là 140.000.0000 đồng; anh T1 cũng thừa nhận là có vay của anh T số tiền 140.000.000 đồng. Thời gian, số tiền và các lần cho vay mà anh T khai tại phiên tòa hôm nay phù hợp với giấy nhận nợ của anh T1 mà anh T cung cấp cho Tòa án (BL 03). Do đó, có đủ cơ sở khẳng định số tiền anh T1 vay của anh T là 140.000.000 đồng.

[2] Theo Điều 27, 30, 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Vợ chồng có trách nhiệm liên đới đối với các giao dịch do vợ hoặc chồng

thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình. Việc anh T1 vay số tiền 140.000.000 đồng của anh T để mua thức ăn cho cá là nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu, sản xuất của gia đình. Tại phiên tòa hôm nay, chị T2 cũng thừa nhận, thời gian từ năm 2019 đến năm 2022 thì chị T2 và anh T1 vẫn sống chúng, giai đoạn từ năm 2019 – 2020 thì vợ chồng chị có nuôi cá thác lác. Như vậy, tại thời điểm anh T1 vay số tiền này của anh T thì giữa chị T2 với anh T1 là vợ chồng, cùng sống chung tạo lập kinh tế gia đình nên chị T2 phải có trách nhiệm cùng với anh T trả số tiền nợ vay này cho anh T.

[3] Số tiền 140.000.000 đồng nợ anh T là trách nhiệm liên đới của chị T2, anh T1 nhưng Tòa án cấp sơ thẩm buộc anh T1 có nghĩa vụ trả cho anh T 80.000.000 đồng, chị T2 có nghĩa vụ trả cho anh T số tiền 60.000.000 đồng là chưa đảm bảo quyền lợi cho anh T. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm anh T không kháng cáo, xem như anh T đã chấp nhận với quyết định của án sơ thẩm nên Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét.

[4] Từ những chứng cứ và phần tích trên [1], [2], [3], Hội đồng xét xử xét thấy kháng cáo của chị Kim Thị Lệ T2 là không có cơ sở chấp nhận.

[5] Xét ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn chị Kim Thị Lệ T2, như nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy không có cơ sở chấp nhận.

[6] Xét ý kiến của vị Kiểm sát viên, như nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận.

[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Chị Kim Thị Lệ T2 phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn chị Kim Thị Lệ T2.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 29/2024/DS-ST ngày 29 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.

Căn cứ Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ Điều 27, 30, 37 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Trầm Quốc T.

    Buộc anh Kim Minh T1 có nghĩa vụ trả cho anh Trầm Q T số tiền vốn là 80.000.000 đồng và tiền lãi là 16.499.340 đồng.

    Buộc chị Kim Thị Lệ T2 có nghĩa vụ trả cho anh Trầm Q T số tiền vốn là 60.000.000 đồng và tiền lãi là 16.499.340 đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

  2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Buộc chị Kim Thị Lệ T2 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà chị T2 đã nộp theo biên lai thu số 0003646 ngày 11/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh, chị T2 không phải nộp tiếp.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - TAND huyện Trà Cú;
  • - Chi cục THADS huyện Trà Cú;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Văn Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 206/2024/DS - PT ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp hợp đồng vay và hợp đồng mua bán

  • Số bản án: 206/2024/DS - PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay và hợp đồng mua bán
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: CHẤP NHẬN YÊU CẦU KHỞI KIỆN CỦA NGUYÊN ĐƠN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger