Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 206/2024/DS-ST

Ngày: 15/8/2024

V/v tranh chấp Hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU

Với thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

- Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Tiến

- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Thị Kim Luyến

Ông Phan Công Ny

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều thành phố Cần Thơ: Ông Tô Văn Tông – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ninh Kiều tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 647/2023/TLST-DS ngày 02 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 512/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn Công ty TNHH MTV Q của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC)

Địa chỉ: Số B H, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tiến Đ – Chủ tịch Hội đồng thành viên.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1982. Vắng mặt.

Địa chỉ: Số C N, KV L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ.

(Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

Bị đơn: Bà Nguyễn Ngọc Phương T1, sinh năm 1989. Vắng mặt.

Địa chỉ: Số I H, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Ông Nguyễn Thanh H. Vắng mặt.

Bà Đoàn Ngọc T2. Vắng mặt.

Địa chỉ: Số A H, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Bà Nguyễn Ngọc Phương T1 và Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh T3 (S1) đã ký các Hợp đồng tín dụng sau:

Trong trường hợp bà Nguyễn Ngọc Phương T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ, đề nghị Tòa án Nhân dân Quận Ninh Kiều cho phát mãi các tài sản bảo đảm đã thế chấp để bảo đảm cho nghĩa vụ trả nợ của bà Nguyễn Ngọc Phương T1 nêu trên.

Trường hợp sau khi bán tài sản bảo đảm mà không đủ thanh toán số tiền vốn gốc, tiền lãi vay, lãi phạt có liên quan, chỉ phí Tòa án, chi phí phát mãi tài sản thì bà Nguyễn Ngọc Phương T1 có trách nhiệm tiếp tục thanh toán số tiền còn thiếu.

Bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, để hòa giải và xét xử, nhưng các đương sự luôn vắng mặt không có lý do và không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ nào có liên quan đến vụ án, cũng như không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định của pháp luật.

* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

- Về tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật. Việc thụ lý, giải quyết

của Tòa án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp. Tuy nhiên, có vi phạm về thời hạn đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật. Những người tham gia tố tụng chấp hành pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng theo quy định. Riêng đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo đúng quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu có trong hồ sơ, xét yêu cầu khởi kiện của nguyen đơn là có căn cứ nên đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ kiện sau khi thẩm tra công khai tại phiên tòa sau khi nghe ý kiến tranh luận của đương sự. Hội đồng xét xử nhận định.

[1] Về quan hệ pháp luật:

Công ty TNHH MTV Q của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn bà Nguyễn Ngọc Phương T1 phải trả tiền nợ vay theo hợp đồng tín dụng mà bà T1 và Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh T3 (S1) đã ký kết. Ngày 29/7/2020 giữa Ngân hàng TMCP S và Công ty V đã thỏa thuận ký kết hợp đồng mua, bán nợ số 1389/2020/MBN.VAMC-SGB bán khoản nợ của bà Nguyễn Ngọc Phương T1 đã vay của Ngân hàng TMCP S, nên xác định đây là tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo quy định tại Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 466 Bộ luật Dân sự 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng:

- Bị đơn Nguyễn Ngọc Phương T1, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh H, bà Đoàn Ngọc Thanh vắng M tại phiên tòa thuộc các trường hợp đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng, nguyên đơn đề nghị xét xử vắng mặt, nên căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự

[3]Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[3.1] Yêu cầu bị đơn thanh toán nợ theo Hợp đồng tín dụng:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện bà Nguyễn Ngọc Phương T1 đã ký các hợp đồng tín dụng sau:

Hợp đồng tín dụng số: 742/2018/HĐTDTL - CN ngày 17/09/2018; và giấy nhận nợ số: 743/2018/GNN ngày 17/09/2018. Số tiền vay: 2.400.000.000₫ (Bằng chữ: Hai tỷ bốn trăm triệu đồng). Dư nợ hiện tại: 2.300.000.000₫ (Bằng chữ: Hai tỷ ba trăm triệu đồng). Thời hạn vay: từ ngày 17/09/2018 đến ngày 17/09/2033. Lãi suất trong hạn: 10,5%/năm; lãi suất quá hạn = 150% lãi suất trong hạn. Mục đích vay vốn: Thanh toán tiền mua nhà và quyền sử dụng đất.

Hợp đồng tín dụng số: 901/2019/HĐTDTL - CN ngày 26/12/2019; và giấy nhận nợ số: 902/2019/GNN ngày 26/12/2019. Số tiền vay: 100.000.000₫ (Bằng chữ: Một trăm triệu đồng). Dư nợ hiện tại: 100.000.000₫ (Bằng chữ: Một trăm triệu đồng). Thời hạn vay: từ ngày 26/12/2019 đến ngày 26/12/2020. Lãi suất trong hạn: 11%/năm; lãi suất quá hạn = 150% lãi suất trong hạn Mục đích vay vốn: Bổ sung vốn sửa chữa nhà

Trong quá trình thực hiện hợp đồng do bà Nguyễn Ngọc Phương T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ gốc và lãi là có cơ sở để chấp nhận.

Tạm tính đến ngày 15/8/2024, bà Nguyễn Ngọc Phương T1 còn nợ Công Ty V1 tổng số tiền là 3.860.387.757 đồng. Trong đó tiền nợ gốc 2.400.000.000 đồng, tiền nợ lãi trong hạn là 1.152.931.981 đồng, nợ lãi quá hạn là 70.742.465, tiền lãi chậm trả lãi là 236.713.311 đồng.

Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc và nợ lãi nêu trên ngoài ra, còn yêu cầu bị đơn phải tiếp tục trả lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán hết nợ.

Việc bị đơn Nguyễn Ngọc Phương T1 không thanh toán nợ, theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng là vi phạm nghĩa vụ, làm cho quyền lợi của Công ty V1 bị xâm phạm.

Trong quá trình giải quyết vụ án, dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng bị đơn luôn vắng mặt không có lý do và không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ nào có liên quan đến vụ án cũng như không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Căn cứ Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.2] Yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp của Công ty TNHH MTV Q của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC)

Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ tín dụng, bà Nguyễn Ngọc Phương T1 với Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh T3 có ký Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 097/TCTS - 2018 ngày 17/09/2018 thế chấp quyền sử dụng đất diện tích 104,72 m² thửa đất số 36 tờ bản đồ số 7 loại đất ở tại đô thị; tài sản gắn liền với đất là nhà ở riêng lẻ diện tích xây dựng sở hữu riêng: 83,01m² sở hữu chung: 0,00m², diện tích sàn sở hữu riêng: 129,17m² sở hữu chung: 0,00m² cấp hạn 2-4, số tầng 02-01 tọa lạc tại số A đường H, phường A, quận N, TP Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 596668, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH00940 do UBND quận N cấp cho ông Trần Kế Đ1 ngày 28/04/2016. Chỉnh lý ngày 28/9/2016 cho bà Nguyễn Ngọc Phương T1 đứng tên chủ sử dụng.

Xét hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa Ngân hàng TMCP S với bà T1 đã được công chứng, chứng thực và đăng ký đảm bảo theo đúng quy định. Nên nguyên đơn yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp, trong trường hợp bị đơn không thanh toán nợ hoặc thanh toán nợ không đầy đủ là có cơ sở chấp nhận.

Đối với ông Nguyễn Thanh H và bà Đoàn Ngọc T2 là những người đang sinh sống trên nhà đất tọa lạc tại địa chỉ số A đường H, phường A, quận N, TP Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 596668, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH00940. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ, thông báo cho ông H, bà T2 tham gia tố tụng, nhưng cả hai đều không đến tham gia phiên tòa, không có văn bản trình bày ý kiến về việc Công ty V1 đề nghị phát mãi tài sản thế chấp là

nhà và đất nêu trên. Không có văn bản gửi Tòa án để phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nên không xem xét.

[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ninh Kiều là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được làm rõ tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[5] Về chi phí thẩm định tại chỗ, định giá tài sản:

Chi phí thẩm định, định giá tài sản 4.000.000 đồng bị đơn phải chịu, do nguyên đơn đã nộp tạm ứng nên bị đơn phải có nghĩa vụ hoàn trả lại số tiền này.

[6] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu 109.207.755 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí.

[7] Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

  • Điều 26; Điều 35; Điều 147; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
  • Điều 463, Điều 466, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng.
  • Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH MTV Q của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) đối với bị đơn bà Nguyễn Ngọc Phương T1

Buộc bị đơn Nguyễn Ngọc Phương T1 phải trả cho Công ty TNHH MTV Q của các tổ chức tín dụng Việt Nam (V1) tổng số tiền là 3.860.387.757 đồng.Trong đó nợ gốc 2.400.000.000 đồng (Hai tỷ, bốn trăm triệu đồng) nợ lãi 1.460.387.757 đồng (Một tỷ, bốn trăm sáu mươi triệu, ba trăm tám mươi bảy nghìn, bảy trăm năm mươi bảy đồng)

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong.

Trường hợp bị đơn bà Nguyễn Ngọc Phương T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng, thì Công ty TNHH MTV Q của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án Dân sự kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm sau đây để thu hồi nợ là quyền sử dụng đất diện tích 104,72 m² thửa đất số 36 tờ bản đồ số 7 loại đất ở tại đô thị; tài sản gắn liền với đất là nhà ở riêng lẻ diện tích xây dựng sở hữu riêng: 83,01m² sở hữu chung: 0,00m², diện tích sàn sở hữu riêng: 129,17m² sở hữu chung: 0,00m² cấp hạn 2-4, số tầng 02-01 tọa lạc tại số A đường H, phường A, quận N, TP Cần Thơ theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CB 596668, số vào sổ cấp giấy chứng nhận: CH00940 do UBND quận N cấp cho ông Trần Kế Đ1 ngày 28/04/2016. Chỉnh lý ngày 28/9/2016 cho bà Nguyễn Ngọc Phương T1 đứng tên chủ sử dụng theo Hợp đồng thế chấp số 097/TCTS - 2018 ngày 17/09/2018.

3. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản:

Bị đơn Nguyễn Ngọc Phương T1 phải chịu 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng), do nguyên đơn đã nộp tạm ứng nên bà Nguyễn Ngọc Phương T1 phải có nghĩa vụ hoàn trả lại số tiền này cho Công ty TNHH MTV Q của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC).

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn Nguyễn Ngọc Phương T1 phải chịu 109.207.755 đồng (Một trăm lẻ chín triệu, hai trăm lẻ bảy nghìn, bảy trăm năm mươi lăm đồng). Nguyên đơn Công ty TNHH MTV Q của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) được nhận lại 42.947.500 đồng (Bốn mươi hai triệu, chín trăm bốn mươi bảy nghìn, năm trăm đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0001719 ngày 04/3/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận

được bản án hoặc bản án được niêm yết), để yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND Q.NK;
  • - Chi cục THADS Q.NK;
  • - TAND TP.CT;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Kim Tiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 206/2024/DS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 206/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công Ty TNHH MTV V tranh chấp hợp đồng tín dụng với Nguyễn Ngọc Phương T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger