|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 206/2024/HNGĐ-ST Ngày 11 - 7 - 2024 V/v không công nhận quan hệ vợ chồng |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lã Phi Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Mạnh Tưởng và ông Nguyễn Tiến Bộ
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Vinh, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Tuấn - Kiểm sát viên
Trong ngày 11 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở TAND huyện Mỹ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 161/ 2024/ TLST - HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2024 về việc kiện ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/ 2024/ QĐXX - HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1977
Bị đơn: Ông Đào Văn T, sinh năm 1976
Đều có HKTT: Thôn Đ, xã Đ, huyện M, Thành phố Hà Nội.
Bà Đ có mặt, ông T xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và những lời khai tại Toà, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ trình bày:
Bà và ông Đào Văn T được hai gia đình tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán địa phương năm 1999, nhưng không đăng ký kết hôn, vì thời điểm đó do hiểu biết pháp luật hạn chế nên bà Đ, ông T không đến UBND xã để đăng ký kết hôn. Sau khi cưới vợ chồng chung sống với nhau ngay tại gia đình ông T, ở thôn Đ, xã Đ, huyện M, Thành phố Hà Nội. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, mỗi người có một quan điểm lối sống khác nhau, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2016 cho đến nay không còn quan hệ gì. Nhận thấy tình cảm không còn, hạnh phúc không có, bà Định đề nghị Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Đ và ông Đào Văn T là vợ chồng.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Đào Thị L, sinh ngày 21/01/2006; cháu Đào Trung K, sinh ngày 13/12/2007. Hiện cả hai con chung đang ở với ông T. Ly hôn bà Đ đồng ý để cho ông T được nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Đào Trung K, xin được tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với ông T. Đối với cháu Đào Thị L, hiện nay đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa giải quyết
- Về công nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về phía bị đơn, ông Đào Văn T trình bầy:
Ông và bà Nguyễn Thị Đ tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1999, nhưng không đăng ký kết hôn. Quá trình chung sống đến năm 2018 thì xẩy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính cách hai bên không hợp nhau, thường xuyên cãi vã, xung đột. Ông T đã tìm nhiều biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2018 cho đến nay không ai còn quan tâm đến ai. Nay bà Định đề nghị Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Đ và ông T. Ông T đồng ý để Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Đào Thị L, sinh ngày 21/01/2006; cháu Đào Trung K, sinh ngày 13/12/2007. Hiện cả hai con chung đang ở với ông T. Ly hôn ông T xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Đào Trung K, không yêu cầu bà Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung với ông T. Đối với cháu Đào Thị L, hiện nay đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
- Về tài sản chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa giải quyết
- Về công nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa giải quyết.
Do công việc của ông rất bận và sức khỏe yếu, nên ông T đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt ông T.
Tại phiên toà: Bà Nguyễn Thị Đ giữ nguyên quan điểm của mình và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện VKSND huyện Mỹ Đức tham gia phiên toà phát biểu về việc giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định về thủ tục tố tụng của Pháp luật TTDS trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đầy đủ nghĩa vụ tố tụng của mình.
- Về nội dung: Đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Đ và ông Đào Văn T là vợ chồng.
- Về con chung: Giao ông Đào Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Đào Trung K, sinh ngày 13/12/2007. Tạm hoãn việc góp phí tổn nuôi con cho bà Đ đến khi ông T có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Đối với cháu Đào Thị L, sinh ngày 21/01/2006; hiện nay cháu L đã trưởng thành nên không đề nghị Tòa giải quyết.
- Về tài sản chung: Do bà Nguyễn Thị Đ, ông Đào Văn T đều không yêu cầu Tòa giải quyết, nên không đề nghị Tòa giải quyết.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Mặc dù phía bị đơn ông Đào Văn T vắng mặt tại phiên tòa, nhưng ông T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông T.
Năm 1999 bà Nguyễn Thị Đ và ông Đào Văn T đã tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, nhưng không thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Kể từ năm 1999 mặc dù đã có một thời gian chung sống hạnh phúc nhưng cả hai chưa hề tiến hành làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định; Qua kiểm tra sổ đăng ký kết hôn từ năm 1999 đến nay không thấy thể hiện việc bà Đ, ông T đã đăng ký kết hôn.
Trong quá trình chung sống giữa bà Đ, ông T đã xẩy ra mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống. Do cuộc sống không còn tình cảm, quá trình chung sống không có đăng ký kết hôn, nên bà Đ có đơn đề nghị không công nhận quan hệ giữa bà Nguyễn Thị Đ và ông Đào Văn T là vợ chồng.
HĐXX xét thấy, mâu thuẫn giữa bà Đ và ông T đã thực sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, hôn nhân tồn tại chỉ là hình thức. Do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, tuyên bố không công nhận quan hệ giữa bà Nguyễn Thị Đ và ông Đào Văn T là vợ chồng, là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị Đ và ông Đào Văn T có 02 con chung là cháu Đào Thị L, sinh ngày 21/01/2006; cháu Đào Trung K, sinh ngày 13/12/2007. Quá trình giải quyết vụ án, ông T xin được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Đào Trung K, bà Đ đồng ý, hơn nữa cháu K có nguyện vọng xin được ở với ông T. Xét sự tự nguyện của các bên là phù hợp và không trái với quy định của Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; HĐXX nhất trí giao cháu Đào Trung K cho ông T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về việc cấp dưỡng nuôi con: Do ông T không yêu cầu bà Đ phải cấp dưỡng nuôi con, nên tạm hoãn việc góp phí tổn nuôi con chung cho bà Đ, đến khi ông T có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Đối với cháu Đào Thị L, sinh ngày 21/01/2006; hiện nay cháu L đã trưởng thành; bà Đ, ông T đều không yêu cầu, nên Tòa không xét.
Về tài sản chung: Bà Nguyễn Thị Đ và ông Đào Văn T đều không yêu cầu, nên Tòa không xét.
Về công nợ chung: Không có, nên Tòa không xét.
Về án phí: Bà Nguyễn Thị Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản vào khoản 7 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 227; Điều 266; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 9, Điều 14; Điều 15 và Điều 16 của Luật Hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 35/2000/NQ – QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc Hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và Gia đình.
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án, tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Đ đối với ông Đào Văn T.
Không công nhận quan hệ giữa bà Nguyễn Thị Đ và ông Đào Văn T là vợ chồng.
- Về con chung: Giao ông Đào Văn T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Đào Trung K, sinh ngày 13/12/2007. Tạm hoãn việc góp phí tổn nuôi con cho bà Đ đến khi ông T có yêu cầu hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Bà Đ có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Đ chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được đối trừ vào khoản tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên thu tạm ứng án phí số 0007890 ngày 27/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức. Bà Đ đã nộp đủ án phí án phí ly hôn sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhân:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lã Phi Hùng |
Bản án số 206/2024/HNGĐ-ST ngày 11/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về không công nhận quan hệ vợ chồng
- Số bản án: 206/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn Đ-T
