|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 206/2024/HS-ST Ngày 09/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hạng Minh Thu và ông Trần Hữu Hạnh.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân A Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 193/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 191/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 đối với:
- Họ và tên: Phùng Văn T (Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 29 tháng 4 năm 1991, tại Thái Nguyên; Nơi cư trú: Xóm Đ, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc Nùng; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: Tự do; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông: Phùng Ngọc Đ năm 1952; Con bà: Ngô Thị H năm 1952; Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ 05; Vợ: Trương Thị L năm 1986; Con: Có 1 con sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Chị Hoàng Thị H1 năm 1993, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Vũ Thị L1 sinh năm 1970, có mặt.
Cùng địa chỉ: Phố Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Lạng Sơn
- Người chứng kiến: Bà Nguyễn Thị T năm 1958, vắng mặt.
Địa chỉ: Xóm N, xã Q, TP ., tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 13/8/2022, Phùng Văn T1 (có giấy phép lái xe mô tô hạng A1) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, Biển kiểm soát 20H1- 480.34, chở phía sau là chị Hoàng Thị H1 năm 1993, trú tại Phố Đ, huyện V, tỉnh Lạng Sơn đi trên đường D đi đến địa phận xóm N, xã Q, thành phố T đi vào đoạn đường có địa hình mấp mô, T2 giảm tốc độ nên mất thăng bằng gây tai nạn, xe mô tô trên đè vào người T chị H1 ngã đập đầu xuống mặt đường. Sau đó, T và chị H1 được người dân đưa đến Bệnh viện A1 điều trị. Hậu quả: Chị Hoàng Thị H2 thương tích chấn thương sọ não, tụ máu dưới màng cứng, tụ máu dưới thái dương bên trái.
Tại bản kết luận giám định thương tích số 257/KLTTCT- TTPY ngày 22/4/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh T: Căn cứ Thông tư số 22/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, xác định tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của chị Hoàng Thị H3 thời điểm giám định là 82% (Tám mươi hai) áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư. Cơ chế hình thành thương tích: Do tác động với vật tày.
- Phùng Văn T3 bị thương tích gì.
Sau khi xảy ra tai nạn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện liên quan, thu thập dấu vết để xác định nguyên nhân xảy ra tai nạn.
Kết quả khám nghiệm hiện trường như sau:
- Đoạn đường nơi xảy ra tai nạn là đường bê tông xi măng dân sinh, mặt đường nứt vỡ, không có hệ thống báo hiệu đường bộ, bề rộng mặt đường là 4,0m. Bên phải đường theo hướng đại học N đi đường Z115 có lề đất rộng 1,6m. Tại khu vực xảy ra tai nạn không có nhà dân sinh sống và không có hệ thống camera.
- Lấy cột điện số 216 nằm bên phải đường hướng Đại học N đi Z115 làm điểm mốc. Lấy mép phải đường hướng Đại học N đi Z115 làm chuẩn.
- + Ký hiệu (1): là vết cày xước KT (1,05x0,01) m, có chiều Đại học N đi Z115. Điểm đầu của (1) trùng với mép đường chuẩn. Đo điểm cuối của (1) đến mép đường chuẩn là 0,05m.
- + Ký hiệu (2): là vùng máu KT (0,50 x 0,35)m, không rõ hình. Đo tâm của (2) đến điểm cuối của (1) là 11,0 m. Đo tâm của (2) đến mép đường chuẩn là 1,20 m. Đo tâm của (2) đến điểm mốc là 76,35m.
Tiến hành khám nghiệm phương tiện đối với xe ô tô BKS 20H1-480.34:
- Má lốp trước bên trái có một vùng mài trượt cao su, chùi sạch bụi bẩn KT 06X 1,5 cm, đo điểm gần nhất của vùng này cách số “9” trong dòng số “90-80-17" là 10 cm.
- Mặt phía dưới bên trái của chân chống, giữa có một vùng mài trượt kim loại KT 04 x 01 cm.
- Đèn tín hiệu phía sau bên phải bị gãy rời.
- Ốp nhựa ống xả bị mài trượt nằm rải rác KT 44 x 03 cm.
- Đầu để chân trước phải bị mài trượt cao su, hở kim loại KT 03 x 2,5 cm.
- Đầu tay nắm bên phải bị mài trượt kim loại KT 01 x 01 cm.
- Đầu tay phanh phải bị mài trượt kim loại KT 01 x 1,5 cm.
- Cánh yếm bên phải bị mài trượt nhựa KT 10 x 02 cm.
- Ốp nhựa đầu xe bị dập vỡ KT 1,5 x 3 cm.
- Toàn bộ phần sườn xe trái phải, sau xe không có dấu vết va chạm.
Tại Cơ quan điều tra, Phùng Văn T4 nhận như sau: Ngày 13/8/2022, chị Hoàng Thị H4 cửa hàng bán đồ câu của T tại xóm A, xã Q, thành phố T chơi và ăn cơm. Khoảng 22 giờ cùng ngày, sau khi ăn cơm tối tại cửa hàng, chị H1 nhờ T đưa về phòng trọ tại phường T, T ý. T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, BKS: 20H1- 480.34 chở chị Hoàng T5 H1 ngồi phía sau. T điều khiển xe di chuyển trên đường dân sinh hướng từ Đại học Nông lâm T đi Z115. Khi đi đến địa phận xóm N, xã Q, T này trời tối không mưa, không có đèn đường chiếu sáng, đường T chuyển là đường dân sinh, mặt đường bị nứt vỡ, mấp mô. T điều khiển với tốc độ khoảng 35 – 40km/h. Do mải nói chuyện với chị H1 nên T không giảm tốc độ dẫn đến phần bánh trước của xe mô tô đã đi vào lề đường có chỗ lồi lõm, làm tay lái của T mất thăng bằng. Lúc này, T6 lái sang phần đường bên trái để tránh nhưng không kịp khiến xe mô tô đè lên người T và chị H1 ngã về phía trước. Sau tai nạn, chị H1 ngã đập đầu xuống đường bất tỉnh, T cùng người dân đưa chị H1 đến bệnh viện A1 để cấp cứu.
Căn cứ vào biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông, biên bản xác minh thương tích, bệnh án, kết luận giám định đủ căn cứ để xác định nguyên nhân của vụ tai nạn giao thông là do: Phùng Văn T7 khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, BKS: 20H1- 480.34 đi vào đoạn đường có địa hình mấp mô nhưng không giảm tốc độ, dẫn đến xảy ra vụ tai nạn trên. Hậu quả chị H1 bị thương tích với tỷ lệ tổn thương là 82% sức khỏe.
Tại Cơ quan điều tra bị cáo Phùng Văn T8 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản cáo trạng số 197/CT-VKSVN ngày 18/7/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Phùng Văn T9 tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.
Kết thúc phần xét hỏi, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã trình bày bản luận tội và giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Phùng Văn T10 Sau khi đánh giá chứng cứ đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt Phùng Văn T11 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 đến 30 tháng về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo đã bồi thường thiệt hại sức khỏe cho bị hại chị Hoàng Thị H5 đồng.
Về vật chứng: Trả cho bị cáo Phùng Văn T12 Giấy phép lái xe hạng A1 số AP543694 cấp ngày 17/5/2022 mang tên Phùng Văn T1
Về án phí: Buộc bị cáo T13 chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhất trí với nội dung bản luận tội, không tranh luận với Viện kiểm sát.
Ý kiến của người đại diện hợp pháp cho bị hại: Nhất trí với bản luận tội, không có ý kiến tranh luận với Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giải quyết cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với những tài liệu đã thu thập được có trong hồ sơ như: Biên bản khám nghiệm hiện trường; Sơ đồ hiện trường; Biên bản khám nghiệm phương tiện; Bệnh án; Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể, phù hợp với các tài liệu có liên quan đã được thẩm tra tại phiên tòa.
Như vậy có thể xác định: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 13/8/2022, Phùng Văn T1 (có giấy phép lái xe mô tô hạng A1) điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, Biển kiểm soát 20H1- 480.34 chở phía sau là chị Hoàng Thị H6 trên đường dân sinh hướng Đại học Nông lâm T đi Z115. Khi đi đến địa phận xóm N, xã Q, T vào đoạn đường có địa hình mấp mô, T3 giảm tốc độ khiến T mất thăng bằng gây tai nạn. T bị xe mô tô đè vào người, chị H7 đập đầu xuống mặt đường, gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 82%.
Hành vi của Phùng Văn T8 vi phạm khoản 23 Điều 8, khoản 1 Điều 12 Luật giao thông đường bộ; Khoản 3 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT và đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Cụ thể:
Điều 8 Luật giao thông đường bộ quy định:
“Các hành vi bị nghiêm cấm
23. Hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ, hành vi khác gây nguy hiểm cho người và phương tiện tham gia giao thông đường bộ".
Điều 12 Luật giao thông đường bộ quy định:
“1. Người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải tuân thủ quy định về tốc độ xe chạy trên đường..."
Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT quy định:
“Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:
3. ... Đoạn đường có mặt đường hẹp, không êm thuận”
Nội dung Điều 260 Bộ luật Hình sự quy định như sau:
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
b) Gây tổn hại cho sức khỏe của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên".
Do vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên truy tố bị cáo Phùng Văn T14 tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan cho bị cáo.
[3]. Xét tính chất hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng làm chị Hoàng Thị H8 hại sức khỏe 82%, hành vi đó còn gây mất trật tự an toàn công cộng. Vì vậy, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật và phòng ngừa chung.
[4]. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phùng Văn T1 trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại sức khỏe cho chị H1 quá trình giải quyết vụ án bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và tại phiên tòa đại diện bị hại xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Về nhân thân: Bị cáo khi còn nhỏ được gia đình nuôi ăn học hết lớp 11/12 sau đó ở nhà lao động sản xuất, quá trình sống tại nơi cư trú không có vi phạm, chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt.
[5]. Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, sau khi xem xét về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng cần xử phạt bị cáo mức án 12 tháng tù là phù hợp. Do bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân nơi cư trú, bị cáo có đơn xin hưởng án treo được chính quyền địa phương xác nhận. Đối chiếu với quy định tại Điều 2 của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về điều kiện cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở cho bị cáo được hưởng án treo với thời gian thử thách là 24 tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Như vậy cũng đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo sống chung với bố mẹ đẻ không có tài sản, nghề nghiệp là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[7]. Về trách nhiệm dân sự dân sự: Quá trình điều tra, theo nội dung biên bản giải quyết dân sự ngày 26/9/2022 tại Công an thành phố T20, bị cáo Phùng Văn T1 đã bồi thường, khắc phục hậu quả số tiền 50.000.000 đồng cho bị hại. Tại phiên tòa đại diện bị hại không yêu cầu bị cáo T15 thường thêm. Do đó, cần ghi nhận việc bị cáo đã bồi thường cho bị hại 50.000.000 đồng.
[8]. Vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật hình sự vật chứng cần được xử lý như sau:
- 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số AP543694 cấp ngày 17/5/2022 mang tên Phùng Văn T1 Đây là giấy tờ thuộc sở hữu của bị cáo T xét cần trả lại cho bị cáo T tiếp tục sử dụng.
[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10]. Xét đề nghị về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp cần được chấp nhận.
Bởi các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng Hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Phùng Văn T16 tội "Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ".
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47, Điều 48, Điều 65 của Bộ luật hình sự; Điều Điều 30; 106, 136, 299, 331, 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 584, 589, 591 của Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về hình phạt chính: Xử phạt Phùng Văn T11 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phùng Văn T17 UBND xã P thành phố T, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Trường hợp bị cáo được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
2. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận việc bị cáo Phùng Văn T8 bồi thường thiệt hại sức khỏe cho bị hại chị Hoàng Thị H9 tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng.
4. Về vật chứng:
- Trả cho bị cáo Phùng Văn T1 01 Giấy phép lái xe hạng A1 số AP543694 mang tên Phùng Văn T18 Sở Giao thông vận tải tỉnh T cấp ngày 30/8/2010 (có giá trị đến không thời hạn)
(Vật chứng trên đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên, có đặc điểm theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố T và Chi cục THADS thành phố T số 220 ngày 25/7/2024).
5. Về án phí: Buộc bị cáo Phùng Văn T19 chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách Nhà nước.
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hoàng Thị Hương |
Bản án số 206/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự (vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Số bản án: 206/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phùng Văn Tiến vi phạm quy đinh về tham gia GTĐB
