Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 206/2023/HS-ST

Ngày: 07-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH - TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Vũ Tiến Thịnh.
  2. Ông Phạm Đức Toàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lan Hương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Hương – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 11 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 195/2023/HSST ngày 16 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 195/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Thành N, sinh ngày 09/10/1972 tại tỉnh Thái Bình;

Nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình.; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: Lớp 03/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Trần Thị T (đã chết); có vợ là Trần Thị H, có 04 con. Tiền sự: Không.

Tiền án: 01: Bản án số 126/2021/HSST ngày 20/9/2021 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành xong án phạt tù ngày 31/8/2022, chưa chấp hành xong án phí.

Nhân thân:

  • - Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền số 000532 ngày 30/7/2005 của Công an phường Quyết Thắng, thị xã Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 100.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản;
  • - Bản án số 120/2005/HSST ngày 08/11/2005 của Tòa án thị xã Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong án phạt tù ngày 15/02/2006, chấp hành xong án phí ngày 08/02/2010;
  • - Bản án số 38/2012/HSST ngày 23/8/2012 của Tòa án huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình xử phạt 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành án án phạt tù ngày 22/11/2012, chấp hành xong án phí ngày 11/5/2018;
  • - Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 11/QĐ-TA ngày 05/10/2018 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương thời hạn 15 tháng, chấp hành xong ngày 30/01/2020.

Bị bắt, tạm giữ từ ngày 09/8/2023 đến ngày 15/8/2023 chuyển tạm giam đến nay. Có mặt.

- Người chứng kiến:

  1. Anh Văn Đức B, sinh năm 1978, trú tại thôn H, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.
  2. Anh Nguyễn Tiến V, sinh năm 1973, trú tại đường N, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 09/8/2023, Nguyễn Thành N đi xe ôm từ nhà đến khu vực đê sông T, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình mục đích mua ma túy để sử dụng. Khi đến nơi, N xuống xe trả tiền xe ôm rồi đi bộ một đoạn thì gặp và mua của một người nam giới không biết tên, tuổi và địa chỉ được 01 gói ma túy, loại Heroine với giá 200.000 đồng, N cầm gói ma túy vừa mua được ở lòng bàn tay trái của N rồi đi bộ tìm chỗ để sử dụng. Khoảng 11 giờ 40 phút cùng ngày, khi N đi đến khu vực đường H, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình thì bị tổ công tác Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của anh Văn Đức B và anh Nguyễn Tiến V, N đưa từ lòng bàn tay trái của mình ra giao

nộp cho tổ công tác 01 gói được gói bằng giấy tráng kim màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục, N khai nhận đó là Heroine của N mua để sử dụng cho bản thân, tổ công tác đã niêm phong vật chứng gửi đi giám định. Sau đó tổ công tác yêu cầu N và mời người chứng kiến về trụ sở Công an xã Vũ Chính, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và làm các thủ tục khác theo quy định.

Bản Kết luận giám định số 1207/KL-KTHS ngày 14/8/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu vật quản lý của Nguyễn Thành N gửi giám định là ma túy, loại Heroin (Heroine), có khối lượng 0,1497 gam (Không phẩy một nghìn bốn trăm chín mươi bảy gam)”. Heroin. STT: 09 Danh mục IA phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận như trên. Lời khai của người chứng kiến là anh Văn Đức B và anh Nguyễn Tiến V đều thể hiện như lời khai của bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 202/CT-VKSTPTB ngày 16/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố Nguyễn Thành N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo từ 01 năm 6 tháng đến 01 năm 9 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/8/2023. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy số ma túy hoàn trả sau giám định; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có tranh luận gì. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật mong Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Bình, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người chứng kiến và còn được chứng minh bằng: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình lập ngày 09/8/2023, tại trụ sở Công an xã Vũ Chính, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; Bản kết luận giám định số 1207KL-KTHS ngày 14/8/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Hồi 11 giờ 40 phút ngày 09/8/2023, tại khu vực đường H, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình phát hiện bắt quả tang Nguyễn Thành N có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1497 gam với mục đích sử dụng cho bản thân.

[3] Điều 249.Bộ luật Hình sự: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:... c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ...” Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, như vậy cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước ta, gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Bị cáo đã nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật.

[5] Bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nên bị

cáo phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có mục đích kiếm lời nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng: Cần áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy 0,1167 gam ma túy, loại Heroin (Heroine) được hoàn trả sau giám định vì là vật cấm tàng trữ, lưu hành.

[7] Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo khai mua của một người nam giới tại khu vực đê sông T, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình ngày 09/8/2023 nhưng không biết tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, xử lý.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47, Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành N 01 năm 9 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/8/2023.
  3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,1167 gam ma túy, loại Heroin (Heroine) được hoàn trả sau giám định và toàn bộ bao gói được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 1207/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình.
  4. Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 07/11/2023.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình;
  • - CQCSĐT Công an thành phố Thái Bình;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 206/2023/HS-ST ngày 07/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 206/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồi 11 giờ 40 phút ngày 09/8/2023, tại khu vực đường H, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình phát hiện bắt quả tang Nguyễn Thành N có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,1497 gam với mục đích sử dụng cho bản thân.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger