Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ GẠO

TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 206/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 07-6-2024

V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thơm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Trọng Nghĩa.

Ông Nguyễn Văn Ba.

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Ngô Thành Khánh Duy - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 67/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 69/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 64/2024/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hồng Đ, sinh năm 1983 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp B, xã S, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Chị Phan Thị Tuyết L, sinh năm 1984 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp B, xã S, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn ly hôn và quá trình tố tụng nguyên đơn anh Nguyễn Hồng Đ trình bày:

- Về hôn nhân: Anh Đ và chị Phan Thị Tuyết L cưới nhau vào năm 2008 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã S, huyện C, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 12 ngày 09/02/2009. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc. Đến đầu năm 2021 anh chị phát sinh mâu thuẫn hôn nhân. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, anh Đ cho rằng chị L có quan hệ bất chính với người khác bên ngoài. Hôn nhân của anh chị dần mất đi hạnh phúc, tình cảm vợ chồng lạnh nhạt không thể hàn gắn lại được. Anh Đ và chị L đã sống ly thân từ năm 2021. Nhận thấy tình cảm không còn nên anh Đ yêu cầu được ly hôn với chị L.

- Về con chung: Anh Đ và chị L có 03 con chung là cháu Nguyễn Thị Lan A, sinh ngày 03/5/2008, cháu Nguyễn Thị Anh T, sinh ngày 12/12/2010 và cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 02/3/2015. Hiện tại cả 03 cháu đều đang sống chung với anh Đ. Khi ly hôn, anh Đ yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 cháu, không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Ngoài ra, anh Đ không còn yêu cầu gì khác.

Bị đơn chị Phan Thị Tuyết L vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, chưa gửi văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của anh Đ.

Tại phiên tòa, nguyên đơn anh Đ có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn chị L vắng mặt không lý do.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng các thủ tục tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung vụ án, đề nghị: Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Đ. Về con chung: Giao cháu Lan A, cháu T và cháu B cho anh Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chị L không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn anh Nguyễn Hồng Đ yêu cầu ly hôn với chị Phan Thị Tuyết L và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung nên đây là “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chị L có nơi cư trú tại ấp B, xã S, huyện C, tỉnh Tiền Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Xét thấy nguyên đơn anh Nguyễn Hồng Đ có yêu cầu xét xử vắng mặt và bị đơn chị Phan Thị Tuyết L mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ, chị L.

[3] Về hôn nhân: Anh Đ, chị L chung sống trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân xã Song Bình, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 12 ngày 09/02/2009 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Quá trình chung sống, anh Đ trình bày giữa anh và chị L xảy ra mâu thuẫn kéo dài không tự hàn gắn được nên anh Đ yêu cầu được ly hôn. Trong quá trình giải quyết vụ, Tòa án triệu tập chị L để trình bày ý kiến và tham gia phiên hòa giải nhằm hàn gắn tình cảm giữa hai bên nhưng chị L đều vắng mặt. Điều đó cho thấy chị L không phản đối yêu cầu của anh Đ, không có thiện chí và nguyện vọng hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Hội đồng xét xử nhận thấy, giữa anh Đ và chị L không có sự quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, nên cần xác định tình trạng mâu thuẫn giữa anh Đ và chị L đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Đ là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4] Về con chung: Anh Đ và chị L có 03 con chung là cháu Nguyễn Thị Lan A, sinh ngày 03/5/2008, cháu Nguyễn Thị Anh T, sinh ngày 12/12/2010 và cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 02/3/2015. Hiện tại các cháu đang sống chung với anh Đ. Khi ly hôn, anh Đ yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Chị L vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, chưa thể hiện ý kiến về việc nuôi con chung. Hội đồng xét xử thấy rằng, để tạo điều kiện thuận lợi, đảm bảo cho sự phát triển bình thường của cháu Lan A, cháu Anh T và cháu Gia B nên cần thiết giao các cháu cho anh Đ được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, điều này cũng phù hợp với nguyện vọng của cả 03 cháu mong muốn được sống chung với với anh Đ; chị L được quyền thăm nom con theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: Anh Đ trình bày anh và chị L không có tài sản chung, nợ chung và không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Anh Đ là nguyên đơn nên phải chịu án phí không có giá ngạch đối với yêu cầu ly hôn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[8] Xét ý kiến và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 56, 57, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Nguyễn Hồng Đ, anh Đ được ly hôn với chị Phan Thị Tuyết L.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Lan A, sinh ngày 03/5/2008, cháu Nguyễn Thị Anh T, sinh ngày 12/12/2010 và cháu Nguyễn Gia B, sinh ngày 02/3/2015 cho anh Nguyễn Hồng Đ trực tiếp nuôi dưỡng.

    Chị Phan Thị Tuyết L không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Chị L có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở.

  3. Về án phí: Anh Nguyễn Hồng Đ phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh Đ đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007248 ngày 29/02/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo, nên anh Đ đã nộp xong án phí.

    Chị Phan Thị Tuyết L không phải nộp án phí hôn nhân gia đình.

  4. Về quyền kháng cáo: Anh Đ, chị L vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
  5. Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND huyện Chợ Gạo;
  • - Chi cục THADS huyện Chợ Gạo;
  • - UBND xã S, huyện C;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thơm

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 206/2024/HNGĐ-ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 206/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh Nguyễn Hồng Đ yêu cầu ly hôn với chị Phan Thị Tuyết L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger