Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 206/2023/HS-PT

Ngày: 05/12/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Long

Các Thẩm phán: Ông Phan Vĩnh Chuyển

Ông Bùi Trọng Danh

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Hồng Lĩnh - Thư ký TAND TP. Đà Nẵng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 206/2023/TLPT-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo Nguyễn Xuân Đ, trương Trọng Long do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 130/2023/HS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Bị cáo có kháng cáo:

  1. NGUYỄN XUÂN Đ1, sinh ngày 31/10/2000 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi cư trú: Tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Ngọc L (sinh năm 1969) và bà Nguyễn Thị L1 (sinh năm 1971); gia đình có 02 anh em, bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Chưa. Nhân thân: Ngày 05/6/2023, bị Công an quận T xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 133/QĐ-XPHC. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 28/5/2023, có mặt tại phiên tòa.
  2. TRƯƠNG TRỌNG L2, sinh ngày: 20/12/1998; tại thành phố Đà Nẵng; Nơi cư trú: Tổ F, phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trương Trọng T (sinh năm 1955) và bà Trần Thị M (sinh năm 1955 - đã chết), gia đình có 05 anh chị em, bị cáo chưa có vợ con. Tiền án, tiền sự: Chưa. Nhân thân: Ngày 05/6/2023, bị Công an quận T xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định số 134/QĐ-XPHC. Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 28/5/2023, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ ngày 28/5/2023, Trương Trọng L2 đang ở nhà tại A Phần L, quận T, thành phố Đà Nẵng thì có một người phụ nữ tên T1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) liên hệ nhờ L2 hỏi mua giùm 05 (năm) viên ma túy thuốc lắc và nửa hộp ma túy khay, L2 đồng ý và nói sẽ liên lạc lại sau. Sau đó, L2 liên hệ với Nguyễn Xuân Đ để hỏi mua số ma túy trên thì Đ đồng ý bán. Đáng liên hệ với một người thanh niên tên T2 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua số lượng ma túy như trên, T2 báo giá 200.000 đồng/01 viên ma túy thuốc lắc và 2.500.000 đồng/nửa hộp ma túy khay, tổng cộng là 3.500.000 đồng, Đ báo giá lại với L2 là 300.000 đồng/một viên ma túy thuốc lắc và 3.000.000 đồng/nửa hộp ma túy khay, tổng cộng là 4.500.000 đồng nhằm mục đích kiếm lời 1.000.000 đồng. Nghe vậy, L2 hỏi Đáng: “Anh đưa mối qua thì có được đồng nào không?”, Đ trả lời “Em làm như ri không được bao nhiêu, anh muốn lời thì hô giá lên đi”, L2 nói với Đ sẽ báo giá với người mua tổng cộng là 5.000.000 đồng để L2 hưởng lợi 500.000 đồng tiền môi giới bán ma túy và cung cấp cho Đáng địa chỉ giao dịch mua bán ma túy với T1 là tại trước quán Karaoke “TK” ở số G đường N, thành phố Đà Nẵng. Sau đó, Đ điều khiển xe mô tô hiệu Nouvo, BKS: 43S2-7617 đi đến dưới chân một cây cột điện tại một đường kiệt nằm trên đường T, thành phố Đà Nẵng (không rõ địa chỉ cụ thể) theo chỉ dẫn của T2 để lấy ma túy là một gói ny lông chứa 05 (năm) viên ma túy thuốc lắc và ma túy khay được bọc trong một chiếc khẩu trang, Đáng chưa đưa tiền mua ma túy cho T2. Đáng lấy gói ma túy trên giấu vào trong túi quần trái đang mặc, rồi điều khiển xe môtô đến trước quán Karaoke “TK” ở số G đường N, phường X, quận T theo chỉ dẫn của L2 để chờ bán ma túy cho T1. Đáng hẹn L2 sẽ gặp nhau tại ngã tư đường Đ - H, thành phố Đà Nẵng để đưa cho L2 500.000 đồng sau khi bán xong ma túy. Đến 21 giờ cùng ngày, khi Đáng đang đứng chờ bán ma túy cho người phụ nữ tên T1 nhưng chưa bán được thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận T phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trong túi quần trái mà Đáng đang mặc 01 (một) gói ny lông kích thước (7.5x4.5cm) có hai ngăn, một ngăn chứa 05 (Năm) viên nén hình lục giác màu vàng nhạt và một ngăn chứa các tinh thể màu trắng (Tất cả được niêm phong, ký hiệu G). Đáng khai nhận số chất trên là ma túy thuốc lắc và ma túy khay của Đ đang chờ bán cho người khác nhưng chưa bán được thì bị phát hiện, bắt giữ.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Xuân Đ tại đường H, tổ A, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng không thu giữ gì thêm. Đối với Trương Trọng L2, khi đang trên đường đến tại ngã tư đường Đ - H, thành phố Đà Nẵng để chờ nhận 500.000 đồng từ Đáng thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T mời về trụ sở làm việc.

Bản Kết luận giám định số 470/KL-KTHS ngày 05/6/2023 của Phòng kĩ thuật hình sự, Công an thành phố Đ xác định: “Mẫu trong bì niêm phong ký hiệu G ở dạng khác nhau được chia thành 02 mẫu có ký hiệu như sau: 05 viên nén hình lục giác màu vàng nhạt - ký hiệu G1; Tinh thể màu trắng trong gói ni lông - ký hiệu G2.

- Các viên nén hình lục giác màu vàng nhạt ký hiệu G1 gửi giám định là ma túy, loại MDMA, khối lượng mẫu G1: 1,982 gam.

- Tinh thể màu trắng trong các gói ni lông ký hiệu G2 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng mẫu G2: 1,489 gam”.

Tiến hành xét nghiệm ma túy, kết quả Nguyễn Xuân Đ và Trương Trọng L2 dương tính với chất ma túy. Tiến hành kiểm tra điện thoại của Nguyễn Xuân Đ và Trương Trọng L2 có thể hiện cuộc gọi đi đến giữa 02 số thuê bao 0789.434.272 và 0905.404.389 mà Đ và L2 sử dụng; không thu giữ nội dung nào liên quan đến hành vi mua bán ma túy.

Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 130/2023/HS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã quyết định:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân Đ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù kể từ ngày bắt tạm giam, ngày 28/5/2023.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Bị cáo Trương Trọng L2 04 (bốn) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù kể từ ngày bắt tạm giam, ngày 28/5/2023.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định phạt tiền bổ sung 5.000.000 đồng đối với mỗi bị cáo; phần xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo bản án.

Trong các ngày 03/10/2023 và ngày 12/10/2023, các bị cáo Nguyễn Xuân Đ và Trương Trọng L2 có đơn kháng cáo với cùng nội dung: Mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là quá nặng, xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Các bị cáo Nguyễn Xuân Đ và Trương Trọng L2 thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như bản án sơ thẩm đã nêu và kết luận là đúng; các bị cáo giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, xin giảm nhẹ hình phạt chính.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng có quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau: Bản án sơ thẩm số 130/2023/HS-ST ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã xét xử các bị cáo Đ và L2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng; mức hình phạt 04 năm 06 tháng tù đối với bị cáo Đ và mức hình phạt 04 năm tù đối với bị cáo L2 là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo. Các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới, nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Khoảng 19 giờ ngày 28/5/2023, Trương Trọng L2 liên hệ với Nguyễn Xuân Đ để nhờ mua và bán ma túy cho một người phụ nữ tên “T1” nhằm hưởng lợi chênh lệch. Sau đó, bị cáo Đ liên hệ và mua của một người đàn ông tên “Tèo” 05 viên thuốc lắc và nửa hộp ma túy khay, nhận ma túy tại một đường kiệt nằm trên đường T, thành phố Đà Nẵng. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, khi bị cáo Đ đang chờ bán số ma túy nêu trên cho T1 tại trước quán Karaoke “TK” số G đường N, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng theo sự chỉ dẫn của bị cáo L2 thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận T phát hiện, bắt quả tang; đối với Trương Trọng L2 đang trên đường đến điểm hẹn gặp Đáng để nhận tiền hoa hồng, chênh lệch thì bị cơ quan chức năng mời về làm việc. Qua giám định xác định: Tổng trọng lượng các chất ma túy thu giữ được gồm: 1,982 gam ma túy loại MDMA và 1,489 gam ma túy loại Ketamine.

Với hành vi phạm tội như trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 130/2023/HSST ngày 29/9/2023, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã xét xử các bị cáo Nguyễn Xuân Đ và Trương Trọng L2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, có khung hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù; trực tiếp xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, làm lan tràn tệ nạn ma túy trên địa bàn thành phố Đà Nẵng; các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì vụ lợi nên vẫn cố ý phạm tội, nên cần xử nghiêm. Trong vụ án này, bị cáo Đ là người trực tiếp thực hành, trực tiếp liên hệ đi mua và bán trái phép chất ma tuý nhằm hưởng lợi chênh lệch; còn bị cáo L2 là người khởi xướng, giúp sức, nhận lời mua ma túy từ một người phụ nữ tên “Tiên”, liên hệ với bị cáo Đ để mua ma túy và cung cấp địa chỉ nơi nhận ma túy của người mua, nâng giá bán ma túy nhằm hưởng lợi chênh lệch. Vì vậy, mức hình phạt của bị cáo Đáng phải cao hơn so với bị cáo Long.

[2]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, vai trò, mức độ phạm tội của từng bị cáo, đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đã xét đến nhân thân của từng bị cáo; xử phạt bị cáo Đáng 04 năm 06 tháng tù và xử phạt bị cáo Long 04 năm tù là phù hợp, không nặng. Các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng tại giai đoạn xét xử phúc thẩm không có thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới; nên không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, mà cần giữ nguyên mức hình phạt của bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.

[3] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Do không được chấp nhận kháng cáo, nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

I. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Xuân Đ, Trương Trọng L1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân Đ: 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 28/5/2023.
  2. Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trương Trọng L1: 04 (bốn) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 28/5/2023.

II. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Nguyễn Xuân Đ, Trương Trọng L1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

III. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Đà Nẵng;
  • - Vụ giám đốc kiểm tra 1;
  • - VKSND quận Thanh Khê;
  • - Cơ quan CSĐT CAQ Thanh Khê;
  • - TAND quận Thanh Khê;
  • - Chi cục THADS quận Thanh Khê;
  • - Sở Tư pháp TPĐN;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS; HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký và đóng dấu)

Trần Minh Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 206/2023/HS-PT ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 206/2023/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 19 giờ ngày 28/5/2023, Trương Trọng L2 liên hệ với Nguyễn Xuân Đ để nhờ mua và bán ma túy cho một người phụ nữ tên “T1” nhằm hưởng lợi chênh lệch. Sau đó, bị cáo Đ liên hệ và mua của một người đàn ông tên “Tèo” 05 viên thuốc lắc và nửa hộp ma túy khay, nhận ma túy tại một đường kiệt nằm trên đường T, thành phố Đà Nẵng. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, khi bị cáo Đ đang chờ bán số ma túy nêu trên cho T1 tại trước quán Karaoke “TK” số G đường N, phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng theo sự chỉ dẫn của bị cáo L2 thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an quận T phát hiện, bắt quả tang; đối với Trương Trọng L2 đang trên đường đến điểm hẹn gặp Đáng để nhận tiền hoa hồng, chênh lệch thì bị cơ quan chức năng mời về làm việc. Qua giám định xác định: Tổng trọng lượng các chất ma túy thu giữ được gồm: 1,982 gam ma túy loại MDMA và 1,489 gam ma túy loại Ketamine.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger