Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 206/2025/HS-ST

Ngày 25-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đỗ Thị Liễng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hoàn

2. Ông Từ Anh Tuấn

Thư ký phiên tòa: Bà Chu Tường Vy, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Trân, Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 209/2025/TLST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 225/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Đinh Xuân T, sinh năm 1996 tại tỉnh Bình Định; thường trú: Thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định; nơi cư trú hiện nay: Số A, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: Lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Đinh Xuân T1, sinh năm 1973 và bà Đỗ Thị S, sinh năm 1977; có 01 em ruột sinh năm 2015; vợ tên Dương Thị Phượng N, sinh năm 1998; có 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 17/9/2020, bị Công an phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 750.000 đồng về hành vi gây rối trật tự công cộng, nộp phạt ngày 17/9/2020; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Nguyễn Thị P (chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Anh Nguyễn Linh P1, sinh năm 1974; địa chỉ: Tổ G, khu phố D, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An. Vắng mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Võ Minh T2, sinh năm 1984 và chị Ngô Thị Thanh V, sinh năm 1985; địa chỉ: số B, khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Anh Nguyễn Duy T3, sinh năm 1988. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đinh Xuân T có giấy phép lái xe ô tô hạng E số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 14/11/2023, có giá trị đến ngày 14/11/2028. Đinh Xuân T lái xe ô tô tải cẩu cho chị Ngô Thị Thanh V từ tháng 11/2022.

Khoảng 07 giờ 30 ngày 30/7/2024, anh Võ Minh T2 là chồng của chị V phân công Đinh Xuân T điều khiển xe ô tô tải cẩu, biển số 51C-951.10 cùng phụ xe là anh Nguyễn Duy T3, đi từ Bãi xe ở gần Trường Đại học N1 đến Khu công nghiệp L, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh chở hàng đến khu triển lãm ở đường N, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh rồi quay về. Khoảng 13 giờ 30 cùng ngày, sau khi giao hàng xong, T điều khiển xe vào đậu ở bãi đất trống dưới chân tuyến Metro B - S thuộc khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương rồi đi ăn cơm. Khoảng 14 giờ cùng ngày, T với anh T3 quay lại xe ô tô. Lúc này, T mở cửa thì thấy tay nắm cửa bên chỗ lái xe ngồi bị bung mở cửa không được nên tiến hành sửa chữa tại chỗ. Trong lúc sửa tay nắm cửa, có bà Nguyễn Thị P đi bộ tới hỏi đường T để đi về thành phố V. Sau khi hỏi đường T, bà P đi bộ rời đi, T không để ý bà P đi đâu. Khoảng 05 phút sau, do không sửa được tay nắm cửa nên T kêu anh T3 đi vòng qua mở cửa bên phụ lên xe rồi từ bên trong Cabin mở cửa bên lái xe cho T. Sau khi mở được cửa, T lên xe ô tô khởi động xe để máy nổ khoảng 03 phút lấy hơi, điều khiển xe chạy thẳng về phía trước ra đường song hành hướng về Thành phố Hồ Chí Minh. Khi xe ô tô di chuyển được khoảng 01 mét thì bánh xe trước bên trái của xe ô tô tải cẩu, biển số 51C-951.10 va chạm trúng người bà Nguyễn Thị P (bà P đứng cúi người phía trước đầu xe ô tô, biển số 51C-951.10) thì được người đi đường tri hô, T phát hiện xe đụng trúng bà P nên điều khiển xe lùi lại phía sau khoảng 02m, rồi xuống xe đi tới đỡ bà P vào trong lề đường và đón xe mô tô chở khách đưa bà P đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ, còn phụ xe anh T3 ở lại hiện trường giữ xe và điện thoại báo cho anh T2 biết.

Khoảng 15 giờ cùng ngày, anh T2 đến hiện trường gặp anh T3 và gọi điện thoại cho T hỏi tình hình thương tích của bà P thì được biết bà P đã được đưa vào Bệnh viện cấp cứu và bị thương chảy máu ở gót chân, anh T2 nghĩ bà P chỉ bị thương nhẹ nên điều khiển xe ô tô tải cẩu, biển số 51C-951.10 về bãi xe. Còn bà P được cấp cứu đến 22 giờ 48 phút cùng ngày thì tử vong. Sáng ngày 31/7/2024, T và anh T3 biết tin bà P đã chết nên điều khiển xe ô tô tải cẩu, biển số 51C-951.10 đến Công an phường Đ, thành phố D để làm việc. Công an phường Đ lập hồ sơ chuyển giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D thụ lý điều tra theo thẩm quyền.

Tại Bản Kết luận giám định pháp y tử thi số 3687/KLGĐTT-PC09 ngày 05/08/2024 của Phòng K Công an tỉnh B về nguyên nhân tử vong của bà Nguyễn Thị P, như sau:

- Các kết quả chính:

  • + Nhiều vết sây sát da, tụ máu bên ngoài, gãy đầu trên xương đùi trái.
  • + Gãy nhiều xương sườn, gãy xương đòn phải.
  • + Dập rải rác hai phổi, rốn phổi.
  • + Dập rách cơ vùng đáy chậu, phúc mạc vùng chậu.
  • + Dập đứt động mạch đùi sau trái.
  • + Vỡ xương chậu, ổ bụng chứa nhiều máu.

- Nguyên nhân chết: Đa chấn thương.

Tại Bản Kết luận giám định số 3291/KL-KTHS(CH) ngày 30/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh B về dấu vết va chạm, cơ chế hình thành dấu vết và vị trí va chạm đầu tiên chiếu xuống mặt đường giữa xe ô tô tải cẩu, biển số 51C-951.10 với bà Nguyễn Thị P như sau:

1. Dấu vết va chạm giữa xe ô tô tải cẩu, biển số 51C-951.10 với nạn nhân là: Dấu vết trượt mất bụi ở mặt trước, dưới bên trái đầu cản trước và trục trước bánh xe ô tô, có chiều từ trên xuống, từ trước về sau phù hợp với các dấu vết bầm tụ máu vùng mông phải, mặt sau đùi trái, khuỷu tay trái, chẩm của nạn nhân, có chiều từ sau về trước.

2. Cơ chế hình thành dấu vết giữa xe ô tô tải cẩu, biển số 51C-951.10 với nạn nhân là: Mặt trước và mặt dưới bên trái đầu xe ô tô va chạm vào phía sau nạn nhân (như mục 1, phần V) theo chiều từ sau về trước đẩy nạn nhân ngã, va chạm với mặt đường tạo ra dấu vết trên tử thi và phương tiện.

3. Vị trí va chạm giữa xe ô tô tải cẩu, biển số 51C-951.10 với nạn nhân chiếu xuống mặt đường nằm ở khu vực vị trí vết máu (ký hiệu 2) trên Sơ đồ hiện trường.

Tại Bản Kết luận giám định số 3890/KL-KTHS(SCKT) ngày 19/08/2024 của Phòng K Công an tỉnh B về hệ thống phanh, hệ thống lái của xe ô tô tải cẩu, biển số 51C-951.10 như sau: Trước, trong và sau khi tai nạn, hệ thống phanh, hệ thống lái của xe ô tô tải cẩu, biển số 51C-951.10 không phát hiện dấu về hư hỏng sự cố kỹ thuật.

Quá trình tố tụng, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về các kết luận giám định.

Vật chứng thu giữ và xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe ô tô tải cẩu, nhãn hiệu DAEWOO, biển số 51C-951.10, số khung KL3KC6C11FK000090, số máy 51E4228063 là tài sản hợp pháp của chị Ngô Thị Thanh V và anh Võ Minh T2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B trả lại xe tô tải cẩu, nhãn hiệu DAEWOO, biển số 51C-951.10 cho chủ sở hữu theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Đinh Xuân T đã bồi thường chi phí mai táng cho bà Nguyễn Thị P và tổn thất tinh thần cho người đại diện hợp pháp của bà P là 50.000.000 đồng. Anh Võ Minh T2 và chị Ngô Thị Thanh V đã hỗ trợ chi phí mai táng cho bà P số tiền là 130.000.000 đồng. Anh Nguyễn Linh P1 là người đại diện hợp pháp của bà P đã nhận đủ số tiền trên và không còn yêu cầu gì khác.

Tại Cáo trạng số: 230/CT-VKS-DA ngày 11 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Đinh Xuân T về tội Vô ý làm chết người theo quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 03 năm đến 04 năm.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[01] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[02] Căn cứ vào lời khai của bị cáo, người tham gia tố tụng và những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 14 giờ 50 phút ngày 30/7/2024, tại Bãi đất trống dưới chân tuyến Metro B - S thuộc khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương, Đinh Xuân T điều khiển xe ô tô tải cẩu, biển số 51C-951.10 chạy về phía trước để ra đường song hành hướng về Thành phố Hồ Chí Minh, do thiếu chú ý quan sát, khi cho xe ô tô di chuyển được khoảng 01 mét thì bánh xe trước bên trái xe ô tô tải cẩu, biển số 51C-951.10 va chạm trúng người bà Nguyễn Thị P đang đứng cúi người phía trước đầu xe ô tô, biển số 51C-951.10 kết quả bà P bị đa chấn thương và chết tại Bệnh viện Đ lúc 22 giờ 48 phút cùng ngày. Như vậy hành vi của bị cáo Đinh Xuân T đã đủ yếu tố cấu thành tội Vô ý làm chết người theo quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng số: 230/CT-VKS-DA ngày 11 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và luận tội của Kiểm sát viên đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[03] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng đã xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, nhân thân của người khác, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét đến các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[04] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có.

[05] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục thiệt hại cho bị hại; người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xem xét để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[06] Về nhân thân: Bị cáo là người lao động, đã từng bị xử phạt hành chính về hành vi đánh nhau, hiện đang nuôi con nhỏ nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt.

[07] Về hình phạt: Xét bị cáo Đinh Xuân T phạm tội nghiêm trọng, tuy nhiên bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo có địa chỉ nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian áp dụng lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú bị cáo luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước và địa phương. Bị cáo có đủ các điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành về án treo, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cần tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội được tự cải tạo dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương nơi cư trú cũng không làm ảnh hưởng đến việc đấu tranh phòng chống tội phạm tại địa phương, đồng thời cũng đủ sức răn đe giáo dục đối với bị cáo. Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An đối với bị cáo.

[08] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Đinh Xuân T đã bồi thường chi phí mai táng cho bà Nguyễn Thị P và tổn thất tinh thần cho người đại diện hợp pháp của bà P là 50.000.000 đồng. Anh Võ Minh T2 và chị Ngô Thị Thanh V đã hỗ trợ chi phí mai táng cho bà P số tiền là 130.000.000 đồng. Anh Nguyễn Linh P1 là người đại diện hợp pháp của bà P đã nhận đủ số tiền trên và không còn yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[09] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 xe ô tô tải cẩu, nhãn hiệu DAEWOO, biển số 51C-951.10, số khung KL3KC6C11FK000090, số máy 51E4228063 là tài sản hợp pháp của chị Ngô Thị Thanh V và anh Võ Minh T2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B trả lại xe tô tải cẩu, nhãn hiệu DAEWOO, biển số 51C-951.10 cho chủ sở hữu theo quy định.

[10] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An là phù hợp nên chấp nhận.

[11] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Đinh Xuân T phạm tội “Vô ý làm chết người”.

Căn cứ khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành về án treo.

Xử phạt bị cáo Đinh Xuân T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Đinh Xuân T cho Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp bị cáo Đinh Xuân T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố tình vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Hủy bỏ lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đối với bị cáo Đinh Xuân T.

2. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Đinh Xuân T phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Dĩ An (01);
  • - Phân trại tạm giam KVTP Dĩ An (03);
  • - Chi cục THA thành phố Dĩ An (01);
  • - TAND tỉnh Bình Dương (01);
  • - Người tham gia tố tụng (03);
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương (01);
  • - UBND bị cáo thường trú (01);
  • - Phòng PV 06 CA tỉnh Bình Dương (01);
  • - Lưu: VT, HSVA (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thị Liễng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 206/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG về vô ý làm chết người

  • Số bản án: 206/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vô ý làm chết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đinh Xuân T phạm tội Vô ý làm chết người
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger