Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 206/2025/HS-ST

Ngày: 15 – 4 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Cao Quốc Hưng
  2. Ông Võ Văn Lợi

– Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Lê Phong– Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 143/2025/HSST ngày 17 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 196/2025/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:

Phạm Trung Đ, sinh năm: 1993, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: C Đường số B, Khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 7/12; nghề nghiệp: Không; con ông không rõ và bà Phạm Kim C; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án: 01 tiền án.

Bản án số 156/HSST ngày 5/4/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/09/2023, đóng án phí ngày 14/9/2023.

Tiền sự: 01 tiền sự.

Quyết định số 17603/QĐ-XPHC ngày 09/9/2022 của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T phạt 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, Phạm Trung Đ chưa thi hành quyết định.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 24/01/2025 – Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Đinh Thị M, sinh năm 1985;

Địa chỉ: Số B, Đường số A, phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Bùi Văn M1, sinh năm 1967;

Địa chỉ: Số H, Đường số A, Khu phố B, phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài nên khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 08/01/2025, Phạm Trung Đ đi bộ đến trước khu vực cửa hàng T, địa chỉ E N, phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Đ nhìn thấy 01 (một) xe đạp thể thao sườn ngang, màu xanh đen, hiệu ASAMA của chị Đinh Thị M (sinh năm: 1985) đang dựng trước cửa hàng không người trông coi, xe đạp không có khóa nên Đ đã lến lút trộm chiếc xe đạp trên và mang đến trước địa chỉ số I Đường C, Khu phố H, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh bán cho ông Bùi Văn M1 (sinh năm: 1967) với giá 300.000 đồng rồi tiêu xài cá nhân hết.

Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 12/01/2025, Phạm Trung Đ đang đi trên đường L, phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Công an phường C tuần tra phát hiện Đan có biểu hiện nghi vấn nên đưa về trụ sở Công an phường C làm việc và Đ khai nhận hành vi trộm xe trên.

Ngày 12/01/2025, ông Bùi Văn M1 mang xe đạp thể thao sườn ngang, màu xanh đen, hiệu ASAMA đến Công an phường C giao nộp và khai nhận không biết xe đạp mua của Đ bán là do phạm tội mà có.

Bản kết luận định giá số 27/KV3/KL-HĐĐGTS ngày 20/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 (một) xe đạp thể thao sườn ngang, màu xanh đen, hiệu ASAMA trị giá 2.767.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố H, Phạm Trung Đ1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Vật chứng vụ án:

- 01 (một) xe đạp thể thao sườn ngang, màu xanh đen, hiệu ASAMA. Ngày 09/02/2025 Cơ quan điều tra đã trả lại xe trên cho trên cho chị Đinh Thị M là chủ sở hữu.

Về trách nhiệm dân sự: Chị Đinh Thị M đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu bồi thường. Ông Bùi Văn M1 không yêu cầu bồi thường.

Tại Cáo trạng số: 167CT-VKS.TPTĐ ngày 13 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phạm Trung Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phạm Trung Đ từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/01/2025.

Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Lời nới sau cùng: Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi theo cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.

Tại phiên toà bị hại là chị Đinh Thị M vắng mặt, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Bùi Văn M1 có đơn đề nghị vắng mặt. Xét thấy trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của chị M, ông M1. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị M, ông M1.

[2] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, bản ảnh, biên bản thực nghiệm điều tra, vật chứng thu giữ... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định: Khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 08/01/2025, trước nhà số E N, phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Phạm Trung Đ đã lén lút trộm 01 (một) xe đạp thể thao sườn ngang, màu xanh đen, hiệu ASAMA của chị Đinh Thị M trị giá 2.767.000 đồng. Sau đó, Đ bán cho ông Bùi Văn M1 với giá 300.000 đồng thì bị Công an phường C, thành phố T phát hiện bắt giữ.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn xã hội. Bị cáo có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng lưới lao động lại muốn có tiền tiêu xài nên đã cố ý, lén lút chiếm đoạt tài sản có giá trị 2.767.000 đồng của bị hại. Hành vi của bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt:

Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị 2.767.000 đồng nên bị đưa ra xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội trộm cắp tài sản, không lấy đó làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên cần xử phạt các bị cáo với mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội thêm một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) xe đạp thể thao sườn ngang, màu xanh đen, hiệu ASAMA do chị Đinh Thị M là chủ sở hữu. Ngày 09/02/2025, Cơ quan điều tra đã trả lại xe trên cho trên cho chị Đinh Thị M là căn cứ.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Chị Đinh Thị M đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường. Ông Bùi Văn M1 không yêu cầu bồi thường. Hội đồng xét xử không xem xét.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ông Bùi Văn M1 không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 300.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Trung Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    Xử phạt bị cáo Phạm Trung Đ: 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 24/01/2025.

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
    • Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
    • Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Công an thành phố Thủ Đức;
  • - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức;
  • - Phòng PV06, PC10 - Công an Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức;
  • - Thi hành án hình sự.
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Ngọc Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 206/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 206/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Trung Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger