Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 206/2025/HS-PT

Ngày: 28-5-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thương Huyền

Các Thẩm phán:1/ Bà Đoàn Thị Hương Giang

2/ Bà Nguyễn Huỳnh Mai Tâm Quyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 104/2025/TLPT-HS, ngày 27/03/2025 đối với các bị cáo Dương Minh T, Nguyễn Thanh H, Trần Văn B, Võ Minh Đ và Phạm Thanh S do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo có kháng cáo:

1/ DƯƠNG MINH T (tên gọi khác: Chích); sinh ngày: 06/4/1992 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: Nhà không số, Tổ A, ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện tại: ấp T, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm muối; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn M và bà Phạm Thị G; bị cáo có vợ và 01 con sinh năm 2021; tiền án: không; tiền sự: không.

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/12/2023 đến nay. Bị cáo tại ngoại. (Có mặt)

2/ Nguyễn Thanh H; sinh ngày: 09/9/1979 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: Nhà không số, Tổ I, ấp T, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: viên chức; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn X và bà Đoàn Thị S1; có vợ và 02 con (con lớn sinh năm 2016 và con nhỏ sinh năm 2019); tiền án: không; tiền sự: không.

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/12/2023 đến nay. Bị cáo tại ngoại. (Có mặt)

3/ Họ tên: Trần Văn B (tên gọi khác: C1); sinh ngày: 10/01/1979 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: Nhà không số, Tổ B, ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm muối; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn C và bà Phạm Thị M1; bị cáo có vợ và 01 con sinh năm 2011; tiền án: không; tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 09 tháng 4 năm 2018 bị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi tụ tập nơi đông người xem đá gà thắng thua bằng tiền gây mất trật tự nơi công cộng theo Quyết định số 0029012/QĐ-XPVPHC; Ngày 30 tháng 11 năm 2021 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện C xử phạt vi phạm hành chính 7.500.000 đồng về hành vi tổ chức đá gà thắng thua bằng tiền theo Quyết định số: 1478/QĐ-XPVPHC.

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 13/12/2023 đến nay. Bị cáo tại ngoại. (Có mặt)

4/ Họ tên: Võ Minh Đ; sinh ngày: 11/8/1985 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: Nhà không số, Tổ B, ấp T, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn H1 và bà Nguyễn Thị H2; bị cáo có vợ và 03 con, con lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án: không; tiền sự: Ngày 26 tháng 5 năm 2022 bị Công an xã L xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc theo Quyết định số 12/QĐ-XPHC; Ngày 16 tháng 5 năm 2022 bị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính 6.500.000 đồng về hành vi Cố ý gây thương tích theo Quyết định số 0019785/QĐ-XPHC.

Nhân thân: Ngày 07/3/2017 Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc theo Quyết định số 0007474/QĐ-XPHC); Ngày 25/4/2019 bị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc theo Quyết định số 0038327/QĐ-XPVPHC); Ngày 13 tháng 8 năm 2015 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ” theo Bản án số 476/2015/HSPT.

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 31/7/2024 đến nay. Bị cáo tại ngoại. (Có mặt)

5/ Họ tên: Phạm Thanh S (tên gọi khác: Cọp); giới tính: Nam; sinh ngày: 18/4/1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: Nhà không số, Tổ C, ấp T, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Gánh muối; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T1 (chết) và bà Nguyễn Thị Ú; bị cáo có vợ và 01 con, sinh năm 2020; tiền án: không; tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 13/11/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng (Bản án số 32/2014/HSST)

- Các bị cáo không có kháng cáo, không bị kháng nghị:

  1. 1/ Họ tên: Phạm Trường C1, tên gọi khác: không có; sinh ngày: 23/9/2002 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: Nhà không số, Tổ A, ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh;

  2. 2/ Họ tên: Lê Phước H3, tên gọi khác: không có; sinh ngày: 23/5/1988 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: Nhà không số, Tổ I, ấp T, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh;

  3. 3/ Họ tên: Trần Văn Đ1, tên gọi khác: Xệ; sinh ngày: 10/4/1982 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: Nhà không số, Tổ D, ấp T, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh;

  4. 4/ Họ tên: Nguyễn Hoàng K, tên gọi khác: không có; sinh ngày: 21/11/1987 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: Nhà không số, Tổ A, ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh;

  5. 5/ Họ tên: Phạm Văn D, tên gọi khác: không có; sinh ngày: 14/8/1955 tại tỉnh Long An; Nơi thường trú: Nhà không số, Tổ A, ấp T, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh;

  6. 6/ Họ tên: Phạm Văn T2, tên gọi khác: M2; sinh ngày: 15/7/1971 tại tỉnh Long An; Nơi thường trú: Nhà không số, Tổ A, ấp T, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh;

  7. 7/ Họ tên: Huỳnh Văn Tèo E, tên gọi khác: không có; sinh ngày: 02/01/1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 29/10/2023, Dương Minh T chuẩn bị sẵn cân, băng keo, địa điểm để tổ chức đá gà được thua bằng tiền nhằm thu tiền hưởng lợi. T biết được Phạm Trường C1 có con gà cân nặng 3,2kg nên tìm kèo để đá. Khoảng 11 giờ cùng ngày, khi T đang ở nhà tại ấp L, xã L cùng với bạn là Phạm Thanh S, S nói biết Nguyễn Thanh H có con gà cân nặng khoảng 3,2kg thì T kêu S gọi điện thoại hỏi H có đá gà không, khi H trả lời có thì T hẹn địa điểm rồi gọi điện thoại rủ C1 đem gà đến đá. Trong khoảng thời gian từ 11 giờ 20 phút đến 11 giờ 50 phút ngày 29/10/2023, Dương Minh T đã tổ chức 02 trận đá gà được, thua bằng tiền cho nhiều người tham gia, cụ thể như sau:

Trận thứ nhất: Diễn ra khoảng 11 giờ 20 phút, giữa con gà cân nặng 3,2kg của Phạm Trường C1 đá với con gà cân nặng 3,3kg của Nguyễn Thanh H. Gà của C1 do Huỳnh Văn T3 Em ôm gà cho C1 quấn cựa, thả gà. Gà của H do H ôm gà cho Phạm Thanh S quấn cựa, H thả gà. Tỉ lệ cá cược gà của H chấp gà của C1 10 thắng 9. Số tiền cá cược đá Xổ mỗi bên 2.000.000 đồng, nhưng do tỉ lệ chấp nên H bỏ ra 2.000.000 đồng, còn C1 bỏ ra 1.800.000 đồng. Số tiền đá Ngoài mỗi bên 10.000.000 đồng nhưng do gà của H chấp 10 thắng 9, nên bên gà của H bỏ ra 10.000.000 đồng do H tự bỏ ra, bên gà của C1 chỉ phải bỏ ra 9.000.000 đồng, những người tham gia đá Ngoài bên gà của C1 gồm Phạm Trường C1 900.000 đồng, Lê Phước H3 2.700.000 đồng, Trần Văn Đ1 gọi điện thoại rủ Phạm Minh T4 hùn tham gia 2.700.000 đồng (mỗi người góp 1.350.000 đồng), Nguyễn Hoàng K 450.000 đồng, Trần Văn B, Phạm Văn D hùn nhau tham gia 1.800.000 đồng (Ba góp 1.350.000 đồng, D góp 450.000 đồng), Dương Minh T 450.000 đồng. Tổng số tiền cá cược trong trận này là 22.800.000 đồng. Kết quả gà của C1 đá thắng, H đưa cho T 12.100.000 đồng, trong đó 12.000.000 đồng là tiền thua cược, 100.000 đồng là tiền trọng tài. T giữ lại 1.250.000 đồng, trong đó 500.000 đồng tiền thắng cược, 750.000 đồng tiền hưởng lợi từ việc tổ chức đá gà. Còn lại 10.850.000 đồng, T đưa cho những người thắng cược gồm C1 2.750.000 đồng, Đ1 2.850.000 đồng, Hội 2.850.000 đồng, K 500.000 đồng, Ba 1.900.000 đồng.

Trận thứ hai: Cũng tại địa điểm trên, sau khi đá xong trận thứ nhất Nguyễn Hoàng K nói có con gà cân nặng 2,3kg cần tìm kèo đá, Dương Minh T biết Phạm Trường C1 có gà nên nói C1 về nhà bắt gà ra để đá. Trận gà diễn ra khoảng 11 giờ 50 phút cùng ngày, giữa con gà cân nặng 2,3kg của C1 đá với con gà cân nặng 2,3kg của K. Gà của C1 do Huỳnh Văn T3 Em ôm gà cho C1 quấn cựa, thả gà, bên gà của K do K ôm gà cho Võ Minh Đ quấn cựa, thả gà. Tỉ lệ cá cược đá Xổ đồng mỗi bên 2.000.000 đồng, tiền cá cược bên gà của C1 do T bỏ ra 1.000.000 đồng, Lê Phước H3 bỏ ra 1.000.000 đồng, bên gà của K do K tự bỏ ra 2.000.000 đồng. Ngoài ra, Dương Minh T còn cá cược thay cho Trần Văn B chọn gà của C1 đá Ngoài 1.000.000 đồng với bên phía gà của K gồm Nguyễn Thành L 500.000 đồng và một người thanh niên không rõ họ tên 500.000 đồng. Khi trận gà vừa kết thúc, gà của C1 thắng nhưng chưa kịp giao nhận tiền thì bị lực lượng Công an vào kiểm tra phát hiện.

Quá trình điều tra xác định, Dương Minh T đã chuẩn bị cân, băng keo, rủ rê người tham gia đá gà, đứng ra thỏa thuận đặt cược giữa 2 bên và giao nhận tiền thắng, thua, đồng thời T cũng tham gia đặt cược. Theo thỏa thuận với số tiền đá Xổ mỗi bên 2.000.000 đồng thì T sẽ thu của bên thắng 200.000 đồng, thu của bên thua 100.000 đồng. Đối với số tiền đá Ngoài thì T thu của bên thắng 50.000 đồng trên 1.000.000 đồng tiền cược, không thu của bên thua và người tham gia dưới 1.000.000 đồng. Việc cân gà, đếm thả gà và quyết định thắng thua do hai bên đá gà tự thực hiện.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của Tòa án nhân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

  • - Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 322; khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với tội đánh bạc;

  • Tuyên bố bị cáo Dương Minh T phạm tội “Tổ chức đánh bạc” và tội “Đánh bạc";

  • (1) Xử phạt: Dương Minh T 01 (một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc” và 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành là 01 (một) năm 06 (sáu) tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt để thi hành án.

  • Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thanh H, Phạm Trường C1, Trần Văn B, Võ Minh Đ, Phạm Thanh S phạm tội “Đánh bạc”.

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Nguyễn Thanh H;

  • (2) Xử phạt: Nguyễn Thanh H 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt để thi hành án.

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Phạm Trường C1, Trần Văn B;

  • (3) Xử phạt: Phạm Trường C1 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt để thi hành án.

  • (4) Xử phạt: Trần Văn B 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt để thi hành án.

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Phạm Thanh S;

  • (5) Xử phạt: Phạm Thanh S 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt để thi hành án.

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Võ Minh Đ.

  • (6) Xử phạt: Võ Minh Đ 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt để thi hành án.

  • Tuyên bố các bị cáo Lê Phước H3, Trần Văn Đ1, Nguyễn Hoàng K, Phạm Văn D, Phạm Văn T2, Huỳnh Văn T3 Em phạm tội “Đánh bạc”;

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Lê Phước H3, Trần Văn Đ1, Phạm Văn D;

  • (7) Xử phạt: Lê Phước H3 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án;

  • (8) Xử phạt: Trần Văn Đ1 07 (bảy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 02 (hai) tháng, tính từ ngày tuyên án.

  • (9) Xử phạt: Phạm Văn D 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án.

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Nguyễn Hoàng K, Phạm Văn T2 và Huỳnh Văn Tèo E;

  • (10) Xử phạt: Nguyễn Hoàng K 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án;

  • (11) Xử phạt: Phạm Văn T2 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án;

  • (12) Xử phạt: Huỳnh Văn T3 Em 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án;

Ngoài ra, Bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về chế định án treo, xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Cùng ngày 24/01/2025, các bị cáo Dương Minh T, Nguyễn Thanh H, Võ Minh Đ, Phạm Thanh S có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo; bị cáo Trần Văn B có đơn kháng cáo xin cho hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã xác định và vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

  • - Bị cáo Dương Minh T trình bày lý do kháng cáo: Cấp sơ thẩm chưa xem xét tình tiết bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng với số tiền đánh bạc không lớn; đối với hành vi tổ chức đánh bạc thì bị cáo chỉ mang theo cân và lấy băng keo có sẵn ở gần chỗ đá gà, không chuẩn bị cựa sắt, không phân công nhiệm vụ cụ thể mà việc tổ chức chỉ giản đơn; về hoàn cảnh gia đình thì bị cáo là lao động chính trong gia đình, có con nhỏ dưới 36 tháng tuổi.

  • - Bị cáo Nguyễn Thanh H trình bày lý do kháng cáo: Cấp sơ thẩm chưa xem xét tình tiết bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có thành tích xuất sắc trong công tác; bị cáo là lao động chính trong gia đình, có 02 con nhỏ.

  • - Bị cáo Trần Văn B trình bày lý do kháng cáo: Hiện có hoàn cảnh gia đình khó khăn, là lao động chính trong gia đình, cha mẹ đã già yếu.

  • - Bị cáo Võ Minh Đ trình bày lý do kháng cáo: Cấp sơ thẩm chưa xem xét tình tiết bị cáo đã tích cực hợp tác điều tra, bị cáo không phải là người tổ chức và không trực tiếp đánh bạc, bị cáo chỉ phụ quấn cựa và thả gà nhưng không được trả công gì; về hoàn cảnh gia đình bị cáo là lao động chính, có 03 con nhỏ, trong đó có 01 con chưa đủ 36 tháng tuổi.

  • - Bị cáo Phạm Thanh S trình bày lý do kháng cáo: Cấp sơ thẩm chưa xem xét tình tiết bị cáo đã tích cực hợp tác điều tra, bị cáo không phải là người tổ chức và không trực tiếp đánh bạc, bị cáo chỉ phụ quấn cựa trong trận đá gà đầu tiên nhưng không được trả công gì; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; là lao động chính trong gia đình, có hoàn cảnh khó khăn.

  • - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa đưa ra ý kiến phát biểu: Sau khi xem xét tất cả lời khai, tình tiết trong hồ sơ vụ án, nhận thấy bản án sơ thẩm đã tuyên là đúng người, đúng tội và mức án phù hợp với tính chất cũng như mức độ của hậu quả đã xảy ra. Từ đó, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo và y án sơ thẩm.

Các bị cáo đều không bào chữa bổ sung, lời nói sau cùng đều xin giảm hình phạt và cho hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Ngày 23/01/2025, Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm. Đến ngày 24/01/2025, các bị cáo Dương Minh T, Nguyễn Thanh H, Võ Minh Đ, Phạm Thanh S có đơn kháng cáo về hình phạt. Đơn kháng cáo của các bị cáo được lập trong trong thời hạn luật định nên hợp lệ.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản án sơ thẩm đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đọan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm. Phù hợp với các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ vụ án án, do đó, có đủ cơ sở để kết luận:

  • - Bị cáo Dương Minh T đã thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc trái phép được thua bằng tiền, dưới hình thức cá cược đá gà trong hai trận. Trận thứ nhất T đã tổ chức cho 09 người đánh bạc trái phép với nhau, tổng số tiền dùng đánh bạc trong trận này là 22.800.000 đồng; trong đó đá xổ 3.800.000 đồng, đá ngoài 19.000.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo Dương Minh T thực hiện đã phạm vào tội “Tổ chức đánh bạc”, thuộc trường hợp tổng số tiền, hiện vật dùng đánh bạc trong cùng một lần trị giá 20.000.000 đồng trở lên, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo T còn tham gia đánh bạc trong trận thứ nhất, bị cáo cá cược đá ngoài là 450.000 đồng nên bị cáo phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Đối với trận thứ hai thì hành vi của bị cáo không cấu thành tội phạm.

  • - Bị cáo Nguyễn Thanh H đã tham gia đánh bạc với số tiền bị cáo dùng để đánh bạc là 12.000.000 đồng, trong đó cá cược đã xổ là 2.000.000 đồng và cá cược đá ngoài là 10.000.000 đồng.

  • - Bị cáo Trần Văn B đã tham gia cá cược tại trận thứ nhất, bị cáo dùng số tiền cá cược đá ngoài là 1.350.000 đồng. Do đó, hành vi của các bị cáo thực hiện đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Đối với trận thứ hai thì hành vi của bị cáo không cấu thành tội phạm.

  • - Bị cáo Võ Minh Đ giúp sức cho bị cáo Nguyễn Hoàng K đánh bạc trong trận đá gà thứ hai, mặc dù số tiền dùng đánh bạc trong trận này dưới 5.000.000 đồng nhưng bản thân bị cáo Đ đã bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc, chưa được coi là hết hạn xử lý vi phạm hành chính. Do đó, hành vi của bị cáo Võ Minh Đ thực hiện đã phạm vào tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

  • - Bị cáo Phạm Thanh S không trực tiếp tham gia đánh bạc nhưng đã giúp sức cho Nguyễn Thanh H trong việc đánh bạc trái phép nên phải chịu trách nhiệm hình sự với vai trò đồng phạm với bị cáo Nguyễn Thanh H về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Do đó, Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ đã xét xử các bị cáo theo các tội danh và điều khoản nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét đơn kháng cáo của bị cáo:

Trong đơn kháng cáo và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Xét kháng cáo của các bị cáo:

  • Đối với bị cáo Dương Minh T: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tuy nhiên bị cáo là người tổ chức cho các con bạc đánh bạc, bản thân bị cáo cũng tham gia đánh bạc. Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt đối với cả hai tội làTổ chức đánh bạc và Đánh bạc nên không có căn cứ để giảm nhẹ cho bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt. Bị cáo phạm 02 tội, trong đó có 01 tội nghiêm trọng nên không đủ điều kiện được hưởng án treo. Do vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm đối với bị cáo.

  • Đối với bị cáo Nguyễn Thanh H: Bị cáo phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có vi phạm gì, có nơi cú trú rõ ràng, đủ điều kiện cho hưởng án treo. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo, dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú là phù hợp.

  • Đối với bị cáo Trần Văn B: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo ăn năn hối cải. Tuy bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tổ chức đánh bạc nhưng bị cáo đã chấp hành xong quyết định xử phạt vi phạm hành chính trên 01 năm mới thực hiện hành vi phạm tội, do vậy được coi là chưa xử lý vi phạm hành chính. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo nộp giấy xác nhận lao động chính trong gia đình, có người thân là người có công với cách mạng, bản thân bị cáo đang điều trị bệnh xoang, Đây là các tình tiết mới phát sinh sau khi xét xử sơ thẩm. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, đủ điều kiện cho hưởng án treo. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú là phù hợp.

  • Đối với bị cáo Phạm Thanh S: Bị cáo không tham gia cá cược mà tham gia với vai trò đồng phạm giúp sức cho Nguyễn Thanh H; sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có trình độ văn hóa thấp. Tuy bị cáo tuy đã bị Tòa án xử phạt về tội đánh bạc nhưng đã được xóa án tích nhiều năm, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, là lao động chính trong gia đình. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp tài liệu thể hiện có người thân là người có công với cách mạng (bác ruột là liệt sĩ). Xét thấy đây là tình tiết mới phát sinh sau khi xét xử sơ thẩm nên đủ điều kiện cho bị cáo được hưởng án treo. Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, cho bị cáo được hưởng án treo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

  • Đối với bị cáo Võ Minh Đ: Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là lao động chính trong gia đình nhưng bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị phạt tù giam và 04 lần bị xử phạt vi phạm hành chính, trong đó 02 quyết định xử phạt vi phạm hành chính chưa được xóa (bị xác định là 02 tiền sự) nên bị cáo không đủ điều kiện được hưởng án treo. Do vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo.

[4] Về án phí: Do chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh H, Phạm Văn B1 và Phạm Thành S2 nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Do không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Dương Minh T và Võ Minh Đ nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điều 356; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

    Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Dương Minh T và Võ Minh Đ; Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thanh H, Trần Văn B và Phạm Thanh S.

    Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh đối với hình phạt của các bị cáo Nguyễn Thanh H, Trần Văn B, và Phạm Thanh S.

  2. Về hình phạt:

    1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

      Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

      Xử phạt: Dương Minh T 01 (một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc” và 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội, buộc bị cáo phải chấp hành là 01 (một) năm 06 (sáu) tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt để thi hành án.

    2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

      Xử phạt: Võ Minh Đ 07 (bảy) tháng tù về tội “Đánh bạc, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

    3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,

      Xử phạt: Nguyễn Thanh H 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

    4. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,

      Xử phạt: Trần Văn B 07 (bảy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 02 (hai) tháng, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

    5. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,

      Xử phạt: Phạm Thanh S 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.

    Giao các bị cáo Nguyễn Thanh H, Trần Văn B và Phạm Thanh S cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Toà án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015. đã sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  3. Về án phí:

    Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

    Bị cáo Dương Minh T, Võ Minh Đ phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng. Các bị cáo Nguyễn Thanh H, Trần Văn B và Phạm Thanh S không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các nội dung khác của Bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

(Chủ tọa giải thích chế định án treo).

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao; (1)
  • - TAND cấp cao tại Tp.HCM; (1)
  • - VKSND cấp cao tại Tp.HCM; (1)
  • - TAND huyện Cần Giờ; (1)
  • - VKSND Tp.HCM; (3)
  • - VKSND huyện Cần Giờ; (1)
  • - P.PV06 - CA TP.HCM; (1)
  • - Chi cục THA huyện Cần Giờ; (1)
  • - Bị cáo; (5)
  • - Sở Tư pháp; (1)
  • - Lưu: VT, THS, hồ sơ. (21) (5)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thương Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 206/2025/HS-PT ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (tổ chức đánh bạc và đánh bạc)

  • Số bản án: 206/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tổ chức đánh bạc và Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Dương Minh T phạm tội Tổ chức đánh bạc và đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger