Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 206/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 27-06-2025

“V/v: Ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Cường

Ông Nguyễn Việt Cường

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bách Thiện Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 175/2025/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 05 năm 2025 về việc “Ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2025/QĐXX-ST ngày 03/06/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20/06/2025 giữa:

Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Hồng H, sinh ngày 03/02/1985

Căn cước công dân số [...] do Bộ C cấp ngày 17/02/2025. Nơi thường trú và nơi ở hiện nay: Thôn N, xã L, huyện T, thành phố Hà Nội. Chị H có đơn xin vắng mặt.

Bị đơn: Anh Hoàng Chung T, sinh ngày 26/07/1983

Căn cước công dân số [...] do Cục Cảnh sát QLHC về TTXH cấp ngày 18/12/2021. Nơi thường trú: Thôn N, xã L, huyện T, thành phố Hà Nội. Hiện ở: nước ngoài. Anh T vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn xin ly hôn và bản tự khai, chị Bùi Thị Hồng H trình bày:

- Về tình cảm: Tôi và anh Hoàng Chung T kết hôn trên cơ sở tự nguyện có tìm hiểu, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, T, H (nay là Hà Nội) cấp Giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 13/02/2006. Trong quá trình chung sống của vợ chồng chúng tôi chỉ hạnh phúc được một thời gian đầu, sau đó thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do kinh tế khó khăn, tôi và anh T bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Năm 2024, anh T đi lao động tại nước ngoài, hiện anh T ở đâu thì tôi không rõ. Nay, tôi nhận thấy mâu thuẫn đã rất trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được nên tôi đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xem xét, giải quyết cho tôi được ly hôn với anh T để chúng tôi sớm ổn định cuộc sống của bản thân.

- Về con chung: Tôi và anh Hoàng Chung T có 02 con chung là cháu Hoàng Bùi Hà M, sinh ngày 21/12/2006 và cháu Hoàng Minh D, sinh ngày 23/09/2008. Hiện nay các cháu đang ở với tôi. Cháu M hiện đã trưởng thành nên tôi không đề nghị Tòa án giải quyết. Khi ly hôn, tôi đề nghị Tòa án giao cháu D cho tôi trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng các cháu đến khi trưởng thành. Tôi không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, công nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí ly hôn: Tôi tự nguyện chịu toàn bộ tiền án phí ly hôn.

* Bị đơn là anh Hoàng Chung T vắng mặt tại phiên tòa và toàn bộ quá trình tố tụng nên không có lời khai: Anh Hoàng Quang V là anh trai của anh Hoàng Chung T trình bày theo anh được biết hiện nay chị Bùi Thị Hồng H có đơn xin ly hôn với anh Hoàng Chung T. Anh T đã đi lao động tại nước ngoài từ khoảng tháng 3/2024 đến nay chưa về Việt Nam. Anh T vẫn liên lạc với anh V qua điện thoại nên anh V đồng ý nhận các văn bản của Tòa án và cam kết chụp để gửi cho anh T được biết thời gian tiến hành tố tụng của Tòa án. Anh V không có ý kiến trình bày về việc ly hôn của anh T và chị H.

* Tại Công văn số 6042/QLXNC-QLXC ngày 30/05/2025 của Phòng quản lý xuất nhập cảnh Công an thành phố H thể hiện: Anh Hoàng Chung T (sinh ngày 26/7/1983; Căn cước công dân số [...]; HKTT: Lại Thượng, T, Hà Nội) xuất cảnh lần gần nhất là ngày 21/3/2024 qua cửa khẩu Sân bay quốc tế T1, hiện chưa có thông tin nhập cảnh.

* Tại phiên tòa:

- Chị Bùi Thị Hồng H có đơn xin giải quyết vắng mặt và giữ nguyên quan điểm như đã trình bày trong các bản tự khai.

- Anh Hoàng Chung T vắng mặt không có lý do. Chị H và gia đình anh T đều không biết địa chỉ cụ thể hiện nay của anh T nên không cung cấp cho Tòa án được. Tòa án đã giao các văn bản tố tụng của Tòa án thông qua anh V là anh trai của anh T để thông báo cho anh T được biết. Anh V đã đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án để thông báo cho anh T.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Do anh Hoàng Chung T đang ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Trong quá trình giải quyết Thẩm phán, Hội đồng xét xử và nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Chị Bùi Thị Hồng H và anh Hoàng Chung T đăng ký kết hôn hợp pháp tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội) vào ngày 13/02/2006. Xét cuộc sống chung vợ chồng không có, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng ly thân đã lâu vợ chồng không có biện pháp giải quyết nên yêu cầu xin ly hôn của chị H là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận. Về con chung: Anh chị có 02 con chung là cháu Hoàng Bùi Hà M, sinh ngày 21/12/2006 và cháu Hoàng Minh D, sinh ngày 23/09/2008. Cháu M đã trưởng thành nên đề nghị HĐXX không xem xét. Ly hôn, chị H xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung không yêu cầu anh T phải đóng tiền cấp dưỡng nuôi con, đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận. Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xét. Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Chị Bùi Thị Hồng H có đơn xin ly hôn với anh Hoàng Chung T do anh T đang làm việc tại nước ngoài nên theo quy định tại khoản 3 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Quá trình giải quyết vụ án, chị H không cung cấp được địa chỉ của anh T tại nước ngoài. Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã yêu cầu chị H và gia đình anh T cung cấp địa chỉ, nhưng chị H và gia đình anh T không cung cấp được. Anh Hoàng Quang V là anh trai anh T xác định anh T vẫn liên lạc với anh qua điện thoại và anh V đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án để thông báo cho anh T. Anh T không cung cấp địa chỉ và không gửi ý kiến trình bày bằng văn bản cho Tòa án. Do vậy, căn cứ Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội tiến hành giải quyết vụ án theo quy định.

[1.3] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, chị H có đơn xin vắng mặt, anh T đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng thông qua gia đình nhưng vẫn vắng mặt. Do vậy, căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh T theo quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị Hồng H và anh Hoàng Chung T kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội) vào ngày 13/02/2006 nên là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống, chị H xác định vợ chồng đã xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo chị H trình bày là do vợ chồng anh chị bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung. Vợ chồng không còn chung sống cùng nhau từ năm 2024. Nay chị H xác định tình cảm vợ chồng không còn và có đơn xin ly hôn anh T. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa anh T và chị H nay đã trầm trọng, anh chị không còn yêu thương, quan tâm, chia sẻ, giúp đỡ nhau trong cuộc sống, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2024 đến nay, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần chấp nhận cho chị H được ly hôn anh T là phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.2] Về con chung: Chị Bùi Thị Hồng H và anh Hoàng Chung T có 02 con chung là cháu Hoàng Bùi Hà M, sinh ngày 21/12/2006 và cháu Hoàng Minh D, sinh ngày 23/09/2008. Cháu M đã trưởng thành nên Tòa án không xem xét. Hiện cháu D đang ở với gia đình chị H. Sau khi ly hôn, chị H xin được trực tiếp nuôi cháu D. Anh T không có quan điểm về việc nuôi con. Xét thấy hiện cháu D đang sinh sống ổn định cùng gia đình chị H và có nguyện vọng ở cùng với mẹ. Do đó, để đảm bảo quyền lợi tốt nhất cho các con, cần giao cháu D cho chị H là phù hợp. Chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét. Anh T có quyền đi lại, thăm nom con chung, không ai có quyền ngăn cản.

[2.3] Về tài sản chung, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Chị Bùi Thị Hồng H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 104 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Về tình cảm: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Bùi Thị Hồng H đối với anh Hoàng Chung T. Chị Bùi Thị Hồng H được ly hôn anh Hoàng Chung T.
  2. Về con chung: Giao con chung là cháu Hoàng Minh D, sinh ngày 23/09/2008 cho chị Bùi Thị Hồng H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật. Chị H không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét. Anh T có quyền đi lại, thăm nom con chung, không ai có quyền ngăn cản. Cháu Hoàng Bùi Hà M, sinh ngày 21/12/2006 đã trưởng thành nên Tòa án không xem xét.
  3. Về tài sản chung, công nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xét.
  4. Về án phí: Chị Bùi Thị Hồng H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ với số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số 0079573 ngày 23 tháng 05 năm 2025 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội. Chị H đã nộp đủ án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị Hồng H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Hoàng Chung T được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 30 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND TP. Hà Nội;
  • - Cục THADS TP. Hà Nội;
  • - UBND xã Lại Thượng, huyện Thạch Thất, Hà Nội;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 206/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn

  • Số bản án: 206/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger