|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH THÀNH PHỐ HÀ NỘI ------- *&*=== |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc ------- *&* |
Bản án số: 206/2025/HNGĐ-ST
Ngày 23/6/2025
V/v ly xin hôn giữa anh Tuyền với chị Yên.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên Tòa: Bà Mầu Thị Hải Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hà; ông Trần Văn Khánh
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng - Thư ký TAND huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh tham gia phiên tòa: không tham gia.
Ngày 23 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mê Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 157/2025/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 5 năm 2025 về tranh chấp xin ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 70/2025/QĐXX- ST ngày 09 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Anh Trần Đình T (T1) sinh năm 1989 (có mặt)
- HKTT: thôn C, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội
- - Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1992 (có mặt)
- HKTT: thôn C, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện ngày 08/5/2025 và bản tự khai, các buổi hòa giải nguyên đơn anh Trần Đình T trình bày:
Anh Trần Đình T kết hôn với chị Nguyễn Thị Y ngày 15/10/2013, có được tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Cưới xong, chị Y về nhà chồng làm dâu, vợ chồng thuê nhà trọ ở riêng và không ở cùng bố mẹ. Sau đó vợ chồng anh xây nhà ở ổn định cho đến nay. Quá trình chung sống từ khi kết hôn hạnh phúc đến năm 2022. Kể từ khoảng giữa năm 2022 chị Y có tự ý vay mượn tiền của anh, em, gia đình và ngân hàng để chơi bời không nhằm mục đích xây dựng gia đình, hôn nhân và không nói cho anh T biết, đến khoảng tháng 10/2022, anh T có phát hiện và cùng gia đình bàn bạc và khuyên bảo tuy nhiên chị Y luôn giấu diếm không nói mặc dù gia đình đã nhiều lần hỏi và động viên vẫn không có tiến triển. Vì vậy tình cảm vợ chồng rạn nứt dẫn đến cãi vã, không còn tôn trọng nhau, mục đích hôn nhân không được như mong muốn. Chính vì vậy anh T xác định tình cảm vợ chồng không còn đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Y.
Về con chung: có 03 con chung Trần Nguyễn Huyền T2 sinh ngày 01/06/2016; Trần Tuệ M sinh ngày 24/10/2018; Trần Tuệ N sinh ngày 14/02/2024.
Quan điểm của anh T: Vợ chồng ly hôn anh xin nuôi cả 03 con, không yêu cầu chị Y đóng góp nuôi con chung cùng anh. Hiện nay anh T làm công nhân thu nhập bình quân 13.000.000đồng/tháng.
Về tài sản chung: Anh T xác định vợ chồng tự thống nhất thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản riêng, đất canh tác, công nợ, công sức: Anh T xác định không có không yêu cầu giải quyết.
- Bị đơn chị Nguyễn Thị Y trình bày: Chị thừa nhận lời trình bày của anh T về thời gian kết hôn là đúng. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến tháng 03/2025 phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do chị Y chơi bời dẫn đến nợ nần, anh T có biểu hiện chán nản. Khoảng tháng 4/2025 anh T có liên lạc nhắn tin tình cảm với người yêu cũ, tình cảm vợ chồng mâu thuẫn nhiều hơn. Việc anh T có đơn xin ly hôn, chị Y không đồng ý vì các con của anh chị còn quá nhỏ, con út mới có 15 tháng tuổi. Mặt khác, chị Y vẫn còn tình cảm yêu thương anh T nên không muốn ly hôn. Trường hợp anh T kiên quyết xin ly hôn chị Y cũng không nhất trí. Chị nhờ Toà án hoà giải để vợ chồng về đoàn tụ nuôi dạy con cái.
Về con chung: có 03 con chung Trần Nguyễn Huyền T2 sinh ngày 01/06/2016; Trần Tuệ M sinh ngày 24/10/2018; Trần Tuệ N sinh ngày 14/02/2024.
Quan điểm của chị Y: Vợ chồng ly hôn chị xin nuôi con Trần Tuệ N, anh T nuôi con Trần Nguyễn Huyền T2 và Trần Tuệ M. Không ai phải đóng góp nuôi con chung cùng ai. Hiện nay chị làm công nhân thu nhập bình quân 12.000.000-13.000.000đồng/tháng.
Về tài sản chung: chị Y xác định vợ chồng tự thống nhất thoả thuận không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản riêng, đất canh tác, công nợ, công sức: chị Y xác định không có không yêu cầu giải quyết.
Tại phiên tòa anh T vẫn giữ quan điểm xin ly hôn chị Y, về con chung quá trình giải quyết anh xin nuôi 03 con nhưng tại phiên toà anh T xin nuôi 02 con Trần Nguyễn Huyền T2, Trần Tuệ M còn chị Y nuôi con Trần Tuệ N. Không ai phải đóng góp nuôi con chung cùng ai. Về tài sản chung vợ chồng tự thống nhất thoả thuận không yêu cầu toà án giải quyết, tài sản riêng, đất canh tác, công sức công nợ anh T xác định không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà bị đơn chị Y xin thay đổi quan điểm, chị đồng ý ly hôn với anh T. Vợ chồng ly hôn chị để anh T nuôi cả ba con, chị Y đóng góp nuôi con chung 3.000.000đ/tháng/3con. Về tài sản chung vợ chồng tự thống nhất thoả thuận không yêu cầu toà án giải quyết, tài sản riêng, đất canh tác, công sức công nợ chị Y xác định không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh không tham gia.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1]. Về áp dụng pháp luật tố tụng: yêu cầu xin ly hôn của anh Trần Đình T với chị Nguyễn Thị Y, hiện đang sinh sống tại địa chỉ thôn C, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Do vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội.
- [2]. Về pháp luật áp dụng giải quyết vụ án: Ngày 08/5/2025, anh Trần Đình T có đơn xin ly hôn chị Nguyễn Thị Y. Vì vậy pháp luật áp dụng để giải quyết là Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- [3]. Về thủ tục tố tụng: các đương sự đều chấp hành đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: anh T kết hôn với chị Y ngày 15/10/2013 trên cơ sở tự nguyện đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện M, thành phố Hà Nội, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, anh T cho rằng chị Y vay tiền của bạn bè, anh em trong gia đình và ngân hàng để chơi bời không nhằm mục đích xây dựng gia đình và dấu anh T không cho biết, khi anh phát hiện được thì chị Y không nói thật. Anh T và gia đình đã khuyên bảo, động viên nhưng chị Y vẫn không tiến triển. Về phía chị Y xác định chị có lỗi trong việc vay mượn tiền của bạn bè nhưng không nói cho anh T biết, nhưng khi anh và gia đình phát hiện ra thì chị đã nói hết với anh rồi nhưng anh T không tin. Chị Y xác nhận vẫn còn tình cảm yêu thương anh T nên không đồng ý ly hôn, mặt khác các con của anh chị còn quá nhỏ, con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất mới được 15 tháng tuổi, chị không muốn các con phải khổ. Chị Y cho rằng việc anh T xin ly hôn chị nguyên nhân do chị chơi bời dẫn đến nợ nần chỉ là lí do nhỏ, còn anh T đã có nhiều lần nhắn tin tình cảm với người yêu cũ nên về kiên quyết xin ly hôn chị. Quá trình giải quyết chị Y không đồng ý ly hôn, chị xin đoàn tụ. Nhưng tại phiên toà hôm nay, chị Y thay đổi quan điểm chị đồng ý ly hôn anh T vì vợ chồng không thể hàn gắn được. Việc anh T xin ly hôn chị nhất trí.
- Hội đồng xét xử nhận thấy mục đích hôn nhân giữa anh T và chị Y không đạt được, cuộc sống chung vợ chồng không có hạnh phúc, không thể kéo dài. Vì vậy, việc anh T có đơn xin ly hôn là có căn cứ phù hợp với Điều 51, 56 Luật HN&GĐ năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung Trần Nguyễn Huyền T2 sinh ngày 01/06/2016; Trần Tuệ M sinh ngày 24/10/2018; Trần Tuệ N sinh ngày 14/02/2024.
Vợ chồng ly hôn nguyện vọng của anh T xin nuôi con Trần Nguyễn Huyền T2 và Trần Tuệ M, chị Y nuôi con Trần Tuệ N. Về phía chị Y có nguyện vọng để anh T3 nuôi cả 3 con, chị Y đóng góp nuôi con chung 3.000.000đ/tháng/3con. Hiện nay anh T, chị Y đều làm công nhân, thu nhập bình quân 12.000.000đ-13.000.000đ/tháng. Hội đồng xét xử nhận thấy anh T và chị Y ly hôn, 02 con Trần Nguyễn Huyền T2 và Trần Tuệ M đã lớn nên giao cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Đối với con Trần Tuệ N, tính đến thời điểm xét xử được 16 tháng 9 ngày tuổi. Tại phiên toà chị Y không nhận nuôi con nào nhưng căn cứ khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình quy định: “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi.....”. Vì vậy, Hội đồng xét xử giao con Trần Tuệ N cho chị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục kể từ tháng 7/2025 cho đến khi các con đủ 18 tuổi trưởng thành nếu không có sự thay đổi khác. Không ai phải đóng góp nuôi con chung cùng ai.
Anh T và chị Y đều có quyền đi lại và thăm hỏi chăm sóc con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: anh T và chị Y thống nhất tự thoả thuận không đề nghị Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. .
Về tài sản riêng, đất canh tác, công nợ, công sức: anh T chị Y xác định không có không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Anh Trần Đình T phải chịu theo quy định của pháp luật. Ngoài ra các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273, Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về việc thu nộp án phí.
Xử. Chấp nhận đơn xin ly hôn của anh Trần Đình T đối với chị Nguyễn Thị Y.
- Về hôn nhân: Cho anh Trần Đình T được ly hôn với chị Nguyễn Thị Y.
- Về con chung: Vợ chồng có 03 con chung Trần Nguyễn Huyền T2 sinh ngày 01/06/2016; Trần Tuệ M sinh ngày 24/10/2018; Trần Tuệ N sinh ngày 14/02/2024.
Giao cho anh Trần Đình T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 03 con Trần Nguyễn Huyền T2 sinh ngày 01/06/2016; Trần Tuệ M sinh ngày 24/10/2018; Giao cho chị Nguyễn Thị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con Trần Tuệ N, sinh ngày 14/02/2024. Kể từ tháng 7/2025 cho đến khi từng con đủ 18 tuổi trưởng thành nếu không có sự thay đổi khác. Không ai phải đóng góp nuôi con chung cùng ai. Sau ly hôn anh T và chị Y đều có quyền đi lại và thăm hỏi chăm sóc con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: anh T và chị Y thống nhất tự thoả thuận không đề nghị Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản riêng, đất canh tác, công nợ, công sức: anh T chị Y xác định không có không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: anh Trần Đình T phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận anh T đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0055909 ngày 21/5/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mê Linh. Anh T không phải nộp bổ sung.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 này kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Mầu Thị Hải Vân |
Bản án số 206/2025/HNGĐ-ST ngày 23/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 206/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh T xin ly hôn chị Y do mâu thuẫn vợ chồng
