Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN ĐỐNG ĐA

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 206/2025/DS-ST

Ngày: 19/6/2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Vương Thùy Dương

Các hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thanh Vân;

Ông Lê Bá Lung.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đào Thị Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đống Đa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Nguyễn Huyền My – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đống Đa xét xử công khai sơ thẩm vụ án Dân sự thụ lý số 53/2025/TLST-DS ngày 18/02/2025 về tranh chấp hợp đồng tín dụng; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 114/2025/QĐXXST- DS ngày 25 tháng 4 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 137/2025/QÐST-DS ngày 26 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S; Trụ sở: Lầu 8, số B - B N, phường V, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Tổng Giám đốc; Đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S (Công ty S1), theo Giấy ủy quyền số 3815/2024/GUQ-PC ngày 10/12/2024; Công ty S1 ủy quyền lại cho ông Phan A (Theo Giấy ủy quyền số 3034/2025/UQ-TGĐ ngày 13/02/2025 của Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S) (ông Phan A có mặt tại phiên tòa)

- Bị đơn: Ông Tống Hải A1, sinh năm 1984;

HKTT: số B ngõ B K, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP S trình bày:

Ngày 12/4/2016, ông Tống Hải A1 đã ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với Ngân hàng TMCP S. Căn cứ thu nhập của ông Hải A1, Ngân hàng TMCP S đã cấp thẻ tín dụng số 472074-0308 với hạn mức sử dụng là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) cho ông Hải A1. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, kể từ ngày kích hoạt thẻ cho đến nay, ông Hải A1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 20.000.000 đồng; ông Hải A1 đã thanh toán cho ngân hàng tổng số tiền 13.090.000 đồng (Thứ tự thanh toán áp dụng theo điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở, ông Hải A1 vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Hải A1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán, từ ngày 01/12/2017, Ngân hàng TMCP S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn.

Tính đến ngày 19/6/2025, bà H còn nợ Ngân hàng TMCP S tổng số tiền: 62.264.382 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 15.703.826 đồng; Nợ lãi: 46.560.556 đồng.

Ngân hàng TMCP S khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết:

  1. Buộc ông Tống Hải A1 phải trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền tạm tính đến ngày 19/6/2025 là: 62.264.382 đồng.
  2. Ông Tống Hải A1 có trách nhiệm thanh toán khoản tiền lãi phát sinh kể từ ngày 20/6/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

* Đối với bị đơn là ông Tống Hải A1:

Tòa án nhân dân quận Đống Đa đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia các phiên tòa ... nhưng ông Hải A1 không đến Tòa để thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự nên Tòa án không thể lấy được lời khai của ông Hải A1 cũng như tiến hành hòa giải để giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa: Đại diện nguyên đơn Ngân hàng TMCP S giữ nguyên toàn bộ yêu cầu khởi kiện:

  1. Buộc ông Tống Hải A1 phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền tạm tính đến ngày 19/6/2025 là: 62.264.382 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 15.703.826 đồng; Nợ lãi: 46.560.556 đồng.
  2. Buộc ông Hải A1 phải tiếp tục thanh toán tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký kể từ ngày 20/6/2025 cho đến khi thanh toán toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng.

Các đương sự khác vắng mặt; HĐXX công bố tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ.

* Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đống Đa tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Quá trình Tòa án tiến thụ lý vụ án cho đến khi đưa quyết định đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán, thư ký đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tiến hành tố tụng theo đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự.

* Về nội dung: Căn cứ Điều 280, 281, 385, 398, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; Điều 21, 26, 35, 39 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14; Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng TMCP S đối với ông Tống Hải A1. Buộc ông Hải A1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ số tiền gốc và lãi theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng, tổng số tiền tạm tính đến ngày 19/6/2025 là 62.264.382 đồng; trong đó: nợ gốc: 15.703.826 đồng; nợ lãi: 46.560.556 đồng. Ông Hải A1 tiếp tục phải trả lãi kể từ ngày 20/6/2025 cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ; Án phí: Ông Hải A1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xuất phát từ hợp đồng dân sự về việc yêu cầu thanh toán tiền còn nợ theo hợp đồng tín dụng ký kết giữa một bên là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh và một bên là cá nhân không có đăng ký kinh doanh; Căn cứ khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 16 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng, xác định vụ án dân sự, quan hệ pháp luật là tranh chấp hợp đồng tín dụng.

- Thẩm quyền: Ông Tống Hải A1 có hộ khẩu thường trú tại Số B ngõ B K, phường T, quận Đ, Thành phố Hà Nội. Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Tòa án nhân dân quận Đống Đa thụ lý, giải quyết và xét xử là đúng thẩm quyền.

- Thủ tục: Tại hợp đồng tín dụng ký giữa Ngân hàng TMCP S và ông Tống Hải A1 thể hiện ông Hải A1 có hộ khẩu thường trú tại Số B ngõ B K, phường T, quận Đ, Thành phố Hà Nội. Tòa án đã xác minh tại Công an phường T và được biết ông Hải A1 không còn cư trú tại địa chỉ nêu trên, công an phường chưa rõ địa chỉ nơi sinh sống hiện tại của ông Hải A1. Việc ông Hải A1 chuyển đi không được thông báo lại cho nguyên đơn và nguyên đơn cũng không biết được địa chỉ mới của ông Hải A1. Trong trường hợp này, ông Hải A1 đã không thông báo địa chỉ mới của mình cho Ngân hàng TMCP S. Do đó, đây được coi là cố tình giấu địa chỉ. Căn cứ vào điểm a, khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Tòa án vẫn tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân quận Đống Đa đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự bao gồm: Thông báo thụ lý vụ án; Giấy triệu tập; Thông báo kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng đến nay Tòa án vẫn không nhận được bất kỳ thông tin nào của ông Hải A1, ông Hải A1 không có phản hồi gì đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và cũng không đến Tòa để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Vì vậy, căn cứ theo khoản 1 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án không tiến hành hòa giải được. Căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Tống Hải A1.

[2] Về nội dung:

2.1. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, lời trình bày của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, xác định Ngân hàng TMCP S và ông Tống Hải A1 đã ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 12/4/2016. Ngày 12/4/2016, Ngân hàng TMCP S đã đồng ý cấp thẻ tín dụng cho ông Tống Hải A1, với hạn mức tín dụng được phê duyệt là 20.000.000 đồng.

Xét thấy: Việc ký hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP S và ông Tống Hải A1 trên cơ sở tự nguyện; Hình thức, nội dung của Hợp đồng phù hợp với quy định tại Điều 121, 122, 123, 124, Điều 401, 402, 471 Bộ luật dân sự 2005; do đó, các thoả thuận trong hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật có hiệu lực, các bên có quyền, nghĩa vụ thực hiện các nội dung đã thoả thuận trong hợp đồng.

Tại Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của ngân hàng quy định như sau: “Việc không thanh toán ít nhất số tiền tối thiểu của chủ thẻ cho đến kỳ phát hành Thông báo tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm theo Hợp đồng. Trong trường hợp này, toàn bộ tổng dư nợ sẽ trở nên đến hạn ngay lập tức và chủ thẻ phải thanh toán”; “khi sự kiện vi phạm xảy ra chủ thẻ hiểu và đồng ý rằng tòa án nhân dân phát hành thẻ có thể thực hiện một hoặc nhiều hành động sau:

- Chấm dứt quyền sử dụng thẻ và tiến hành thu hồi toàn bộ nợ....”

Theo phần trình bày của ngân hàng TMCP S và theo bản tóm tắt sao kê của ngân hàng, ông Hải A1 đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho ngân hàng từ kỳ thanh toán tháng 8/2017. Việc Ngân hàng TMCP S chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông Hải A1 là theo đúng quy định của hợp đồng đã ký giữa các bên.

2.2. Xét yêu cầu thanh toán nợ gốc theo Hợp đồng tín dụng:

Hội đồng xét xử nhận định: Sau khi ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 12/4/2016, ngày 12/4/2016, Ngân hàng TMCP S đã đồng ý cấp thẻ tín dụng cho ông Tống Hải A1, với hạn mức tín dụng được phê duyệt là 20.000.000 đồng. Kể từ ngày kích hoạt thẻ, ông Hải A1 đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền giao dịch là 20.000.000 đồng. Như vậy, có đủ căn cứ để xác nhận Ngân hàng TMCP S đã giải ngân cho ông Hải A1 số tiền 20.000.000 đồng; Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Hải A1 đã thanh toán cho ngân hàng tổng số tiền 13.090.000 đồng (Thứ tự thanh toán áp dụng theo điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).

Ngân hàng TMCP S chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông Hải A1 kể từ ngày 01/12/2017. Dư nợ chốt cuối kỳ ngày 30/11/2017 của ông Hải A1 là 15.703.826 đồng. Như vậy, xác định dư nợ gốc quá hạn của bà H là 15.703.826 đồng. Căn cứ Điều 290, 474 Bộ luật Dân sự 2005 buộc ông Tống Hải A1 phải trả Ngân hàng TMCP S số tiền nợ gốc trên.

2.3. Xét yêu cầu thanh toán nợ lãi, phí theo Hợp đồng tín dụng:

Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng đã ký giữa Ngân hàng TMCP S và ông Tống Hải A1 và Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S, các bên có thỏa thuận:

- Lãi suất trong hạn: Theo mức lãi suất được công bố tại từng thời kỳ. Tại hợp đồng đã ký giữa hai bên, mức lãi suất quy định trong hợp đồng là 2,15%/tháng.

- Lãi suất quá hạn: bằng 150% mức lãi suất được công bố áp dụng tại thời điểm hiện tại.

Hội đồng xét xử nhận định: Thỏa thuận về mức phí, lãi suất Ngân hàng TMCP S áp dụng đối với anh T tại Hợp đồng là sự tự nguyện thỏa thuận của các bên; phù hợp với các Quyết định về việc ban hành biểu phí dịch vụ thẻ, Thông báo thay đổi lãi suất thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S; Điều 305, 422, 474, 476 Bộ luật Dân sự 2005; phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 nên được chấp nhận.

Kể từ ngày 01/12/2017, Ngân hàng TMCP S chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông Hải A1 và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 19/6/2025, số tiền lãi quá hạn ông Hải A1 còn nợ Ngân hàng TMCP S là 46.560.556 đồng. Căn cứ Điều 290, 305, 474, 476 Bộ luật Dân sự 2015, buộc ông Tống Hải A1 phải trả Ngân hàng TMCP S số tiền lãi nêu trên.

[3]. Về án phí: Do các yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn được chấp nhận nên hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp; Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 3 Điều 144, khoản 1 Điều 147, Điều 227, Điều 238, Điều 266, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Điều 121, Điều 122, Điều 123, Điều 124, Điều 290, Điều 305, Điều 401, Điều 402, Điều 422, Điều 471, Điều 474, Điều 476 Bộ luật dân sự 2005
  • - Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010.
  • - Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S đối với ông Tống Hải A1 về việc thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 12/4/2016 đối với khoản tiền gốc, tiền lãi.
  2. Xác nhận tính đến ngày 19/6/2025, ông Tống Hải A1 còn nợ Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền gốc 15.703.826 (Mười lăm triệu, bảy trăm linh ba nghìn, tám trăm hai mươi sáu đồng); nợ lãi quá hạn: 46.560.556 đồng (Bốn mươi sáu triệu, năm trăm sáu mươi nghìn, năm trăm năm mươi sáu đồng). Tổng cộng số tiền là 62.264.382 đồng (Sáu mươi hai triệu, hai trăm sáu mươi bốn nghìn, ba trăm tám mươi hai đồng).

    Buộc ông Tống Hải A1 phải trả Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền 62.264.382 đồng (Sáu mươi hai triệu, hai trăm sáu mươi bốn nghìn, ba trăm tám mươi hai đồng).

  3. Buộc ông Tống Hải A1 tiếp tục trả tiền lãi từ ngày 20/6/2025 của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng đã ký cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

* Án phí: Ông Tống Hải A1 phải chịu 3.113.219 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí 1.357.824 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0078766 ngày 17 tháng 02 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự quận Đống Đa.

Ngân hàng Thương mại cổ phần S có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

Ông Tống Hải A1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vương Thùy Dương

Nơi nhận:

  • - Đương sự.
  • - VKSND quận Đống Đa;
  • - Chi cục THADS quận Đống Đa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 206/2025/DS-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 206/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỐNG ĐA THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger