Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 206/2024/HS-ST

Ngày 26/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Vinh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Phi Hổ

Bà Huỳnh Thị Minh Huệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Dịu Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 161/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 137/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2024, Thông báo số 327/TB-TA ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Chánh V, sinh năm 1992 tại tỉnh Đồng Nai; Nơi cư trú: 55/20, Tổ E, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Nguyễn Chánh C, sinh năm: 1963; Họ tên mẹ: Phan Thị C1 ( đã mất); có vợ tên là Nguyễn Thị H –SN 1992 chưa có con.

    Tiền án, tiền sự: không

    Nhân thân: Ngày 18/7/2018, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích” .

    Bị cáo bị bắt ngày 21/11/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.

  2. Nguyễn Chánh Q, sinh năm: 1997 tại tỉnh Đồng Nai; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: 5, Tổ E, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Họ tên cha: Nguyễn Chánh C, sinh năm: 1963; Họ tên mẹ: Phan Thị C1 ( đã mất); Bị cáo có vợ tên là Nguyễn Thị Ngọc H1 –SN 1992 chưa có con.

    Tiền án,Tiền sự: Không

    Bị cáo bị bắt ngày 21/11/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.

  3. Đại Chí B, sinh năm: 2000 tại tỉnh Đồng Nai; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: 7, khu phố C, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: điện lạnh; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Đại Chí T, sinh năm: 1973; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị T1- SN 1973 Bị cáo chưa có vợ con.

    Tiền án,Tiền sự: Không

    Bị cáo bị bắt ngày 21/11/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.

  4. Mai Tấn T2, sinh ngày 27/08/2005 tại tỉnh Đồng Nai; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: ½, tổ A, khu phố A, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; Họ tên cha: Mai Tấn Đ, sinh năm: 1974; Họ tên mẹ: Lê Thị Thanh P- SN 1973 Bị cáo chưa có vợ con.

    Tiền án,Tiền sự: Không

    Bị cáo bị bắt ngày 21/11/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Chánh C, sinh năm: 1963;

Địa chỉ: D, khu phố E, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai . Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Chánh V, Nguyễn Chánh Q, Đại Chí BMai Tấn T2 là các đối tượng mua bán trái phép chất ma túy (thảo mộc khô dạng cỏ Mỹ) loại ma túy ADB-Buticana.

Khoảng tháng 11/2022, V nảy sinh ý định mua ma tuý (loại thảo mộc khô được tẩm chất ma tuý, còn gọi là cỏ Mỹ) để bán cho người nghiện kiếm lời. V rủ Q, B, B rủ T2 cùng tham gia bán ma tuý, thì tất cả đồng ý. Cách thức mua bán ma tuý như sau: V truy cập mạng xã hội Facebook tìm đối tượng bán ma tuý để mua. V tự liên hệ và bỏ tiền ra mua ma tuý. Sau khi mua được ma tuý, V, Q, B, T2 cùng nhau chia ma tuý (cỏ Mỹ) thành nhiều túi nhỏ rồi cất giấu tại nhà V ở địa chỉ 5 khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai chờ bán lại cho người nghiện có nhu cầu. V sử dụng 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1202, số thuê bao 0907976900 để liên lạc, thoả thuận cách thức mua bán, giá, số lượng ma tuý và địa điểm giao ma tuý với khách. Sau đó, V phân công Q, B, T2 thay nhau mang ma tuý đi bán cho người nghiện, rồi đem tiền về trả cho V. Cuối mỗi ngày, V sẽ trả tiền công bán ma tuý cho Q, B, T2 số tiền từ 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng) đến 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng)/người.

Vào ngày 16/6/2023, V truy cập mạng xã hội Facebook đặt mua 01 gói ma tuý (Cỏ Mỹ) của đối tượng không rõ lai lịch với giá 2.800.000₫ (Hai triệu tám trăm nghìn đồng) và được người Shipper (không rõ lai lịch) đến giao cho V tại nhà của V. Sau đó, V, Q, B, T2 chia gói ma tuý trên thành 131 gói nhỏ để bán cho khách. Từ ngày 17/6/2023 đến ngày 26/6/2023, V, Q, B, T2 đã 06 lần bán ma tuý (Cỏ Mỹ) cho khách, cụ thể như sau:

  • Lần thứ 01: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 17/6/2023, tại khu vực trường mầm non "" thuộc phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, B bán 01 gói ma tuý cho đối tượng (chưa rõ lai lịch) với giá 80.000đ (Tám mươi nghìn đồng). B đã giao lại số tiền này cho V.
  • Lần thứ 02: Vào ngày 18/6/2023, tại khu vực công viên B, phường T, thành phố B, T2 bán 01 gói ma tuý cho đối tượng (chưa rõ lai lịch) với giá 30.000₫ (Ba mươi nghìn đồng). T2 đã giao lại số tiền này cho V.
  • Lần thứ 03: Khoảng 16 giờ ngày 22/6/2023, tại khu vực công viên Biên H địa chỉ nêu trên, T2 bán 01 gói ma tuý cho đối tượng (chưa rõ lai lịch) với giá 20.000₫ (Hai mươi nghìn đồng). T2 đã trả lại số tiền trên cho V.
  • Lần thứ 04: Khoảng 17 giờ ngày 22/6/2023, tại khu vực nhà thờ T4 thuộc khu phố D, phường T, thành phố B, Q bán 01 gói ma tuý cho đối tượng (chưa rõ lai lịch) với giá 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng). Q đã giao lại số tiền này cho V.
  • Lần thứ 05: Khoảng 09 giờ ngày 26/6/2023, tại khu vực trường mầm non "" địa chỉ nêu trên, B bán 01 gói ma tuý cho đối tượng (chưa rõ lai lịch) với giá 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng). B đã giao lại số tiền này cho V.
  • Lần thứ 06: Khoảng 12 giờ ngày 26/6/2023, khi V, QB đang ở nhà của V (địa chỉ nêu trên) thì Đặng Văn N (sinh năm 1974, thường trú tại khu phố B, phường T, thành phố B) gọi điện hỏi mua 01 gói ma tuý (C Mỹ) với giá 100.000đ (Một trăm nghìn đồng), B hẹn giao ma tuý cho N tại khu vực phía trước Chi cục Thuế tỉnh Đ thuộc khu phố D, phường Q, thành phố B, rồi nói Q đi giao ma tuý. Tiếp đó, Q lấy 01 gói ma tuý cất giấu vào túi áo Quan đang mặc, rồi điều khiển xe mô tô hiệu Honda Airblade màu xám, biển số 60F2-282.00 đi đến khu vực phía trước Chi cục thuế tỉnh Đ giao ma tuý cho N. Khi N nhận ma tuý và trả Q số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) thì bị tổ tuần tra Công an phường Q phối hợp Công an phường T kiểm tra hành chính. Do nghi ngờ Q, N có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý nên đã đưa Q, N về trụ sở Công an phường Q làm việc. Qua kiểm tra, Công an phường Q phát hiện thu giữ 28 gói ma tuý do V cất giấu trước đó trong cốp xe mô tô biển số 60F2-282.00 để bán cho người nghiện có nhu cầu.

Đến khoảng 15 giờ 10 phút cùng ngày, Công an phường Q phối hợp Công an phường T tiếp tục kiểm tra hành chính nhà của V, địa chỉ số E khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, phát hiện V, B, T2 đang có hành vi cất giấu 44 gói ma tuý (Cỏ Mỹ) trên kệ tủ ti vi trong phòng khách, 46 gói ma tuý trong thùng gạo dưới gầm cầu thang, 01 gói ma tuý trong tủ quần áo và 05 gói ma tuý trong túi áo khoác của B để trên ghế sofa trong phòng khách, mục đích để bán cho người nghiện nên tiến hành thu giữ số ma tuý nêu trên. Công an phường Q đã lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Chánh V, Nguyễn Chánh Q, Đại Chí BMai Tấn T2 khai nhận hành vi phạm tội như trên.

Ngoài ra, quá trình điều tra, V, Q, B khai nhận: Từ 07/12/2022 đến ngày 15/6/2023, thông qua mạng xã hội Facebook, V đã 03 lần mua của đối tượng không rõ lai lịch 03 gói ma tuý (C Mỹ), mỗi gói khoảng 900gam với giá 2.800.000₫ (Hai triệu tám trăm nghìn đồng)/gói về chia nhỏ và cùng với Q, Bảo bán nhiều lần (không xác định được số lần, thời gian, số lượng và địa điểm bán) cho nhiều người (không rõ lai lịch) thu lợi số tiền 9.000.000₫ (Chín triệu đồng). Đến tháng 06/2023, T2 tham gia bán ma tuý cùng với nhóm V.

Quá trình bán ma tuý từ ngày 07/12/2022 đến ngày 26/6/2023, V đã trả công cho Q 1.000.000đ (Một triệu đồng), B 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) và T2 60.000₫ (Sáu mươi nghìn đồng), số tiền trên, B, Q, T2 đã tiêu xài cá nhân hết. Số tiền còn lại V giữ tiêu xài và mua đồ ăn, nước uống cho nhóm V, Q, T2, B cùng sử dụng.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 (một) gói nilon dạng túi zip, bên trong chứa thảo mộc khô thu giữ của Đặng Văn N đã được niêm phong, có chữ ký của Nguyễn Chánh Q, Đặng Văn N và hình dấu mộc tròn của Công an phường Q (ký hiệu M1);
  • 28 (hai mươi tám) gói nilon dạng túi zip, bên trong chứa thảo mộc khô thu giữ trong cốp xe mô tô biển số 60F2-282.00 đã được niêm phong, có chữ ký của Nguyễn Chánh Q, Đặng Văn N và hình dấu mộc tròn của Công an phường Q (ký hiệu M2);
  • Thu giữ tại nhà Nguyễn Chánh V, địa chỉ 5 khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai:
    • + 45 (bốn mươi lăm) gói nilonbên trong chứa thảo mộc khô thu giữ trong túi nilon màu đen để phía trên tủ ti vi trong góc trái phòng khách đã được niêm phong, có chữ ký của Nguyễn Chánh V, Nguyễn Chánh Q, Đại Chí BMai Tấn T2 và hình dấu mộc tròn của Công an phường T (ký hiệu M3);
    • + 46 (bốn mươi sáu) gói nilon bên trong chứa thảo mộc khô thu giữ tại phía trên thùng gạo màu đỏ dưới chân cầu thang đã được niêm phong, có chữ ký của Nguyễn Chánh V, Nguyễn Chánh Q, Đại Chí BMai Tấn T2 và hình dấu mộc tròn của Công an phường T (ký hiệu M4);
    • + 01 (một) gói nilon bên trong chứa thảo mộc khô đựng trong túi nilon màu bạc thu giữ trong tủ gỗ gần cửa sắt đã được niêm phong, có chữ ký của Nguyễn Chánh V, Nguyễn Chánh Q, Đại Chí BMai Tấn T2 và hình dấu mộc tròn của Công an phường T (ký hiệu M5);
    • + 05 (năm) gói nilon bên trong chứa thảo mộc khô thu giữ trong túi áo khoác trên ghế sofa tại phòng khách đã được niêm phong, có chữ ký của Nguyễn Chánh V, Nguyễn Chánh Q, Đại Chí BMai Tấn T2 và hình dấu mộc tròn của Công an phường T (ký hiệu M6);
  • Thu giữ của Nguyễn Chánh V:
    • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 promax màu xanh, số Imei 358686329446482 là của V không liên quan đến việc phạm tội.
    • + Số tiền 48.500.000₫ (Bốn mươi tám triệu năm trăm nghìn đồng) thu giữ trong túi nilon màu đỏ để trong tủ gỗ gần cửa sắt nhà V là của ông Nguyễn Chánh C (Cha ruột V), không liên quan đến vụ án.
  • Thu giữ đồ vật, tài sản của các đối tượng liên quan đến việc phạm tội:
    • + 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1202 màu xanh, số Imei 866376047361974 là của V mua và sử dụng liên lạc bán ma tuý.
    • + 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Airblade màu xám biển số 60F2-282.00, số máy JF63E1106977, số khung RLHJF630XFY106946, Q khai là xe của ông Nguyễn Chánh C, sinh năm 1963 (Cha ruột Q). Qua xác minh, chiếc xe trên do anh Lê Minh T3, sinh năm 1977 (thường trú tại K T, khu phố B, phường B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) đứng tên đăng ký xe, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B chưa làm việc được với anh T3 nên tách ra tiếp tục xác minh, xử lý sau.
    • + Số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) là của Q bán ma tuý cho ông N mà có.
  • Tài sản, đồ vật không liên quan đến việc phạm tội, Cơ quan điều tra đang tạm giữ:
    • + 01 điện thoại di động hiệu OPPO 9, màu đỏ, số Imei 866376047361974, có gắn số sim 0774755550 của Q.
    • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 promax màu đen, số sim 0389395017, số Imei 354668711891971 của B.
    • + 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12 màu đen, số sim 0941413094, số Imei 354668771891971 của T2.

Tại Kết luận giám định số 1354/KL-KTHS ngày 03/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ đã kết luận:

“- Mẫu thảo mộc khô (mẫu M1) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 2,6538gam (Hai phẩy sáu năm ba tám gam), loại: ADB-Buticana;

- Mẫu thảo mộc khô (mẫu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 23,0628gam (Hai mươi ba phẩy không sáu hai tám gam), loại: ADB-Buticana;

- Mẫu thảo mộc khô (mẫu M3) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 168gam (Một trăm sáu tám gam), loại: ADB-Buticana;

- Mẫu thảo mộc khô (mẫu M4) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 57gam (Năm mươi bảy gam), loại: ADB-Buticana;

- Mẫu thảo mộc khô (mẫu M5) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 518gam (Năm trăm mười tám gam), loại: ADB-Buticana;

- Mẫu thảo mộc khô (mẫu M6) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 22,4380gam (Hai hai phẩy bốn ba tám không gam), loại: ADB-Buticana.".

Bản cáo trạng số 174/CT-VKSBH ngày 19/03/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố các bị cáo Nguyễn Chánh V, Nguyễn Chánh Q, Đại Chí BMai Tấn T2 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Chánh V, Nguyễn Chánh Q, Đại Chí BMai Tấn T2.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251 điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và đề nghị xử phạt:

  • Bị cáo V từ 08 năm đến 09 năm tù giam; Bị cáo Q từ 07 năm đến 08 năm tù giam; Bị cáo B từ 07 năm đến 08 năm tù giam
  • Bị cáo T2 áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251 điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự và đề nghị xử phạt: từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù giam

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người liên quan, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Chánh V, Nguyễn Chánh Q, Đại Chí BMai Tấn T2 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, xét lời khai của các bị cáo là phù hợp với lời khai người liên quan, người làm chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 17/6/2023 đến ngày 26/6/2023 các bị cáo Nguyễn Chánh V, Nguyễn Chánh Q, Đại Chí BMai Tấn T2 cùng có hành vi mua bán ma túy ( dạng cỏ mỹ ADB-Butinaca) nhiều lần, có số lượng ma túy lớn cho các con nghiện ma túy. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố các bị cáo: các bị cáo Nguyễn Chánh V, Nguyễn Chánh Q, Đại Chí BMai Tấn T2 đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự, là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo xâm phạm chính sách độc quyền của nhà nước về quản lý ma túy bị pháp luật nghiêm cấm, nên cần có mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi của các bị cáo gây ra nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[4] Xét nhân thân của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

  • -Về nhân thân bị cáo Nguyễn Chánh V có nhân thân xấu đã có 01 bản về tội “Cố ý gây thương tích” ;
  • - Về vai trò trong vụ án bị cáo Nguyễn Chánh V là người khởi xướng rủ rê, trực tiếp mua bán ma túy, bàn bạc, phân công cho các đồng phạm thực hiện hành vi mua bán ma túy nhiều lần ( 06 lần) có số lượng ma túy lớn, cùng đồng bọn chia nhỏ và bán cho các con nghiện nên có mức hình phạt cao nhất.
  • -Bị cáo Nguyễn Chánh Q là đồng phạm có hành vi giúp sức cho bị cáo V thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy ( 03 lần) có số lượng ma túy lớn nên có mức hình phạt cao thứ hai.
  • -Bị cáo Đại Chí B là đồng phạm có hành vi giúp sức cho bị cáo V thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy ( 03 lần) có số lượng ma túy lớn nên có mức hình phạt cao thứ ba.
  • -Bị cáo Mai Tấn T2 là đồng phạm có hành vi giúp sức cho bị cáo V thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy ( 02 lần) .

Tuy nhiên các bị cáo Nguyễn Chánh V, Nguyễn Chánh Q, Đại Chí BMai Tấn T2 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng Bị cáo Mai Tấn T2 là người dưới 18 tuổi phạm tội nên được áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 91; Điều 101 theo quy định tại Chương XII Bộ luật Hình sự.

[5] Về xử lý vật chứng của vụ án: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ lượng ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu giữ sau giám định; Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Số tiền 100.000₫ do các bị can phạm tội mà có; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1202 màu xanh, số Imei 866376047361974 các bị can sử dụng vào việc phạm tội.

- Trả lại cho các bị can do không liên quan đến việc phạm tội:

  • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 promax màu xanh, số Imei 358686329446482 cho V; 01 điện thoại di động hiệu OPPO 9, màu đỏ, số Imei 866376047361974, có gắn số sim 0774755550 cho Q; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 promax màu đen, số sim 0389395017, số I 354668711891971 cho B; 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12 màu đen, số sim 0941413094, số I 354668771891971 cho T2.
  • +Trả lại cho ông Nguyễn Chánh C số tiền 48.500.000₫ (Bốn mươi tám triệu năm trăm nghìn đồng) do không liên quan đến vụ án.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Đại Chí B nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.

Các bị cáo đã nộp tiền thu lợi bất chính là Nguyễn Chánh V 9.000.000₫ (Chín triệu đồng); Nguyễn Chánh Q 1.000.000đ (Một triệu đồng); Mai Tấn T2 60.000 đ( sáu mươi nghìn) nên Hội đồng xét xử không xem xét;

[6] Đối với đối tượng (chưa rõ nhân thân, lai lịch) có hành vi mua bán ma túy cho V, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh xử lý sau.

[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Biên Hòa về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[8] Về án phí sơ thẩm: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH :

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Chánh V, Nguyễn Chánh Q, Đại Chí BMai Tấn T2 phạm tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy”.

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 55 Bộ luật Hình sự xử phạt các bị cáo;
    • Xử phạt: Nguyễn Chánh V 09 ( chín) năm 06 ( sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 21/11/2023.
    • Xử phạt: Nguyễn Chánh Q 08 ( tám) năm 06 ( sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 21/11/2023.
    • Xử phạt: Đại Chí B 08 ( tám) năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 21/11/2023.
    • Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự;
    • Xử phạt bị cáo Mai Tấn T2 05 ( năm) năm tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 21/11/2023.
  2. Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
    • Tịch thu tiêu hủy toàn bộ lượng ma túy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B thu giữ sau giám định;
    • Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước:
      • + Số tiền 100.000đ do các bị cáo phạm tội mà có;
      • + 01 điện thoại di động hiệu Nokia 1202 màu xanh, số Imei 866376047361974 các bị can sử dụng vào việc phạm tội.
    • Trả lại cho ông Nguyễn Chánh C số tiền 48.500.000₫ (Bốn mươi tám triệu năm trăm nghìn đồng) .

      (Theo biên lai thu tiền số 0002202 ngày 15/4/2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố B và chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).

    • Trả lại cho các bị cáo do không liên quan đến việc phạm tội:
      • + 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 promax màu xanh, số Imei 358686329446482 cho bị cáo V;
      • + 01 điện thoại di động hiệu OPPO 9, màu đỏ, số Imei 866376047361974, có gắn số sim 0774755550 cho bị cáo Q;
      • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 promax màu đen, số sim 0389395017, số Imei 354668711891971 cho bị cáo B;
      • - 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12 màu đen, số sim 0941413094, số I 354668771891971 cho T2.

      (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/4/2024 giữa cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố B và chi cục thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa).

    • Buộc bị cáo Đại Chí B nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền thu lợi bất chính từ việc phạm tội để sung vào ngân sách Nhà nước:
  3. Về án Phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, buộc mỗi bị cáo Nguyễn Chánh V, Nguyễn Chánh Q, Đại Chí BMai Tấn T2 phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo Nguyễn Chánh V, Nguyễn Chánh Q, Đại Chí B, Mai Tấn T2 và ông Nguyễn Chánh C được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Viện kiểm sát nhân dân TP.Biên Hòa (2);
  • - Thi hành án hình sự (6);
  • - Các Bị cáo, ô. Nguyễn Chánh Cung (1);
  • - Lưu hồ sơ vụ án (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Phước Vinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 206/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về mua bán trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 206/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Chánh V, Nguyễn Chánh Q, Đại Chí B và Mai Tấn T phạm tội: “ Mua bán trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger