|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 206/2024/HS-ST Ngày 18-11-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
—————
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thiên Hương
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Dung
Ông Nguyễn Hoàng Trung
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Phương – Thư ký Toà án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Vương Thị Thanh Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 204/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn V, sinh năm 2001; Nơi cư trú: Xóm Q, xã G, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 09/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thổ; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn D, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1980; Gia đình có hai anh em, bị cáo là con thứ nhất; Chưa vợ con; Tiền án tiền sự: không (theo danh chỉ bản số 440 lập ngày 17/8/2024;
Bị cáo đầu thú và tạm giữ từ ngày 09/8/2024, đến ngày 18/8/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện G. “Có mặt".
* Bị hại: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1994; Nơi cư trú: Xóm M, thôn T, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội. “Vắng mặt”.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1982; Nơi thường trú: Xóm Q, xã G, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi ở hiện nay: Số E, ngõ D, đường D, thôn T, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội. “Vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 05/8/2024, tại cửa hàng Đ số B đường D thuộc thôn T, D, G, Nguyễn Văn V đã có hành vi trộm cắp 01 điện thoại Iphone 7, màu đen, dung lượng 32Gb có số IMEI: 359185076039987 trị giá 1.800.000 đồng; 01 điện thoại Samsung J3 Pro, dung lượng 16GB màu đen, có số IMEI: 358868080470915 trị giá 700.000 đồng; 01 điện thoại Redmi Note 11 màu xanh, dung lượng 16GB màu đen, có số IMEI: 860359064349524 trị giá 2.400.000 đồng; 01 điện thoại Redmi 5 Plus màu đen, dung lượng 32GB, có số IMEI: 99001178087280 trị giá 1.200.000 đồng; 01 điện thoại Vsmart JOY 2+, dung lượng 32GB, màu xanh-tím, có số IMEI: 356743102420630 trị giá 1.100.000 đồng; 01 điện thoại OPPO F11 màu tím, dung lượng 64GB, số IMEI: 869874044398491 trị giá 1.900.000 đồng; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Vsmart JOY3, màu trắng sữa, dung lượng 32GB, có số IMEI: 351726114911816 trị giá 900.000 đồng; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO RENO 8T 5G dung lượng 256Gb trị giá 4.600.000 đồng; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO RENO 8 PRO dung lượng 256GB trị giá 4.600.000 đồng và số tiền 1.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị can Nguyễn Văn V trộm cắp là 20.700.000 đồng của anh Nguyễn Văn T.
Tại Kết luận định giá tài sản số 156/KL-HĐĐGTS ngày 20/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện G kết luận:
- 01 điện thoại Iphone 7, màu đen, dung lượng 32Gb, có số IMEI: 359185076039987, đã qua sử dụng từ khoảng năm 2015 có giá trị là 1.800.000 đồng.
- 01 chiếc điện thoại samsung J3 Pro, dung lượng 16Gb, màu đen, số IMEI 358868080470915, đã qua sử dụng từ năm 2011 có giá trị là 700.000 đồng.
- 01 chiếc điện thoại Redmi Note 11 màu xanh, dung lượng 64Gb có số IMEI 860359064349524, đã qua sử dụng từ năm 2021 có giá trị là 2.400.000 đồng.
- 01 chiếc điện thoại Redmi 5 Plus màu đen, dung lượng 32Gb, số số IMEI 99001178087280 sử dụng từ năm 2016 có giá trị 1.200.000 đồng.
- 01 điện thoại Vsmart 2+, dung lượng 32Gb, màu xanh tím, có số IMEI: 356743102420630, đã qua sử dụng từ năm 2020 có giá trị 1.100.000 đồng.
- 01 chiếc điện thoại OPPO F11 màu tím, dung lượng 64Gb, số IMEI869874044398491 sử dụng từ năm 2020 có giá trị 1.900.000 đồng.
- 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Vsmart Joy 3, màu trắng sữa, dung lượng 32Gb, đã qua sử dụng từ năm 2020, có số IMEI: 351726114911816 có giá trị là 900.000 đồng (Bị cáo mang theo người)
- 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO RENO 8T 5G, dung lượng 256GB đã qua sử dụng từ năm 2022 có giá trị 4.600.000 đồng.
- 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu OPPO RENO 8 PRO, dung lượng 256GB đã qua sử dụng từ năm 2022 có giá trị 4.600.000 đồng.
- 01 Tấm tôn sóng, một lớp đã qua sử dụng khoảng 4 năm kích thước 6,5 mét có giá trị 50.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản là: 20.700.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra, người bị hại yêu đã nhận lại 07 chiếc điện thoại và 02 túi nilong màu trắng, yêu cầu bị cáo bồi thường 10.750.000 đồng, trong đó bao gồm giá trị 02 chiếc điện thoại Oppo là 9.200.000 đồng, 1.500.000 đồng số tiền bị mất và 50.000 đồng giá trị mái tôn bị cắt hỏng.
Tại bản cáo trạng số: 204/CT-VKSGL ngày 14/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm đã truy tố Nguyễn Văn V về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS.
Tại phiên tòa: Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện Kiểm sát đã truy tố, không khai báo bổ sung gì thêm.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay thấy rằng: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn V đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Đề nghị giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173; điểm s, i khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của BLHS; Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 12 đến 15 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 09/8/2024.
Về hình phạt bổ sung: không;
Về dân sự: Anh T yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn V phải bồi thường tiếp tổng số tiền là: 10.750.000 đồng (Trong đó có 2 chiếc điện thoại bị mất có giá trị: 9.200.000 đồng; 50.000.000 đồng giá trị mái tôn bị hư hỏng và số tiền 1.500.000 đồng). Xét yêu cầu của anh T là có căn cứ nên buộc bị cáo V phải bồi thường cho anh T số tiền trên, tại phiên tòa, bố bị cáo tự nguyện sẽ bồi thường cho anh T số tiền trên, nên ghi nhận bị cáo tự nguyện bồi thường cho anh T số tiền trên.
Về vật chứng:
+ Tịch thu tiêu hủy: 01 kéo bằng sắt dài khoảng 20cm có chuôi màu đỏ vàng do bị cáo V liên quan đến hành vi phạm tội; 01 Quần đùi bò màu xanh và 01 áo phông cộc màu đen có 03 vạch kẻ ngang trước ngực, tại vạch kẻ ngang thứ 2 có chữ CHANEL của bị áo Việt bị cáo không yêu cầu nhận lại cho tịch thu tiêu hủy.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gia Lâm, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn nhận tội và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2]. Xét về việc vắng mặt anh T, anh S tại phiên tòa: Xét thấy tại phiên tòa, anh T, anh S vắng mặt không có lý do, tuy nhiên anh T, anh S đã có lời khai tại cơ quan điều tra, nên xét việc vắng mặt anh T, anh S không làm ảnh hưởng đến việc xét xử với bị cáo V, căn cứ Điều 292 BLTTHS, HĐXX quyết định tiếp tục xét xử bị cáo V là có căn cứ.
[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo
X bị cáo đến Công an huyện G đầu thú hành vi của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh S cậu ruột bị cáo trình bày là rạng sáng ngày 05/8/2024 không thấy V ngủ trong phòng, phù hợp với việc thu giữ được vật chứng là 7 chiếc điện thoại bị cáo trộm cắp, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Hồi 01 giờ 30 phút ngày 05/8/2024 tại cửa hàng Đ1 số B đường D, thuộc thôn T, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội, Nguyễn Văn V đã có hành vi lén lút, bí mật trộm cắp 09 chiếc điện thoại và số tiền 1.500.000 đồng, tổng trị giá tài sản bị cáo V trộm cắp là 20.700.000 đồng, đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã cố ý trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác là khách thể được BLHS bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn, gây lo lắng, hoang mang cho nhân dân.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (Điểm s khoản 1 Điều 51); bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng (Điểm i khoản 1 Điều 51), bị cáo đầu thú về hành vi phạm tội của mình và tại phiên tòa bị cáo trình bày sẽ tự nguyện bồi thường số tiền anh T yêu cầu là tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BLHS
Lấy đó làm các tình tiết giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Tuy nhiên bị cáo sống lang thang, không có nơi cư trú rõ ràng, nay đây mai đó 4 năm nay, nên cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian trong khung hình phạt để răn đe, phòng ngừa và đảm bảo thi hành án đối với bị cáo.
[4].Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là có căn cứ
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Văn T là bị hại có yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn V phải bồi thường tiếp cho anh T tổng số tiền là 10.750.000 đồng (Trong đó có 2 chiếc điện thoại bị mất có giá trị: 9.200.000 đồng; 50.000 đồng giá trị mái tôn bị hư hỏng và số tiền 1.500.000 đồng). Xét bị cáo lấy 9 chiếc điện thoại trị giá 19.200.000 đồng, đã thu hồi 7 chiếc, còn 2 chiếc không thu hồi được trị giá 9.600.000 đồng. Số tiền anh T báo mất là 1.500.000 đồng phù hợp với lời khai bị cáo khai nhận lấy 1.500.000 đồng tiền mặt, hiện bị cáo đã ăn tiêu hết. Mái tôn bị cáo phá hỏng định giá 50.000 đồng là thiệt hại vật chất anh T phải chịu, nên toàn bộ yêu cầu của anh T là có căn cứ, buộc bị cáo phải thanh toán số tiền thiệt hại cho anh T là có cơ sở. Tại phiên tòa, bố bị cáo và bị cáo cùng nhất trí sẽ tự nguyện bồi thường cho anh T toàn bộ số tiền 10.750.000 đồng như anh T yêu cầu. Ghi nhận bị cáo tự nguyện bồi thường cho anh T số tiền trên.
[6]. Về xử lý vật chứng:
- + Đối với 01 Quần đùi bò màu xanh và 01 áo phông cộc màu đen có 03 vạch kẻ ngang trước ngực, tại vạch kẻ ngang thứ 2 có chữ CHANEL là quần áo bị cáo mặc đi trộm cắp, bị cáo không đề nghị nhận lại tài sản, nên cho tịch thu tiêu hủy
- + 01 kéo bằng sắt dài khoảng 20cm có chuôi màu đỏ vàng thu giữ của bị cáo V, bị cáo tự lấy của anh S mang đi phạm tội, anh S không biết bị cáo lấy kéo của mình mang đi phạm tội, nên trả lại anh S chiếc kéo cắt sắt.
- + 01 sim điện thoại của bị cáo lắp vào máy điện thoại trộm cắp của anh T, tại phiên tòa bị cáo trình bày sim đó không có giá trị, bị cáo không đề nghị nhận lại, vì khi bị cáo đi thi hành án thì trong thời gian đó không được sử dụng điện thoại, nhà mạng cũng thu sim đó lại, nên bị cáo đề nghị cho tịch thu tiêu hủy. Xét thấy bị cáo không đề nghị nhận lại, sim điện thoại không sử dụng nhà mạng cũng thu nên HĐXX cho tịch thu tiêu hủy sim thu giữ của bị cáo là có căn cứ.
[7]. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Yêu cầu của anh S về dân sự được chấp nhận, tại phiên tòa bị cáo cũng tự nguyện bồi thường, nên buộc bị cáo V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại của anh S.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn V phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s, i khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS.
Xử phạt:
- Bị cáo Nguyễn Văn V 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09/8/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Không
- Về dân sự: Ghi nhận bị cáo Nguyễn Văn V tự nguyện bồi thường cho anh Nguyễn Văn T sau phiên tòa số tiền 10.750.000 đồng (Mười triệu, bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
- Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTDHS
- + Trả lại anh Nguyễn Văn S 01 kéo sắt chuôi màu đỏ vàng, dài khoảng 20cm
- + Tịch thu tiêu hủy 01 quần đùi bò màu xanh và 01 áo phông cộc tay màu đen có 3 vạch kẻ ngang trước ngực, tại vạch kẻ ngang thứ 2 có chữ Chanel thu giữ của bị cáo.
- + Tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại số 0943.240.xxx thu giữ của bị cáo. (Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28/10/2024 )
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm f khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn V phải chịu 200.000 đồng án phí HSST và 537.500 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Áp dụng 331, 332, 333 BLTTHS;
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh T, anh S vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa Vũ Thiên Hương |
Bản án số 206/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 206/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LÂM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn V SN 2001; Nguyễn Văn T SN 1980
