Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẦN VĂN THỜI

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 206/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24 - 5 - 2024

V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hà Thanh Khiết

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Trường Hận

Ông Văn Công Trọn

- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thúy Vân là Thư ký Toà án của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 225/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 191/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Đào Thanh N, sinh năm 1977 (Có mặt)

Cư trú tại: Ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

Bị đơn: Ông Diệp Văn H, sinh năm 1983 (Có mặt)

Địa chỉ: Hẻm C, đường Q, khóm D, phường E, TP ., tỉnh Cà Mau.

Cư trú tại: Ấp K, xã T, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 05/4/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn Đào Thanh N trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Diệp Văn H kết hôn vào năm 2008, không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu chung sống vợ chồng rất hạnh phúc, nhưng được một thời gian thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không phù hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng thường xuyên cự cải với nhau. Nhận thấy tình trạng hôn nhân đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu ly hôn với ông Diệp văn H1.

Về con chung: Thời gian chung sống bà và ông H1 có 02 người con chung tên Diệp Hoàng N1, sinh năm 2008 và Diệp Hồng N2, sinh năm 2015, hiện các con đang chung sống với bà, sau khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi con và yêu cầu ông H1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi người mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi các con tròn 18 tuổi.

- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không có.

Bị đơn là ông Diệp văn H1 trình bày:

Về hôn nhân: Ông thống nhất với lời trình bày của bà Đào Thanh N về thời điểm kết hôn, hôn nhân tự nguyện và không có đăng ký kết hôn cũng như mâu thuẫn giữa vợ chồng dẫn đến bà yêu cầu ly hôn với ông như bà N trình bày là đúng. Nay ông nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống hạnh phúc nên đồng ý ly hôn với bà Đào Thanh N.

Về con chung và mức cấp dưỡng nuôi con: Ông thống nhất lời trình bày của bà Đào Thanh N là vợ chồng có 02 người con chung tên Diệp Hoàng N1, sinh năm 2008 và Diệp Hồng N2, sinh năm 2015, hiện các con đang sống với bà N, ông đồng ý giao con cho bà N trực tiếp nuôi dạy cho đến khi các con trưởng thành. Tuy nhiên mức cấp dưỡng bà N yêu cầu ông xác định ông không đủ khả năng cấp dưỡng. Vì hiện tại ông không có nghề nghiệp, ông đi bán hàng rong hàng ngày thu nhập không ổn định. Ông yêu cầu vợ chồng tự thỏa thuận mức cấp dưỡng nuôi con. Cụ thể là ông đi bán có thu nhập nhiều thì ông sẽ cấp dưỡng cho con nhiều hơn, chứ mức cố định ông không thể cấp dưỡng theo yêu cầu của bà N.

Về tài sản chung: Ông thống nhất thỏa thuận về tài sản với vợ ông là Đào Thanh N.

Về nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tranh chấp giữa bà Đào Thanh N và ông Diệp Văn H là tranh chấp về ly hôn, nuôi con; Bị đơn là ông Diệp Văn H có nơi cư trú tại huyện T nên bà N khởi kiện yêu cầu giải quyết vụ án tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời là đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Nhận định của Hội đồng xét xử về nội dung tranh chấp của vụ án:

Về hôn nhân: Bà Đào Thanh N và ông Diệp Văn H xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2008, nhưng không đăng ký kết hôn. Mặc dù có đủ điều kiện kết hôn theo luật định.

Hội đồng xét xử xét thấy bà Đào Thanh N và ông Diệp Văn H không có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vì vậy mối quan hệ hôn nhân giữa bà N và ông H không có giá trị pháp lý. Tòa án nhân dân huyện Trần Văn T căn cứ vào khoản 2 Điều 53 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuyên bố không công nhận bà Đào Thanh N và ông Diệp Văn H là vợ chồng.

Về con chung: Bà N xác định bà và ông Diệp Văn H có 02 người con chung tên Diệp Hoàng N1, sinh năm 2008 và Diệp Hồng N2, sinh năm 2015, hiện các con đang chung sống với bà, sau khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi con và yêu cầu ông H cấp dưỡng mỗi người con mỗi tháng 1.500.000 đồng cho đến khi các con tròn 18 tuổi.

Hội đồng xét xử xét thấy tại biên bản ghi nhận ý kiến của con vào các ngày 12/3/2024 và ngày 26/4/2024 các cháu Diệp Hoàng N1Diệp H đều có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Nguyện vọng của các cháu phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, phù hợp với yêu cầu của bà N và ông H, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa bà N và ông H thống nhất tự thỏa thuận lại mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nếu sau này ông H và bà N không thỏa thuận được thì bà N có quyền khởi kiện ông H về việc phải cấp dưỡng nuôi con đối với Diệp Hoàng N1, sinh năm 2008 và Diệp Hồng N2, sinh năm 2015. Do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Ông Diệp Văn H không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc con không ai được quyền cản trở.

Về tài sản chung: Bà N và ông H xác định vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về nợ chung: Bà N và ông H xác định vợ chồng không nợ ai, cũng không ai nợ vợ chồng, không cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Nếu sau này bà N và ông Diệp Văn H có phát sinh tranh chấp về tài sản chung và nợ chung thì bà N và ông Diệp Văn H đều có quyền khởi kiện thành vụ kiện dân sự khác theo quy định pháp luật.

[3] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Đào Thanh N phải nộp 300.000 đồng theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Các điều 28; 35; 39; 147, 227, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Các điều 9, 14, 51, 53, 57, 81 và 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giãm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về hôn nhân: Tuyên bố bà Đào Thanh N và ông Diệp Văn H không phải là vợ chồng.

2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Diệp Hoàng N1, sinh năm 2008 và Diệp Hồng N2, sinh năm 2015 cho bà Đào Thanh N trực tiếp nuôi dạy cho đến khi thành niên.

Ông Diệp Văn H tạm thời không cấp dưỡng nuôi con. Nếu sau này giữa ông H và bà N không thỏa thuận được mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con thì các đương sự có quyền khởi kiện vụ kiện tranh chấp về cấp dưỡng theo quy định tại khoản 5 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

Ông Diệp Văn H không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc con không ai được quyền cản trở.

3. Án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình: Buộc bà Đào Thanh N phải chịu 300.000 đồng. Ngày 03 tháng 4 năm 2024 bà Đào Thanh N đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004826 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, được đối trừ. Bà Đào Thanh N đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai bà Đào Thanh N và ông Diệp Văn H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Trần Văn Thời;
  • - Chi cục THADS huyện Trần Văn Thời;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Thanh Khiết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 206/2024/HNGĐ-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 206/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Về hôn nhân: Tuyên bố bà Đào Thanh Nga và ông Diệp Văn Hoàng không phải là vợ chồng. 2. Về con chung: Giao 02 con chung tên Diệp Hoàng Nhân, sinh năm 2008 và Diệp Hồng Ngọc, sinh năm 2015 cho bà Đào Thanh Nga trực tiếp nuôi dạy cho đến khi thành niên. Ông Diệp Văn Hoàng tạm thời không cấp dưỡng nuôi con. Nếu sau này giữa ông Hoàng và bà Nga không thỏa thuận được mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng nuôi con thì các đương sự có quyền khởi kiện vụ kiện tranh chấp về cấp dưỡng theo quy định tại khoản 5 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Ông Diệp Văn Hoàng không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc con không ai được quyền cản trở.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger