Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 206/2024/DS-PT

Ngày: 27 - 11 - 2024

V/v tranh chấp hụi.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái

Các Thẩm phán: Ông Đặng Văn Cường

Ông Nguyễn Văn Quản

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Khang là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Linh – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 25 và 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 145/2024/TLPT-DS ngày 02 tháng 10 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hụi”, do Bản án dân sự sơ thẩm số 78/2024/DS-ST ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện HT bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 216/2024/QĐ-PT ngày 21 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 153/2024/QĐ-PT ngày 08 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1967

Ông Phan Thanh Q, sinh năm 1966

Cùng địa chỉ: Thôn 3, xã HS, huyện HT, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Lê Thị Kim H1, sinh năm 1998; Địa chỉ: Thôn NT1, xã HC, huyện HT, tỉnh Bình Thuận (Văn bản ủy quyền ngày 22/11/2023).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Nguyễn Anh T1, sinh năm 1991; Địa chỉ: Thôn HN1, xã HC, huyện HT, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975

Ông Lê Minh H2, sinh năm 1968

Cùng địa chỉ: Thôn 3, xã HS, huyện HT, tỉnh Bình Thuận.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lê Thị Xuân H3, sinh năm 1996

Địa chỉ: Thôn 3, xã HS, huyện HT, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975; Địa chỉ: Thôn 3, xã HS, huyện HT, tỉnh Bình Thuận (Văn bản ủy quyền ngày 18/3/2024).

- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L và ông Phan Thanh Q.

Tại phiên toà, ông Nguyễn Anh T1 có mặt ngày 25/11/2024, vắng mặt ngày 27/11/2024; bà Lê Thị Kim H1 vắng mặt ngày 25/11/2024, có mặt ngày 27/11/2024; những người tham gia tố tụng còn lại vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L, ông Phan Thanh Q và người đại diện theo ủy quyền bà Lê Thị Kim H1 trình bày:

Vợ chồng bà Nguyễn Thị L, ông Phan Thanh Q có tham gia 02 dây hụi do vợ chồng bà Nguyễn Thị H, ông Lê Minh H2 làm thủ, cụ thể như sau:

Tại giấy xác nhận hụi do bà Nguyễn Thị H làm thủ gồm 20 phần, số tiền là 5.000.000 đồng, trong giấy có ghi “huê áp thủ ngày 10/10/2019 (ÂL)” tức là dây hụi này bắt đầu từ ngày 10/10/2019 (âm lịch) đến khi huê mãn ngày 10/6/2021 (ÂL) tức là ngày kết thúc việc tham gia dây hụi là ngày 10/6/2021 (âm lịch), huê xổ ngày 10/11/2019 (ÂL) tức là ngày mở hụi đối với dây hụi này thời gian mở hụi là vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 10 (âm lịch) hàng tháng, bà L là người trực tiếp góp tiền cho bà H và góp đầy đủ hụi mỗi tháng từ ngày bắt đầu tham gia dây hụi cho đến khi kết thúc dây hụi. Đối với dây hụi này bà L, ông Q là người hốt chót nhưng đến thời điểm kết thúc thì bà H không giao phần tiền hụi chót cho bà L, số tiền hụi hốt chót là 100.000.000 đồng. Việc bà L là người hốt chót tất cả người làm chứng đều biết nhưng không biết bà H đã giao tiền cho bà L hay chưa.

Tương tự, tại giấy xác nhận hụi thì đối với dây hụi thứ hai mà bà Nguyễn Thị L, ông Phan Thanh Q tham gia gồm 20 phần, số tiền là 10.000.000 đồng/tháng, dây hụi này bắt đầu từ ngày 25/11/2019 (âm lịch) đến ngày kết thúc việc tham gia dây hụi là 25/01/2021 (âm lịch), đối với dây hụi này thì thời gian mở hụi là vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 25 (âm lịch) hàng tháng, bà L là người trực tiếp góp tiền cho bà H và góp đầy đủ hụi mỗi tháng từ ngày bắt đầu cho đến khi bà L hốt hụi vào ngày 25/12/2020 (âm lịch). Số tiền bà L bỏ để được trúng hụi là 5.500.000 đồng/phần, do đó số tiền bà được nhận là 167.000.000 đồng, trong đó bà L đã nhận 20.000.000 đồng từ bà Lê Thị Xuân H3 (con của bà H, ông Hùng), số tiền còn lại 147.000.000 đồng, bà H cấn trừ việc đóng hụi chết từ bà Trần Thị Ái Q9 trong vòng bảy tháng kể từ ngày bà L trúng hụi cho đến ngày kết thúc việc tham gia dây hụi với số tiền 70.000.000 đồng và trừ luôn số tiền mà bà L phải đóng đến khi mở hụi của 06 tháng còn lại kể từ ngày bà L trúng hụi cho đến ngày kết thúc việc tham gia dây hụi với số tiền 60.000.000 đồng. Như vậy với dây hụi này, số tiền bà H còn nợ của vợ chồng ông Q, bà L là 17.000.000 đồng.

Nay, vợ chồng ông Phan Thanh Q, bà Nguyễn Thị L yêu cầu ông Lê Minh H2, bà Nguyễn Thị H phải trả cho vợ chồng ông Q, bà L số tiền hụi còn nợ ở dây hụi ngày 10/10/2019 là 100.000.000 đồng và dây hụi ngày 25/11/2019 còn nợ là 17.000.000 đồng. Tổng cộng là 117.000.000 đồng.

Đối với số tiền bà H còn nợ là 17.000.000 đồng, bà H có thừa nhận, vì vậy yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận giữa các bên đối với số tiền này.

Tại biên bản ghi nhận kết quả hòa giải ngày 28/9/2023 thì tại mục 2.1 bị đơn có trình bày “... tôi còn nợ của bà Nguyễn Thị L 17.000.000 đồng, còn dây huê 100.000.000 đồng tôi đã trả đủ cho bà L sau 05 ngày hốt chót dây huê (15/6/2021 ÂL)...”, nghĩa là bị đơn đã thừa nhận bị đơn có nợ khoản nợ đó với nguyên đơn. Bị đơn khai đã trả thì yêu cầu Tòa án áp dụng nguyên tắc chứng minh trong tố tụng dân sự trong trường hợp này. Bị đơn có nghĩa vụ phải chứng minh việc đã trả nợ cho nguyên đơn.

Bị đơn bà Nguyễn Thị H, đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Xuân H3 trình bày:

Bà là chủ hụi rủ các người chơi hụi cùng thôn của bà để tham gia chơi thì khi mỗi hụi viên tham gia chơi hụi bà đều đưa cho mỗi hụi viên tờ giấy hụi. Tổng số 20 phần và bà nhờ con gái bà (Lê Thị Xuân H3) viết giúp cho bà một tờ giấy huê (hụi), sau đó bà đi phô tô ra thêm 20 tờ nữa và giao cho các hụi viên mỗi người 01 tờ. Riêng tờ giấy mà con gái bà viết thì bà bỏ ở tiệm phô tô không lấy về vì bà nghĩ không liên quan gì (đã có 20 tờ phô tô đưa đủ cho các hụi viên là được).

Bà có làm chủ hụi đối với phần hụi có bà L tham gia, phần hụi này mỗi tháng là 5.000.000 đồng, gồm 20 người chơi do bà làm chủ và có viết cho mỗi người chơi một tờ giấy kẻ học sinh (giấy này do con gái bà tên Lê Thị Xuân H3) viết giúp cho bà, vì bà viết chữ không rành. Tại giấy hụi này có ghi “... Huê gồm 20 phần, hốt chót 100.000.000 đồng. Huê được khui vào lúc 10 giờ 30 hàng tháng vào ngày 10, mong các hụi viên đi đúng giờ, nếu trễ vui lòng không được khiếu nại”. Huê áp thủ ngày 10/10/2019 (ÂL) tức là hụi viên đậu thủ tháng này mỗi người 5.000.000 đồng, tổng cộng 100.000.000 đồng cho 20 người tham gia, số tiền này bà là chủ huê được nhận, sau đó cứ mỗi tháng mỗi hụi viên hốt thì bà phải đậu vào cho đến người hốt cuối cùng. Huê áp thủ này nghĩa là người chơi huê cho thủ huê là bà mượn trước phần huê đầu tiên để bà trả dần từng tháng cho những người hốt tiếp theo mà không thu huê hồng.

Huê xổ vào ngày 10/11/2019 (ÂL), huê mãn ngày 10/6/2021 (ÂL), các hụi viên tham gia có tên sau đây: O1 (29), nghĩa là ở địa chỉ 29 dốc cây táo thuộc thôn 3, xã HS; chị N9; S9; em V9; em H9; chị N8 (2 phần); chị C9, chị Q9; mợ C8 (Quang) nghĩa là bà L; em B9; em T9; N7 (ưu); K9; S8; V8 (năm S7); em V7; P9 (ga); D9; H8 (hiện nay ông H8 này đã chết) tất cả đều ở thôn 3, xã HS.

Toàn bộ những hụi viên tham gia chơi huê hốt vào tháng nào bà không còn nhớ vì lâu rồi, cứ hàng tháng hụi viên nào hốt, bà chồng tiền vào ngày 15 hàng tháng. Cụ thể huê này xổ vào ngày 10 hàng tháng thì đến ngày 15 bà sẽ chồng tiền, vì phải đi thu tiền của các hụi viên về đưa cho người hốt, khi đưa

tiền cho mỗi hụi viên thì toàn bộ không có giấy tờ gì. Phần huê này bà làm thủ huê đều đã chồng đủ tiền cho các hụi viên không có thiếu ai.

Khi bà Nguyễn Thị L tham gia chơi phần huê thứ 2 thì bà cũng đưa cho bà L một tờ giấy huê gồm các hụi viên tham gia chơi huê (cũng như lần 1), mỗi hụi viên đều giữ 01 tờ giấy này. Do huê này bà L hốt phần thứ 14 nên bà L có qua nhà bà để nhận tiền huê, bà L hốt vào phần thứ 14 khi chồng huê thì bà L bắt phải ghi rõ số tiền nên bà đã nhờ con gái bà ghi trong tờ giấy cụ thể nội dung như sau: wại 9 hốt ngày 25/12/2020 ÂL, mãn ngày 25/6/2021 ÂL nghĩa là theo giấy huê mà bà đã đưa cho các hụi viên, ngày mãn huê là ngày 25/7/2021 ÂL nhưng do năm đó là năm Nhuần nên năm đó mãn huê sớm hơn 01 tháng là ngày 25/6/2021 ÂL. Bà L hốt lỗ 06 phần thời điểm khui huê bà L hốt với giá 5.500.000 đồng, lỗ 06 phần là 33.000.000 đồng nên bà mới kêu con gái bà viết giấy cho bà L số tiền hốt huê cụ thể hốt chót 200.000.000 trừ số tiền bà L lỗ 33.000.000 đồng thành tiền của phần huê bà L hốt là 167.000.000 đồng trừ tiếp 20.000.000 đồng con gái bà đưa cho bà L, còn lại là 147.000.000 đồng. Bà L tự đi thu của nhà bà Quyên (cháu bà L) số tiền 70.000.000 đồng (07 tháng), bà L nhận thêm 60.000.000 đồng. Tổng cộng bà L đã nhận số tiền 130.000.000 đồng. Tuy nhiên, số tiền bà L hốt huê còn lại là 147.000.000 đồng trừ 130.000.000 đồng, hiện nay bà còn nợ lại bà L số tiền là 17.000.000 đồng.

Đối với phần huê hốt chót vào ngày 10/6/2021(ÂL) là 100.000.000 đồng, bà đã chồng đầy đủ không thiếu đồng nào. Nếu bà L, ông Q cho rằng bà còn thiếu phần huê này thì yêu cầu bà L, ông Q cung cấp giấy bà còn nợ số tiền 100.000.000 đồng. Vì nếu bà thiếu nợ bà L phần huê này thì bà L đã yêu cầu bà viết giấy tờ cụ thể còn nợ bao nhiêu như phần huê của ngày 25/11/2019 rồi.

Khi hụi viên hốt huê thì đến nhà bà nhận tiền huê đã hốt. Cách 05 ngày kể từ ngày khui huê thì các hụi viên căn cứ theo thỏa thuận từ trước đến giờ là đến nhà bà để nhận số tiền đã hốt. Cụ thể là phần huê 5.000.000 đồng mà bà L kiện bà bắt đầu khui ngày 10/11/2019 (ÂL), hụi viên nào hốt phần huê theo tháng nào khui thì 05 ngày sau tức ngày 15/11/2019 (ÂL) đến nhà bà để nhận tiền huê đã hốt. Việc thỏa thuận 05 ngày giao tiền huê đã hốt cho hụi viên chỉ thỏa thuận bằng miệng không có giấy tờ gì. Khi hụi viên hốt huê hàng tháng thì đến nhà bà để nhận tiền, có lúc thì bà lấy máy tính bấm số tiền lỗ của người hốt trừ đi và số tiền được nhận là bao nhiêu đó nói cho hụi viên biết, hụi viên thấy đúng thì nhận tiền rồi về. Cũng có lúc bà viết giấy số tiền huê hốt được bao nhiêu cho các hụi viên xem nhưng đa phần viết cho các hụi viên xem xong thấy đúng thì hụi viên nhận tiền rồi về, không ai lấy giấy tờ gì, sau đó thì tờ giấy viết số tiền được hốt bao nhiêu cho hụi viên xem cũng bỏ đi, vì các hụi viên xem xong thấy đủ nên nhận, không có ý kiến gì thì bỏ ngay tờ giấy bà viết, không ai giữ, kể cả bà cũng không giữ bất kỳ tờ giấy huê nào.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì bà thừa nhận còn nợ bà L số tiền hụi 17.000.000 đồng, còn đối với số tiền hốt chót 100.000.000 đồng này, bà đã giao đầy đủ cho bà L, nếu bà L cho rằng bà còn thiếu phần huê này thì yêu cầu bà L cung cấp giấy tờ bà còn nợ số tiền 100.000.000 đồng, vì tại phần huê ngày 25/11/2019 (âm lịch) mà bà còn nợ 17.000.000 đồng bà L đã yêu cầu bà

viết giấy (giấy viết vào thời điểm huê đã mãn là ngày 25/6/2021 âm lịch), tại sao số tiền nợ 100.000.000 đồng (huê mãn là ngày 10/6/2021 âm lịch) bà L không yêu cầu bà viết giấy nợ 02 khoản trên.

Bị đơn ông Lê Minh H2 trình bày:

Ông không có nợ tiền nguyên đơn. Ông không biết gì, yêu cầu hỏi bà H.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Xuân H3 trình bày tại bản khai ngày 28/4/2024:

Bà là con gái của bà Nguyễn Thị H, bà có viết 02 tờ giấy huê trong giấy kẻ học sinh là do mẹ (bà H) nhờ bà viết, rồi mẹ đi phô tô ra cho các hụi viên. Đối với tờ giấy có nội dung “Wại 9 hốt ngày 25/12/2020 ÂL, 25/6/2021 ÂL mãn ...” là dây huê thứ 2 bà L hốt phần thứ 14, nên bà L bắt ghi rõ số tiền nên mẹ (bà H) nhờ bà viết. Nếu mẹ còn thiếu bà L 100.000.000 đồng như bà L nói thì bà L đã yêu cầu bà viết giấy nợ rồi.

Người làm chứng:

  1. Bà Trần Thị Thanh Q9 trình bày tại Biên bản lấy lời khai ngày 25/3/2024: Bà chơi phần huê thứ nhất. Huê xổ ngày 10 thì ngày 15 bà H giao tiền cho người được hốt. Tháng nào các hụi viên cũng tập trung tại nhà bà H vào ngày 10 hàng tháng, những người nào đã hốt thì không đến bỏ huê nữa. Khi hụi viên hốt thì bà H thu tiền hốt được cụ thể bao nhiêu và đưa tiền cho hụi viên được hốt trong tháng đó. Khi bà H thu tiền của các hụi viên khác xong thì bà đến nhà bà H nhận tiền, bà H viết giấy số tiền huê hốt được trừ đi số tiền lỗ, còn lại bao nhiêu bà thấy đúng và nhận đầy đủ. Bà biết nguyên đơn hốt chót. Việc bà H có trả tiền hay không trả tiền cho bà L bà hoàn toàn không biết gì và cũng không nghe ai nói việc này. Phần huê này không bị ai giựt hoặc không có ai mà không trả tiền huê. Đến cuối cùng mãn không nghe ai không được trả tiền hết.
  2. Bà Nguyễn Thị G2 và bà Nguyễn Thị Ái V9 trình bày tại Bản khai cùng ngày 02/4/2024: Các bà có tham gia chơi phần huê 5.000.000 đồng/tháng do bà H làm chủ huê, các bà đã hốt và bà H đã chồng tiền huê đầy đủ, không biết ai hốt chót. Bà H đã đưa tiền cho các bà đầy đủ.
  3. Tại Biên bản lấy lời khai bà Nguyễn Thị Huyền T9, ông Châm Minh V7, bà Lê Thị N8, bà Nguyễn Thị Thu T9 cùng ngày 25/3/2024 và ông Võ Văn N7 ngày 03/4/2024, các ông, bà trình bày: Huê xổ vào ngày 10 thì đến ngày 15 bà H giao tiền cho người được hốt. Tháng nào các hụi viên cũng tập trung tại nhà bà H vào ngày 10 hàng tháng, những người nào đã hốt thì không đến bỏ huê nữa. Khi hụi viên hốt thì bà H thu tiền hốt được bao nhiêu cụ thể và đưa tiền cho hụi viên được hốt trong tháng đó. Khi bà H thu tiền của các hụi viên khác xong thì họ đến nhà bà H nhận tiền, bà H viết giấy số tiền huê hốt được trừ đi số tiền lỗ, còn lại bao nhiêu thấy đúng và nhận đầy đủ. Họ không biết ai là người hốt chót. Việc bà H có trả tiền hay không trả tiền cho bà L các ông, bà hoàn toàn không biết gì và cũng không nghe ai nói việc này. Phần huê này không bị ai giựt hoặc không có ai mà không trả tiền huê. Đến cuối cùng mãn không nghe ai không được trả tiền hết.

Riêng bà Nguyễn Thị Huyền T9, Châm Minh V7 còn chơi phần huê thứ hai và được bà H trả tiền đầy đủ khi hốt huê.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 78/2024/DS-ST ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện HT đã quyết định:

Áp dụng: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 và khoản 4 Điều 91, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 229, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 357, Điều 468, Điều 471 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27, Điều 30, Điều 33 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường; Khoản 2 và khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L, ông Phan Thanh Q.

    Buộc bà Nguyễn Thị H, ông Lê Minh H2 có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị L, ông Phan Thanh Q số tiền nợ hụi là 17.000.000 đồng (Mười bảy triệu đồng) của dây hụi mở vào ngày 25/11/2019 âm lịch.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L, ông Phan Thanh Q về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị H, ông Lê Minh H2 trả số tiền nợ hụi là 100.000.000 đồng của dây hụi mở vào ngày 10/10/2019 âm lịch.
  3. Về án phí:

    Bà Nguyễn Thị L, ông Phan Thanh Q phải chịu 5.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Bà Nguyễn Thị L, ông Phan Thanh Q đã nộp số tiền tạm ứng 2.925.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 00019931 ngày 07/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện HT nên số tiền còn lại 2.075.000 đồng, bà Nguyễn Thị L, ông Phan Thanh Q phải tiếp tục nộp.

    Bà Nguyễn Thị H, ông Lê Minh H2 phải chịu 850.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 15/7/2024, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L, ông Phan Thanh Q kháng cáo một phần Bản án sơ thẩm đối với số tiền nợ hụi 100.000.000 đồng của dây hụi mở vào ngày 10/10/2019 âm lịch, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn xác định nguyên đơn vẫn giữ nguyên kháng cáo và có ý kiến: Theo quy định tại Điều 12 và 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường thì bà Nguyễn Thị H là chủ hụi nhưng chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của chủ hụi; không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì chứng minh đã giao tiền hụi cho hụi viên là bà Nguyễn Thị L, trong khi đó chính bà H thừa nhận bà L là người hốt hụi chót. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, sửa Bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

  1. Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.
  2. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L, ông Phan Thanh Q và giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 78/2024/DS-ST ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện HT, buộc các đương sự chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về việc vắng mặt đương sự: Tại phiên tòa, tất cả các đương sự vắng mặt; trong đó, nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án theo đề nghị của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn và Kiểm sát viên theo quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L, ông Phan Thanh Q và bị đơn bà Nguyễn Thị H thống nhất khai nhận:

Vợ chồng bà L, ông Q có tham gia 02 dây hụi do bà H làm chủ hụi, cụ thể như sau:

Dây hụi thứ nhất: Bà Nguyễn Thị H làm chủ hụi gồm 20 phần, số tiền là 5.000.000 đồng/phần/tháng, bà H có nhờ con gái ruột là bà Lê Thị Xuân H3 viết giấy, bà H phô tô và giao cho mỗi người tham gia chơi hụi 01 bản thể hiện nội dung: Huê áp thủ ngày 10/10/2019 (âm lịch) tức là dây hụi bắt đầu từ ngày 10/10/2019 (âm lịch), huê mãn (kết thúc) vào ngày 10/6/2021 (âm lịch), huê xổ vào ngày 10 (âm lịch) hàng tháng tức là thời gian mở hụi vào ngày 10 (âm lịch) hàng tháng. Quá trình chơi hụi, bà L là người trực tiếp đóng tiền hụi cho bà H và đóng đầy đủ hụi mỗi tháng từ ngày bắt đầu tham gia dây hụi cho đến khi kết thúc dây hụi và bà L là người hốt hụi chót.

Dây hụi thứ hai: Tương tự, bà Nguyễn Thị H làm chủ hụi gồm 20 phần, số tiền là 10.000.000 đồng/phần/tháng, dây hụi này áp thủ ngày 23/11/2019 (âm lịch), bắt đầu mở hụi ngày 25/11/2019 (âm lịch), kết thúc ngày 25/7/2021 (âm lịch), thời gian mở hụi vào ngày 25 (âm lịch) hàng tháng. Bà L là người trực tiếp

đóng tiền hụi cho bà H và đóng đầy đủ hụi mỗi tháng từ ngày bắt đầu cho đến khi bà L hốt hụi vào ngày 25/12/2020 (âm lịch). Số tiền bà L bỏ để được trúng hụi là 5.500.000 đồng, nên số tiền bà L được nhận là 167.000.000 đồng, trong đó bà L đã nhận 20.000.000 đồng từ bà Lê Thị Xuân H3 (con của bà H, ông Hùng), số tiền còn lại 147.000.000 đồng, bà H cấn trừ việc đóng hụi chết từ bà Trần Thị Ái Q9 trong vòng 07 tháng kể từ ngày bà L trúng hụi cho đến ngày kết thúc việc tham gia dây hụi với số tiền 70.000.000 đồng và trừ số tiền mà bà L phải đóng của 06 tháng còn lại kể từ ngày bà L trúng hụi cho đến ngày kết thúc việc tham gia dây hụi với số tiền 60.000.000 đồng. Như vậy, với dây hụi này, số tiền bà H còn nợ của vợ chồng ông Q, bà L là 17.000.000 đồng.

[2] Đối với dây hụi thứ hai nêu trên, bà L và bà H thống nhất hiện bà H còn nợ bà L 17.000.000 đồng. Khoản nợ này được bà Lê Thị Xuân H3 (con ruột của bà H) viết giấy xác nhận và giao cho bà L giữ. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên buộc vợ chồng bà H, ông Hùng trả cho vợ chồng bà L, ông Q; Sau khi xét xử sơ thẩm, các bên không ai kháng cáo.

[3] Tuy nhiên, đối với dây hụi thứ nhất, theo bà L, ông Q thì vợ chồng ông, bà là người hốt chót được 100.000.000 đồng, nhưng từ đó đến nay, bà H chưa trả tiền cho vợ chồng ông, bà; còn bà H cho rằng đã trả đủ cho bà L. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện này nên vợ chồng bà L, ông Q kháng cáo.

[4] Xét kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L, ông Phan Thanh Q; Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày và tranh luận tại phiên tòa của các đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, lời khai của người làm chứng và quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[4.1] Theo lời khai của bà Nguyễn Thị H thì khi tham gia chơi hụi đối với dây hụi thứ nhất, các bên đều thống nhất thời gian mở hụi vào ngày 10 (âm lịch) hàng tháng, sau đó bà H là chủ hụi sẽ đi thu tiền hụi của những người chơi và giao cho người hốt hụi vào ngày 15 (âm lịch) của tháng đó; Khi giao tiền cho người hốt hụi, bà H có viết giấy tính số tiền hụi viên được nhận, hụi viên xem và thống nhất thì bà H giao tiền hụi, hai bên đều không làm giấy tờ gì xác nhận về việc giao tiền này. Lời khai này của bà H hoàn toàn phù hợp với lời khai của người làm chứng là những người tham gia chơi hụi là các ông, bà Trần Thị Thanh Q9, Nguyễn Thị Huyền T9, Châu Minh V7, Lê Thị H2, Nguyễn Thị Thu T9, Võ Văn N7. Như vậy, có cơ sở xác định thông lệ chơi hụi trong trường hợp này là tiền hụi sẽ do chủ hụi giao cho các hụi viên vào ngày 15 (âm lịch) hàng tháng, khi giao nhận tiền hốt hụi cho hụi viên, giữa chủ hụi (tức bà H) với các hụi viên không lập giấy tờ gì xác nhận việc giao tiền.

[4.2] Ngoài ra, đối với dây hụi thứ hai, khi bà H là chủ hụi còn nợ lại hụi viên là bà Nguyễn Thị L thì hai bên có làm giấy tính toán số tiền và xác nhận số tiền nợ, giấy này do con gái của bà H viết giùm để bà H giao cho bà L giữ. Giấy này thể hiện nội dung bà L đã thu tiền hụi chết do bà Quyên đóng 07 tháng tính

từ ngày 25/12/2020 (âm lịch) đến ngày 25/6/2021 (âm lịch), như vậy mặc dù giấy này không thể hiện ngày viết, nhưng xem xét nội dung này đủ cơ sở khẳng định ngày viết giấy sớm nhất là ngày 25/6/2021 (âm lịch), là ngày kết thúc của dây huê (do năm 2020 là năm nhuần có 02 tháng 4 âm lịch). Do đó, đối với dây hụi thứ nhất bắt đầu từ ngày 10/10/2019 (âm lịch), kết thúc vào ngày 10/6/2021 (âm lịch), nếu bà L cho rằng bà H chưa giao tiền hụi bà L hốt chót được 100.000.000 đồng thì không lý do gì bà L không yêu cầu bà H phải viết giấy xác nhận nợ như dây hụi thứ nhất.

[4.3] Vì vậy, xét thấy việc bà H yêu cầu bà L phải cung cấp giấy xác nhận bà H còn nợ 100.000.000 đồng tiền hụi do bà L hốt chót của dây hụi mở ngày 10/10/2019 (âm lịch) là hoàn toàn có căn cứ. Tuy nhiên, bà L không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào chứng minh và cũng không có tài liệu, chứng cứ nào thể hiện kể từ ngày kết thúc dây hụi này (ngày 10/6/2021 âm lịch) đến khi bà L nộp đơn khởi kiện (ngày 06/9/2023) là hơn 02 năm, bà L có đến bà H đòi tiền nợ hụi 100.000.000 đồng này.

[5] Từ nhận định trên, xét thấy quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn và kháng cáo của nguyên đơn là không có căn cứ, nên Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn là có cơ sở.

[6] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo phải chịu theo quy định tại khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

[7] Các phần khác của Bản án dân sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L, ông Phan Thanh Q; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 78/2024/DS-ST ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện HT đối với số tiền hụi 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) của dây hụi mở vào ngày 10/10/2019 (âm lịch).

Áp dụng: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 và khoản 4 Điều 91, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 148, khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 4 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị L, ông Phan Thanh Q về việc yêu cầu bà Nguyễn Thị H, ông Lê Minh H2 trả số tiền nợ hụi là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) của dây hụi mở vào ngày 10/10/2019 âm lịch.
  1. Về án phí:
    1. Buộc bà Nguyễn Thị L, ông Phan Thanh Q phải chịu 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 2.925.000 đồng (Hai triệu, chín trăm hai mươi lăm nghìn đồng) bà Nguyễn Thị L, ông Phan Thanh Q đã nộp tạm ứng theo Biên lai thu số 00019931 ngày 07/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện HT; Bà Nguyễn Thị L, ông Phan Thanh Q còn phải nộp 2.075.000 đồng (Hai triệu, không trăm bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
    2. Buộc bà Nguyễn Thị L, ông Phan Thanh Q mỗi người phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng) bà Nguyễn Thị L, ông Phan Thanh Q đã nộp tạm ứng theo Biên lai thu số 0013536 ngày 16/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện HT; Bà Nguyễn Thị L, ông Phan Thanh Q đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.
  2. Các phần khác của Bản án dân sự sơ thẩm số 78/2024/DS-ST ngày 01 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện HT không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (27/11/2024).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh B.Thuận;
  • - TAND huyện H.T;
  • - VKSND huyện H.T;
  • - Chi cục THADS huyện H.T;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ, TỔ HCTP, TDS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Thái

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Đặng Văn Cường

Nguyễn Văn Quản

Nguyễn Hồng Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 206/2024/DS-PT ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hụi

  • Số bản án: 206/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hụi giữa NĐ Nguyễn Thị L, Phan Thanh Q - BĐ Nguyễn Thị H, Lê Minh H2
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger