Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 206/2024/DS-PT

Ngày 25 - 11 - 2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất.


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN


- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái

Các Thẩm phán: Ông Phạm Thái Bình

Ông Đặng Văn Cường

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Khang là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa:

Bà Lương Thị Mai Châm – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 18 và 25 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 185/2024/TLPT-DS ngày 10 tháng 10 năm 2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, do Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2024/DS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố P3 bị kháng cáo, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 228/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Bùi Văn G, sinh năm 1961

Bà Hồ Thị Diệu P, sinh năm 1967

Cùng địa chỉ: Khu phố 4, phường P1, thành phố P3, tỉnh Bình Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Thiện H, sinh năm 1966; Địa chỉ: Khu phố 1, phường P2, thành phố P3, tỉnh Bình Thuận (Văn bản ủy quyền ngày 04/3/2024).

- Bị đơn: Ông Huỳnh Văn M, sinh năm 1950

Địa chỉ: Khu phố 4, phường P1, thành phố P3, tỉnh Bình Thuận.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Bùi Văn G.

Tại phiên tòa, tất cả các đương sự đều có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Bản án sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Bùi Văn G và bà Hồ Thị Diệu P trình bày:

Nguyên cha của ông Bùi Văn G là cụ Bùi Văn V (Bùi T4), chết năm 1998. Vào năm 1944, cụ Bùi Văn V có làm giấy mua của ông Bùi Văn M2 một thửa đất nông nghiệp có diện tích khoảng 3,2 mẫu, tọa lạc tại Làng Lan Hai, nay là khu phố 4, phường P1, thành phố P3. Ranh giới thửa đất được mô tả từ chân núi đến giáp biển. Giấy mua bán có xác nhận của chính quyền chế độ cũ. Trong diện tích đất mua bán có 04 ngôi mồ đất của người thân ông Bùi Văn M2.

Năm 1996, vợ chồng cụ Bùi Văn G có đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 446m² đất vườn tại khu phố 4, phường P1, thành phố P3, tỉnh Bình Thuận. Đến ngày 11/11/2005, UBND phường P1 tổ chức họp xét tính pháp lý về quyền sử dụng đất, Hội đồng họp xét đã kết luận: Nguồn gốc đất của ông G do Nhà nước quản lý, ông G không đăng ký kê khai, không nộp thuế, kê khai nguồn gốc cha mẹ cho nhưng không có giấy tờ chứng minh. Ngày 15/12/2005, UBND phường P1 có Công văn số 78/BC-UBPH trả lời không thể giải quyết hồ sơ xin đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông G.

Không đồng ý với Công văn số 78/BC-UBPH ngày 15/12/2005 của UBND phường P1, ông Bùi Văn G khiếu nại và được Chủ tịch UBND thành phố P3 giải quyết tại Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 4084/QĐ-UBND ngày 21/6/2007, với nội dung không chấp thuận đơn khiếu nại của ông Bùi Văn G, với lý do khu đất gia đình ông G xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đất hoang do Nhà nước quản lý.

Khoảng năm 2008, ông Huỳnh Văn M xin gia đình ông bà đi nhờ qua đất. Vị trí đất ông M xin đi nhờ nằm tại vị trí giáp với đất ông Phan Văn P2. Diện tích đất của gia đình ông bà mà ông M sử dụng làm đường đi có chiều ngang 2m, dài khoảng 16m. Thời điểm này, ranh giới giữa đất ông bà với đất của ông P2 có hàng rào thép gai do ông P2 làm, mặt trước giáp đường Hàn Mạc Tử, mặt sau giáp thửa đất 216, ông bà cũng rào thép gai tiếp giáp với rào của ông P2. Ông M dọn lên hàng rào trước và sau ông bà để đi qua, chiều rộng đi nhờ khoảng 1m. Đến năm 2018, ông bà tiến hành xây vòng thành tại ranh giới đất phía sau của thửa đất số 216, giáp với đất của ông M, thì bị ông M tranh chấp, đập bỏ một phần vòng thành của ông bà, không cho xây vòng thành. Do tranh chấp nên ông bà không thể tiếp tục xây dựng. Vị sợ mất trộm nên ông bà xây nốt vòng thành ngược lại về phía trước một đoạn đến tiếp giáp với hàng rào của 04 ngôi mồ thuộc thửa 215. Gia đình ông M còn vào trong đất của ông bà chặt 01 cây đào lâu năm của gia đình và phá chết 01 cây Đào, chặt một số cây Lộc Vừng, không phải nằm ở phạm vi ranh giới đất tranh chấp. Mục đích của ông M là buộc ông bà phải cho ông M lối đi ở phần giáp ranh với đất của ông P2.

Ngày 18/9/2019, ông bà đã làm đơn đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường P1, thành phố P3 tổ chức hòa giải tranh chấp quyền sử dụng đất với ông M. Ngày 04/10/2019, Ủy ban nhân dân phường P1, thành phố P3 tổ chức hòa giải, kết quả hòa giải không thành. Tại buổi hòa giải, ông M có ý kiến như sau: con đường mà ông M sử dụng hiện nay đã có từ lâu; đất của ông bà và ông M đều chưa có Giấy chứng nhận quyền sử dụng nên thửa đất xác định được là đất của ai; nếu gia đình ông bà giao cho ông M 02m ngang đất để ông M làm lối đi thì ông M sẽ không tranh chấp 1,5m ở ranh giới mặt sau giữa đất của ông bà với đất của ông M.

Diện tích đất của ông bà đã được đo đạc, có ranh giới, diện tích rõ ràng, ranh giới phía sau đất của ông bà cách thửa 215 (thửa có 04 ngôi mồ) một khoảng trống, gia đình ông M xin đi nhờ con đường ông M làm lối đi có chiều ngang 2m. Diện tích đất của ông bà mà ông M đang xin đi nhờ nằm ngay phía sau đất của ông bà là ngay sát 04 ngôi mồ (thửa 215) và đối diện luôn phần đất mà gia đình ông bà C1 đang xin đi nhờ.

Tại Bản đồ đo vẽ vị trí đo vẽ ngày 06/01/1998 của Ban Bồi thường giải tỏa thành phố P3 đo vẽ để phục vụ việc mở đường Hàn Mạc Tử thì thửa đất của gia đình ông bà có ký hiệu 8, giáp ranh với thửa đất của ông Phan Nh (ba của ông Phan Văn P2).

Tại Biên bản kiểm tra hiện trạng sử dụng đất hộ ông Bùi Văn G, cư trú tại khu phố 4, phường P1, thành phố P3 ngày 09/01/2004 xác định bên phải thửa đất của gia đình ông bà cũng giáp ranh với thửa đất của ông B1 (ông B1 là tên thường gọi của ông Phan Văn P2, ông P2 là con của ông N1), phía sau giáp đất của ông M Nhiễu (tức Huỳnh Văn M), bên trái giáp với đất của ông X (ông X là chồng của bà Bùi Thị V2). Tại biên bản này ông B1 (P2) và ông Nhiễu (M) ký tên xác nhận.

Tại bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất của ông bà do ông Nguyễn Hùng D1 - UBND phường P1 lập ngày 15/7/2010 cũng xác định diện tích đất của ông bà cũng giáp ranh với thửa đất của ông Huỳnh Văn M và Phan Thị C1, bên trái giáp với đất của bà Bùi Thị V2. Tất cả các chủ đất liền kề với đất của ông bà đều ký xác nhận giáp ranh bản vẽ hiện trạng.

Tại bản vẽ trích đo khu đất của UBND thành phố P3 cũng xác định thửa đất của ông bà gồm thửa 215 (chu vi 04 ngôi mồ) và thửa 216 (bao trùm thửa 215), diện tích trong lô giới là 229,8m², tứ cận đều có giáp ranh với các thửa đất khác.

Kết quả đo đạc địa chính đất vào năm 2011 của gia đình ông bà, phục vụ cho việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện: Thửa đất của gia đình bao gồm thửa đất số 216, diện tích ngoài hành lang lộ giới là 487,2m², diện tích trong hành lang lộ giới là 229,8m² và thửa số 215 nằm trong thửa số 216 (phạm vi 04 ngôi mồ). Bên phải thửa đất số 216 giáp ranh với thửa đất số 215 (đất của ông M) và giáp thửa số 218 (đất của bà C1).

Do ông M tranh chấp nên ông bà chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Từ những tài liệu, chứng cứ mà ông bà vừa trích dẫn, giữa đất của ông bà với đất của ông P2 không hề có bất cứ con đường nào như ông M trình bày và phía sau thửa đất của ông bà cách thửa 215 (04 ngôi mồ) một khoảng trống chứ không phải giáp sát 04 ngôi mồ như ông M trình bày.

Đối với vị trí đất của ông M, nằm phía sau đất của ông bà có lối đi khác nhưng ông M có tính chiếm đất của ông bà làm lối đi riêng.

Lời trình bày của ông M là không đúng sự thật, nếu ông M muốn có đường đi thì hoặc là đi bằng con đường khác hoặc thỏa thuận mua lại phần đất của ông bà chứ không thể ép buộc ông bà C1 lối đi. Vì vậy, ông bà khởi kiện yêu cầu Tòa án công nhận cho ông bà được quyền quản lý, sử dụng 51,9m² đất nằm trong thửa 216 tờ bản đồ số 7, tọa lạc khu phố 4, phường P1, thành phố P3, tỉnh Bình Thuận và buộc ông Huỳnh Văn M phải giao trả diện tích đất tranh chấp 51,9m² cho ông bà.

Bị đơn ông Huỳnh Văn M trình bày: Nguyên trước năm 1975, cha mẹ ông có tạo lập mảnh đất để lại cho ông quản lý sử dụng đến nay. Mảnh đất của ông sát đất của ông Phan Văn P2. Phần đất tranh chấp của ông đang đi cũng là của gia đình ông cho gia đình ông M đi từ trước năm 2000 cho đến nay. Ngoài con đường này ra không còn con đường nào khác để đi vô đất của ông. Năm 2000, ông cho con cất nhà ở. Trong lúc thi công xây dựng nhà ở đường đi vô nhà chật hẹp nên ông Phan Văn P2 chặt cây đào chứa diện tích đất này ra để cho gia đình ông đi cho rộng rãi. Sau khi chưa điện tích đất cho gia đình ông đi thì ông P2 mới xây hàng rào bao quanh đất của mình. Phần diện tích đất làm đường đi của gia đình ông từ trước tới nay là từ thửa đất có 04 ngôi mồ của bà Phan Thị Chứ cho tới sát ranh đất của ông P2 khoảng 3m ngang. Nay còn khoảng 3m ngang do ông G, bà P tranh chấp. Còn diện tích đất phía sau giáp thửa 215 là đất của ông quản lý, sử dụng từ trước năm 2000 cho tới nay, có đóng thuế đầy đủ. Ông đã làm hàng ranh bằng trụ ngang gốc dương đi, giáp ranh với thửa 215 ông có trồng 01 cây me có thu trên đất. Ông quản lý, sử dụng phần đất này trước khi vợ chồng ông G đến khu đất này ở. Khi cơ quan quản lý đất đai đến đo đạc để thể hiện trên bản đồ 920 thì ông không có nhà. Lúc đó, bà P và ông G chỉ luôn cả phần diện tích làm đường đi vào thửa đất 216 của ông bà. Thực tế ông G, bà P sử dụng, quản lý, sử dụng phần đất chấp này mà ông mới là người quản lý, sử dụng. Vì vậy, nay bà P và ông G kiện cho rằng diện tích đất trên là đất của ông bà và yêu cầu ông phải trả lại diện tích đất tranh chấp ông không đồng ý.

Người làm chứng:

1. Ông Nguyễn Quốc T1 trình bày: Ông là người sinh sống tại địa phương lâu năm. Nhà ông ở đối diện nhà ông G, bà P. Ông cũng là người làm trong Ban điều hành khu phố từ năm 2015 đến nay nên nguồn gốc đất đai ở khu vực này ông đều nắm rõ. Theo ông được biết diện tích đất tranh chấp là con đường đi mà hiện nay gia đình ông M đang đi là đất của cha mẹ ông Phan Văn P2 khai hoang. Ông P2 đã cho gia đình ông M sử dụng diện tích đất này làm con đường đi từ trước đến nay. Con đường đi này đã hình thành trước năm 2000, trước khi vợ chồng ông G dọn đến đây ở. Khi ông M cất nhà cho con trai, ông P2 đã cho luôn phần đất này cho ông M sử dụng làm đường đi, vì người làm đường đi này ra gia đình ông M không còn con đường nào khác để đi. Những người dân ở P1 có mồ mả ở khu vực này trước đây đều đi trên con đường đất này. Chiều ngang của con đường đi của ông M sử dụng từ trước tới nay là từ giáp ranh mồ mả nhà bà Chứ đến vòng thành nhà ông P2. Trước đây toàn bộ khu đất này không được đo đạc theo sơ đồ 60/CP, vì đất này là đất mồ mả. Mãi đến năm 2008, khu đất này mới được đo đạc theo sơ đồ 920. Theo ông được biết khi đo đạc sơ đồ 920, ông M không có nhà nên việc vợ chồng ông G tự ý ghi ranh cho cán bộ đo đạc đó luôn cả phần đất mà ông M đi là không đúng.

2. Ông Phan Văn P2 trình bày: Ông là người sinh sống tại nơi có đất đang tranh chấp từ nhỏ đến nay. Ông cũng là người làm trong Ban điều hành khu phố từ năm 2006 đến năm 2011 nên nguồn gốc đất đai ở khu vực này ông đều nắm rõ.

Nguyên trước đây khoảng năm 1957, gia đình ông bà cha mẹ ông có khai hoang được diện tích đất tại khu phố 4, phường P1, thành phố P3 bao gồm cả con đường đi mà hiện nay gia đình ông M đang đi cũng là của gia đình ông cho gia đình ông M đi từ trước năm 2000 cho đến nay, vì ngoài con đường này ra không còn con đường nào khác để đi vô đất của ông. Những người dân ở P1 có mồ mả ở khu vực này trước đây đều đi trên diện tích đất này của gia đình ông nên trên đất đã hình thành 01 con đường mòn. Trên đất gia đình ông có trồng 02 cây đào. Thấy gia đình ông M đi lại khó khăn, gia đình ông đã cho phép gia đình ông M chặt 01 cây đào để đi. Chiều ngang của con đường đi gia đình ông đã chừa lại cho gia đình ông M đi là từ giáp ranh mồ mả nhà bà Chứ đến vòng thành nhà ông.

Sau khi Phường hòa giải xong thì đại diện Phường và Công an phường có tới chứng kiến cho gia đình bà rào lại 04 ngôi mồ này cho đến nay. Mộ mả này là của bà là nơi an táng ông bà đã có từ năm 1950 đến nay, vì vậy việc ông G, bà P tự ý kê khai cho rằng toàn bộ thửa đất 215, 216 này là của vợ chồng bà P là không đúng. Bà xác định từ trước đến nay gia đình bà mỗi khi đi dây mồ đều đi trên con đường đi vào đất của ông M. Con đường này đã có từ năm 1975, trước khi vợ chồng ông G dọn đến đây ở. Bà được biết diện tích đất mà ông M làm

Đất này là đất bộ khu đất này không được đo đạc theo sơ đồ 60/CP, vì đất này là đất mồ mả. Trên đất có nhiều mồ của nhiều gia đình trong đó có gia đình ông. Mãi đến năm 2008, khu đất này mới được đo đạc theo sơ đồ 920. Lúc đo đạc, gia đình ông có chừa lại phần diện tích đường đi đã cho nhà ông M đi từ trước nên phần diện tích đất này không thể hiện trong thửa đất của gia đình ông theo sơ đồ 920.

Theo ông được biết, khi đo đạc sơ đồ 920, ông M không có nhà nên việc vợ chồng ông G tự ý ghi ranh cho cán bộ đo đạc đó luôn cả phần đất mà ông M đi là không đúng.

Việc bà P, ông G đưa ra chứng cứ là các bản mô tả ranh đất theo hiện trạng có chữ ký của những hộ giáp ranh và cho rằng những hộ giáp ranh đã ký vô bản này là thừa nhận đất của ông bà là bao gồm luôn cả đường đi của ông M là không đúng, vì khi cán bộ địa chính của phường cho ký tên mọi người chỉ thấy có mặt sau, mặt trước trồng nên mọi người ký giáp ranh chứ không thừa nhận đất này là đất của bà P, ông G. Vì vậy, bà P ông G cho rằng diện tích đất mà ông M làm đường đi hiện nay là đất của gia đình ông bà là không đúng.

3. Bà Phan Thị Chứ trình bày: Nguyên trước đây toàn bộ khu đất mà nay gia đình bà P, ông G cho rằng của ông bà là đất mồ mả của nhiều gia đình, trong đó gia đình nhà bà có 04 cái (thuộc thửa 215 trên sơ đồ 920 bà P, ông G kê khai là của nhà bà P, ông G). Trước đây, khi gia đình bà rào các ngôi mồ thì ông G đã tháo dỡ hàng rào, quây phá mồ mả mà gia đình bà nên gia đình bà có kiện ông G lên phường. Vào lúc đó, chính quyền địa phương giải quyết cho rằng đất này không phải của ai cả mà là đất mồ mả. Nếu Nhà nước quy hoạch giải tỏa khu này thì mồ mả ai người đó bốc đi, vì vậy, gia đình bà P, ông G không được tranh giành đất mồ mả của gia đình bà.

đường đi là được ông Phan Văn P2 cho đi từ năm 2000 cho đến nay. Phần đất có chiều ngang từ ranh mồ mả gia đình bà C1 đến vòng thành nhà ông P2. Đây không phải là đất ông G nên việc vợ chồng ông G kê khai cho rằng đất này của ông G là không đúng.

Tòa án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ thửa đất tranh chấp. Tại Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ đã thể hiện: Phần đất tranh chấp có diện tích 51,9m², mục đích sử dụng: đất làm đường đi. Theo bản đồ 920 phần đất này nằm trong thửa 216 tờ bản đồ số 7. Trên đất có 01 cây me lớn do ông M trồng năm 2000, 01 trụ sắt trồng theo ranh rào giáp với thửa 215. Đất không có giấy tờ về đất.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2024/DS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố P3 đã quyết định:

Căn cứ vào: Khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; Điều 91, Điều 92; khoản 1 Điều 147; Điều 157; Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 100; 101; 125; 166; 170; 179; 203 Luật Đất đai năm 2013; Điều 18; Điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 hướng dẫn thi hành Luật Đất đai năm 2013; Khoản 1 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Luật Thi hành án dân sự;

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Bùi Văn G, bà Hồ Thị Diệu P về việc yêu cầu công nhận cho nguyên đơn được quyền quản lý, sử dụng 51,9m² đất nằm trong thửa 216 tờ bản đồ số 7, tọa lạc khu phố 4, phường P1, thành phố P3, tỉnh Bình Thuận và buộc bị đơn phải giao trả diện tích đất tranh chấp cho nguyên đơn.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên án phí, chi phí tố tụng khác và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 27/5/2024, nguyên đơn ông Bùi Văn G kháng cáo Bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Nguyên đơn giữ nguyên kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.

- Bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

- Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

1. Về tố tụng: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án.

2. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 4 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Tuyên hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2024/DS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố P3 và đình chỉ giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các tài liệu, chứng cứ, ý kiến trình bày và tranh luận tại phiên tòa của các đương sự và quan điểm của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Theo nội dung Quyết định số 3091/QĐ-UBND ngày 03/12/2007 của Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận về việc giải quyết khiếu nại lần hai về lĩnh vực quản lý đất đai của ông Bùi Văn G thể hiện:

Vào ngày 08/7/2005, ông Bùi Văn G có đơn xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 446m² đất vườn tại khu phố 4, phường P1, thành phố P3, tỉnh Bình Thuận. Đến ngày 11/11/2005, UBND phường P1 tổ chức họp xét tính pháp lý về quyền sử dụng đất, Hội đồng họp xét đã kết luận: Nguồn gốc đất của ông G do Nhà nước quản lý, ông G không đăng ký kê khai, không nộp thuế, kê khai nguồn gốc cha mẹ cho nhưng không có giấy tờ chứng minh. Ngày 15/12/2005, UBND phường P1 có Công văn số 78/BC-UBPH trả lời không thể giải quyết hồ sơ xin đăng ký cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông G.

Không đồng ý với Công văn số 78/BC-UBPH ngày 15/12/2005 của UBND phường P1, ông Bùi Văn G khiếu nại và được Chủ tịch UBND thành phố P3 giải quyết tại Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 4084/QĐ-UBND ngày 21/6/2007, với nội dung không chấp thuận đơn khiếu nại của ông Bùi Văn G, với lý do khu đất gia đình ông G xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đất hoang do Nhà nước quản lý.

Không đồng ý với Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 4084/QĐ-UBND ngày 21/6/2007 của Chủ tịch UBND thành phố P3 nêu trên, ông G làm đơn tiếp tục khiếu nại và được Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận giải quyết tại Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai số 3091/QĐ-UBND ngày 03/12/2007, với nội dung không chấp thuận khiếu nại của ông G.

[2] Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn ông Bùi Văn G, bà Hồ Thị Diệu P và người đại diện theo ủy quyền bà Trần Thị Thiện H đều khai nhận diện tích đất tranh chấp trong vụ án là 51,9m² đất tọa lạc tại khu phố 4, phường P1, thành phố P3, tỉnh Bình Thuận (được xác định theo Trích đo bản đồ vị trí khu đất tranh chấp do Công ty TNHH Tư vấn dịch vụ khảo sát và đo đạc HT1 đo vẽ ngày 20/7/2022) là một phần diện tích của thửa đất 446m² mà ông G khiếu nại và đã được Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận giải quyết theo Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai số 3091/QĐ-UBND ngày 03/12/2007 nêu trên. Điều này cũng phù hợp với nội dung phức tạp của UBND thành phố P3 tại Công văn số 94/UBND-NC ngày 05/01/2024.

[3] Như vậy, đến nay, vợ chồng ông Bùi Văn G, bà Hồ Thị Diệu P tiếp tục khởi kiện tại Tòa án tranh chấp với bị đơn ông Huỳnh Văn M, yêu cầu Tòa án công nhận cho vợ chồng ông G, bà P là người sử dụng hợp pháp đối với phần diện tích 51,9m² đất này và buộc ông M phải trả lại cho vợ chồng ông G, bà P.

Tòa án cấp sơ thẩm tiếp tục thụ lý giải quyết là không đúng quy định. Vì sự việc đã được giải quyết bằng quyết định đã có hiệu lực pháp luật của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, cụ thể là Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai số 3091/QĐ-UBND ngày 03/12/2007 Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận về việc không công nhận và không cấp quyền sử dụng diện tích 446m² đất vườn (trong đó có 51,9m² đất tranh chấp) tọa lạc tại khu phố 4, phường P1, thành phố P3 cho vợ chồng ông G, bà P.

[4] Do đó, Kiểm sát viên đề nghị hủy Bản án dân sự sơ thẩm và đình chỉ việc giải quyết vụ án là đúng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 192, điểm g khoản 1 Điều 217, Điều 311 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do Bản án sơ thẩm bị hủy và đình chỉ giải quyết vụ án, người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.

[6] Về chi phí tố tụng khác: Nguyên đơn ông Bùi Văn G, bà Hồ Thị Diệu P là người yêu cầu nên phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí thẩm định giá tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 157, khoản 5 Điều 165 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 192, điểm g khoản 1 Điều 217, khoản 5 Điều 157, khoản 5 Điều 165, khoản 4 Điều 308, Điều 311 Bộ luật Tố tụng dân sự;

1. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 42/2024/DS-ST ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố P3 và đình chỉ giải quyết vụ án.

2. Về án phí:

- Hoàn trả lại cho ông Bùi Văn G, bà Hồ Thị Diệu P 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm theo Biên lai thu số 0005187 ngày 04/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P3.

- Ông Bùi Văn G là người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

3. Về chi phí tố tụng khác: Nguyên đơn ông Bùi Văn G, bà Hồ Thị Diệu P phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí thẩm định giá tài sản; Ông Bùi Văn G, bà Hồ Thị Diệu P đã nộp đủ.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (25/11/2024).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh B.Thuận;
  • - TAND thành phố P3;
  • - VKSND thành phố P3;
  • - Chi cục THADS thành phố P3;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: hồ sơ, TỔ HCTP, TDS;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Hồng Thái

Thành viên Hội đồng xét xử




Phạm Thái Bình      Đặng Văn Cường

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa




Nguyễn Hồng Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 206/2024/DS-PT ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 206/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa NĐ Bùi Văn G - BĐ Huỳnh Văn M
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger