Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 206/2024/DS-PT

Ngày 06-5-2024

V/v tranh chấp tài sản chung của dòng

họ; yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho

quyền sử dụng đất vô hiệu; yêu cầu huỷ

giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà: Trần Thị Quỳnh
Các Thẩm phán: Ông: Ngô Tự Học
Bà: Lê Thị Thuý Bình
- Thư ký phiên tòa: Ông: Phạm Thành Trung
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân: Bà Phan Diệu Nhân, Kiểm sát viên
tham gia phiên toà.

Ngày 06 tháng 5 năm 2024 tại điểm cầu trụ sở Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và điểm cầu thành phần là trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm trực tuyến vụ án thụ lý số: 64/2023/TLPT-DS ngày 22 tháng 02 năm 2023 về tranh chấp tài sản chung của dòng họ; yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu; yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 35/2022/DS-ST ngày 01 tháng 8 năm 2022 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 4600/2024/QĐPT-DS giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn:

  1. Ông Trần Xuân Đ, sinh năm 1950, vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt;
  2. Ông Trần Mạnh K, sinh năm 1948, có mặt;
  3. Ông Trần Trung K1, sinh năm 1951 (chết ngày 05/8/2023);
  4. Ông Trần Văn N, sinh năm 1952, có mặt;
  5. Ông Trần Mạnh Đ1, sinh năm 1958, có mặt.

Các ông Trần Xuân Đ, Trần Mạnh K, Trần Trung K1, Trần Văn N, Trần Mạnh Đ1 đều cư trú tại thôn Đ, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng.

  1. Ông Trần Trung K2, sinh năm 1946; nơi cư trú: thôn T, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng, có mặt;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các nguyên đơn: Ông Trần Xuân H- Luật sư, Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T. Địa chỉ: Số A đường T, phường T, quận K, thành phố Hải Phòng, có mặt.

2. Bị đơn:

Ông Trần Mạnh H1, sinh năm 1957; nơi cú trú: thôn T, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng, có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân huyện K, thành phố Hải Phòng. Địa chỉ: Số H đường M, Tổ dân phố C, thị trấn N, huyện K, thành phố Hải Phòng, có đơn xin xét xử vắng mặt;
  2. Bà Phạm Thị H2, sinh năm 1955 (là vợ ông Trần Mạnh H1), có mặt;
  3. Anh Trần Minh H3, sinh năm 1984 (là con trai ông Trần Mạnh H1), có mặt;
  4. Chị Nguyễn Thị O (là con dâu ông Trần Mạnh H1) vắng mặt. Người đại diện theo ủy quyền của chị O là bà Trần Thị H4, có mặt;
  5. Ông Đặng Văn X, sinh năm 1959 và bà Trần Thị M, sinh năm 1965, có đơn xin xét xử vắng mặt tại tất cả các phiên tòa phúc thẩm.

Các ông bà Phạm Thị H2, Trần Minh H3, Nguyễn Thị O, Đặng Văn X, Trần Thị M đều cư trú tại thôn T, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng.

  1. Bà Trần Thị C, sinh năm 1948; nơi cư trú: Số nhà E, Khu tập thể A L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội, có mặt;
  2. Ông Trần Văn Đ2, sinh năm 1959; nơi cư trú: Tổ B Khu A phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; ) đã chết;
  3. Ông Trần Văn X1, sinh năm 1964; nơi cư trú: Tổ A phường Y, quận H, thành phố Hà Nội, vắng mặt;
  4. Ông Trần Văn Đ3, sinh năm 1966; nơi cư trú: Thôn T, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện ngày 15/12/2020, đơn khởi kiện bổ sung ngày 18/6/2021 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, các nguyên đơn trình bày: Diện tích đất 1.035,9m² (đo thực tế) và 03 gian nhà thờ làm bằng vật liệu gỗ lim trên đất tại Thửa đất số 463, tờ bản đồ số 12, thôn T, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng (sau đây viết tắt là Thửa đất số 463) hiện nay do gia đình Bị đơn ông Trần Mạnh H1 đang quản lý, sử dụng là tài sản chung của dòng họ T (cụ thượng tổ là Trần Đăng D). Ngoài ra, diện tích đất 27,1m² do vợ chồng ông Đặng Văn X và bà Trần Thị M đang sử dụng cũng là đất của dòng họ T (gia đình ông H1 tự ý tách từ thửa đất số 463 nêu trên của dòng họ Trần tặng cho vợ chồng bà M); thửa đất 449+515 có diện tích 112m² thuộc tờ bản đồ số 13 tại xóm D thôn Đ, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng cũng là tài sản chung của dòng họ T (vì là diện tích đất được Nhà nước đền bù đối với 100m² đất của dòng họ T mà năm 1964 Ủy ban hành chính xã M đã mượn để Bộ đội pháo binh thuộc Q1 làm đường phục vụ chiến đấu, sau đã trở thành lối đi chung cho 14 hộ gia đình, cá nhân phía trong ngõ). Do đó, các nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết.

1- Xác định diện tích đất 1.035,9m² (đo thực tế) và 03 gian nhà thờ làm bằng vật liệu gỗ lim trên đất tại Thửa đất số 463, tờ bản đồ số 12, thôn T, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng là tài sản của dòng họ Trần.

2- Yêu cầu ông Trần Mạnh H1 cùng vợ, con ông H1 đang quản lý, sử dụng tài sản này phải trả lại cho dòng họ diện tích 1.035,9m² đất và 03 gian nhà thờ làm bằng gỗ lim nêu trên. Đề nghị giao cho dòng họ T được sử dụng toàn bộ ngôi nhà 05 gian (trong đó có 03 gian nhà gỗ lim của dòng họ) để làm nơi thờ cúng chung của dòng họ T, các đồng nguyên đơn tự nguyện thanh toán trả giá trị 02 gian nhà đầu hồi của 03 gian nhà thờ do gia đình ông H1 đã góp công xây dựng thêm và trước đây dòng họ thống nhất làm 02 gian nhà này cho vợ chồng cụ Mai T1 (bố mẹ đẻ của ông H1) sử dụng, theo giá trị mà Hội đồng định giá đã kết luận là 6.288.750 đồng, ngoài ra các đồng nguyên đơn có trách nhiệm trả toàn bộ giá trị tài sản trên đất cho gia đình ông H1 đã tạo lập từ trước theo giá trị Hội đồng định giá đã kết luận.

3- Đối với diện tích đất mà năm 2019 gia đình ông H1 đã tự ý xây dựng ngôi nhà 02 tầng và công trình phụ thì các nguyên đơn đồng ý để gia đình ông H1 tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán giá trị quyền sử dụng đối với diện tích đất đã xây dựng cho dòng họ Trần theo giá trị Hội đồng định giá đã kết luận.

Ngoài ra, các đồng nguyên đơn còn yêu cầu xác định thửa đất 449+515 có diện tích 112m² thuộc tờ bản đồ số 13 tại xóm D thôn Đ, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng là tài sản chung của dòng họ; yêu cầu tuyên bố Hợp đồng tặng cho 27,1m² đất giữa gia đình ông H1 và vợ chồng bà M vô hiệu, yêu cầu Toà án tuyên bố huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà UBND huyện K đã cấp cho vợ chồng bà M; yêu cầu huỷ bỏ việc kê khai đứng tên cụ Trần Văn T2 trong Sổ mục kê năm 1985 và đứng tên ông Trần Mạnh H1 trong Sổ mục kê năm 1995. Tuy nhiên, sau đó các đồng nguyên đơn đã rút các yêu cầu này.

Để chứng minh cho yêu cầu của mình, các đồng nguyên đơn đưa ra các căn cứ sau đây:

  • Dòng họ T có Nghĩa trang riêng mang tên “Đồng Đăng” tồn tại tại địa chỉ thôn Đ, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng. Nghĩa trang này có phần mộ của bố mẹ đẻ Bị đơn là cụ Trần Văn C1 (Trần Văn T2, còn gọi là Mai T1) và cụ Phùng Thị T3; biểu tượng của Nghĩa T4 cũng là biểu tượng của ngôi mộ Tổ (Trần Tộc 1990); hiện nay bức ảnh có hình mộ Tổ (Trần Tộc 1990) vẫn hiện hữu trang trọng trên bàn thờ của dòng họ tại nhà thờ gỗ lim 03 gian mà gia đình ông Trần Mạnh H1 đang sử dụng.
  • Việc thờ cúng thường niên, thường xuyên giỗ Tổ, chạp Tổ của dòng họ T đều được thực hiện tại nhà thờ 03 gian tại thửa đất gia đình ông Trần Mạnh H1 đang sử dụng.
  • Quyển Tộc phả họ Trần được hoàn thành năm 2003 thể hiện: dòng họ có nhà thờ Tổ và đất làm nhà thờ Tổ ở giữa làng S gần trục đường cái chạy qua làng (nay là thôn T).
  • Lời khai của người làm chứng và lời khai của một số thành viên dòng họ Trần xác định ngôi nhà 05 gian là nhà thờ dòng họ và Thửa đất 463 tờ bản đồ số 12, thôn T, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng là đất của dòng họ được hình thành từ 02 nguồn: 1) vợ chồng cụ Tổ Trần Đăng D được bên vợ là dòng họ Phạm tặng cho 720m² và năm 1958 cụ Trần Thị Â hiến tặng thửa đất 600m² có vị trí liền kề với diện tích đất vợ chồng cụ T5 Trần Đăng D để lại để mở rộng đất dòng họ thành 1.320m².
  • Các bản ảnh chụp Nghĩa T4 “Đồng Đăng” và ảnh ngôi nhà 05 gian có bàn thờ dòng họ Trần.

Ý kiến của Bị đơn:

Không đồng ý với các yêu cầu của Nguyên đơn vì toàn bộ tài sản trên của ông bà nội bị đơn là vợ chồng cụ Trần Văn G (đời thứ 6 dòng họ Trần tại làng S) sử dụng trước năm 1945 và theo tục truyền lại cho con trưởng (vợ chồng cụ Trần Văn C1 (sinh năm 1920), còn có tên Trần Văn T2, Mai T1) – là bố mẹ đẻ của bị đơn và sau đó để lại cho bị đơn, không phải là tài sản của dòng họ T.

Do ông nội bị đơn là Trưởng tộc có trách nhiệm thờ cúng tổ tiên nên hàng năm vào ngày Chạp T6 (26 tháng Chạp) ông nội bị đơn vẫn tổ chức cúng Tổ tại ngôi nhà này và các thành viên trong họ vẫn về ngôi nhà này cùng ông nội bị đơn cúng Tổ. Sau khi ông nội chết thì gia đình bị đơn (bố đẻ bị đơn và bị đơn) là trưởng tộc (đời thứ 7, thứ 8) thay ông nội tiếp tục thờ cúng tổ tiên. Việc thờ cúng thường niên, giỗ Tổ, chạp Tổ của dòng họ T từ trước tới nay là dòng họ đều thực hiện “nhờ” đất của nhà Bị đơn vì Bị đơn là trưởng tộc.

Trước đây, ngôi nhà có 03 gian bằng gỗ do ông bà nội bị đơn là vợ chồng cụ Trần Văn G làm, năm 1965 vợ chồng cụ Mai T1 sửa chữa lại thành nhà 05 gian và sử dụng lại khung nhà gỗ 03 gian để giảm chi phí; cụ Mai T1 đã kê khai đăng ký trên sổ mục kê xã M năm 1985 với diện tích đất 1.045m² đứng tên Trần Văn T2. Ông bà nội, bố mẹ cùng bị đơn và các anh chị em bị đơn đều sinh sống ở ngôi nhà này

Năm 1988, cụ M1 Tân chết, năm 1995 bị đơn (Trần Mạnh H1) đứng tên trong sổ mục kê của xã M với diện tích đất 1.120m². Gia đình bị đơn đã nộp thuế đầy đủ cho Nhà nước. Tài liệu đất đai thể hiện Thửa đất trên là đất thổ cư (T), không phải đất dòng họ.

Năm 1964, Uỷ ban hành chính xã M đã thống nhất với cụ M1 Tân đổi một ít đất thổ cư tại thửa đất trên để làm đường đi cho xe kéo pháo và tạm trả cho gia đình một thửa đất khác để canh tác, năm 1973 cụ Mai T1 trả lại Hợp tác xã Nông nghiệp xã M diện tích đã giao cho gia đình ông tạm canh tác và có ý kiến xin lại diện tích đất đã cho mượn làm đường nhưng diện tích đất này đã làm thành lối đi chung của xóm. Năm 2013, Bị đơn đề nghị UBND xã M bồi thường cho gia đình ông thửa đất khác bù vào diện tích đất đã lấy của gia đình Bị đơn làm đường. UBND huyện K đã bồi thường cho gia đình bị đơn thửa đất 449+515 có diện tích 112m² thuộc tờ bản đồ số 13 tại xóm D thôn Đ, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng.

Toàn bộ công trình nhà 02 tầng mới xây dựng trên đất thuộc quyền sở hữu của vợ chồng anh Trần Minh H3 (con trai ông Trần Mạnh H1). Toàn bộ tài sản đã cũ cùng cây cối trồng trên đất là tài sản thuộc quyền sở hữu của vợ chồng ông H1.

Bị đơn ông Trần Mạnh H1 không thừa nhận quyển Tộc phả mà các nguyên đơn đưa ra và không thừa nhận việc họ P cho cụ Trần Đăng D thửa đất trên và không thừa nhận việc cụ Trần Thị Ầ đã hiến đất cho dòng họ T. Bức ảnh mộ Tổ trên bàn thờ Tổ tiên là do ông H1 thuê thợ chụp năm 2001 và trịnh trọng đặt lên đó để làm kỷ niệm.

Ý kiến của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Phạm Thị H2 (vợ ông Trần Mạnh H1), anh Trần Minh H3, chị Nguyễn Thị O (là con trai và con dâu ông H1), bà Trần Thị C, ông Trần Văn Đ2, ông Trần Văn X1 và ông Trần Văn Đ3 (là các anh, chị em ruột ông H1) đều khai phù hợp với ông Trần Mạnh H1, trong đó các anh chị em ruột ông H1 không nhận tài sản nào của bố mẹ là cụ Mai T1 để lại mà nhường cho vợ chồng ông H1 toàn quyền sử dụng, sở hữu.

Vợ chồng bà Trần Thị M, ông Đặng Văn X trình bày: Vợ chồng ông bà được gia đình ông Trần Mạnh H1 tặng cho 27,1m² từ năm 2008. Năm 2014 thì vợ chồng ông bà đã xây dựng trên diện tích đất này và năm 2019 đã được UBND huyện K cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trong đó có diện tích 27,1m² nêu trên Vợ chồng ông bà đề nghị Toà án giữ nguyên Giấy chứng nhận và không chấp nhận trả lại đất cho dòng họ.

UBND huyện K xác định việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng bà Trần Thị M là đúng quy định pháp luật, ngoài ra chưa có ý kiến gì thêm.

Ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên toà sơ thẩm:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, chỉ xác định diện tích nhà 05 gian 55,9m² và diện tích sân 68m² là tài sản chung của dòng họ (BL1006).

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2022/DS-ST ngày 01/8/2022, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng quyết định:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn về yêu cầu xác định diện tích đất 112,0 m² tại thửa 449+515 thuộc tờ bản đồ số 13, địa chỉ: Thôn Đ, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng là tài sản chung của dòng họ T và đình chỉ yêu cầu đòi lại 112,0 m² đất này. Đình chỉ yêu cầu tuyên bố Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất lập ngày 09/02/2018 giữa ông Trần Mạnh H1, bà Phạm Thị H2 với ông Đặng Văn X và bà Trần Thị M vô hiệu. Đình chỉ yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 891521, số vào sổ cấp GCN: CH 01958 ngày 12/12/2019 của UBND huyện K đã cấp cho vợ chồng ông Đặng Văn X, bà Trần Thị M. Đình chỉ yêu cầu hủy bỏ việc kê khai trong sổ mục kê tại UBND xã M đứng tên cụ Trần Văn T2 năm 1985 và đứng tên ông Trần Mạnh H1 năm 1995.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn về xác định diện tích đất 1.035,9 m² tại Thửa số 463, Tờ bản số 12, thôn T, xã M, huyện K, Thành phố Hải Phòng và 03 gian nhà thờ (có phần làm bằng gỗ lim) ở giữa ngôi nhà 05 gian trên đất là tài sản chung của dòng họ.
  3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn về yêu cầu đòi lại 1.035,9 m² đất Tại thửa số 463, Tờ bản số 12, thôn T, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng và chấp nhận yêu cầu đòi lại 03 gian nhà thờ (có phần làm bằng gỗ lim) ở giữa ngôi nhà 05 gian trên đất. Buộc gia đinh ông H1, gồm (ông Trần Mạnh H1, bà Phạm Thị H2, anh Trần Minh H3, chị Nguyễn Thị O) phải trả lại cho dòng họ Trần (do các nguyên đơn ông Trần Xuân Đ, ông Trần Trung K2, ông Trần Mạnh K, ông Trần Trung K1, ông Trần Văn N, ông Trần Mạnh Đ1 đại diện) diện tích đất 675,0 m² và 03 gian nhà thờ (có phần làm bằng gỗ lim) ở giữa ngôi nhà 05 gian trên đất.

Giao cho dòng họ T (do ông Trần Xuân Đ, ông Trần Trung K2, ông Trần Mạnh K, ông Trần Trung K1, ông Trần Văn N, ông Trần Mạnh Đ1 đại diện) được quyền sử dụng 675m² đất (có ghi chú tứ cận và sơ đồ kèm theo) và sở hữu tài sản trên đất (có thống kê kèm theo) với tổng giá trị tài sản trên đất là 44.494.000 đồng (bốn mươi bốn triệu bốn trăm chín mươi bốn nghìn đồng), buộc các đồng nguyên đơn phải thanh toán trả giá trị tài sản cho ông Trần Mạnh H1 và bà Phạm Thị H2 số tiền 27.767.500đ (hai mươi bẩy triệu bảy trăm sáu mươi bẩy nghìn năm trăm đồng)(chưa tính giá trị 39,4m² sân lát gạch đỏ). Đồng nguyên đơn phải thanh toán trả giá trị tài sản cho anh Trần Minh H3 và chị Nguyễn Thị O số tiền 16.726.500 đồng (mười sáu triệu bảy trăm hai mươi sáu nghìn năm trăm đồng) là giá trị 39,4m² sân lát gạch đỏ và 9,3m² tường bao giáp đường. Dòng họ T được quyền mở lối đi ra đường tỉnh lộ 362.

Giao cho gia đình ông Trần Mạnh H1 (gồm ông H1, bà Phạm Thị H2, anh Trần Minh H3, chị Nguyễn Thị O) được quyền sử dụng 360,9m² đất (có chú thích mốc giới và sơ đồ kèm theo) và sử dụng tài sản trên đất (có thống kê kèm theo).

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 01/8/2022, bị đơn ông Trần Mạnh H1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm và nộp bổ sung các tài liệu bao gồm:

  • 01 Usb trong đó có các file hình ảnh Thửa đất và ngôi nhà đang tranh chấp; file clip ghi lại cảnh cụ Trần Thị Ầ bị lẫn, con cháu phải nhốt cụ trong nhà.
  • 01 bản tổng hợp xác nhận của một số người là con cháu dòng họ T về việc Thửa đất và ngôi nhà đang tranh chấp là của gia đình ông Trần Mạnh H1.

Ngày 09/8/2022, các nguyên đơn gồm các ông Ông Trần Xuân Đ, Trần Trung K2, Trần Mạnh K, Trần Trung K1, Trần Văn N, Trần Mạnh Đ1 có đơn kháng cáo với nội dung: chỉ chấp nhận trả cho bị đơn 100m² đất tính công sức trông coi, quản lý tài sản chung dòng họ. Tòa án cấp sơ thẩm giao cho bị đơn 360,9m² mà không buộc bị đơn phải thanh toán giá trị quyền sử dụng (360,9m² - 100m² = 260,9m²) là không đúng. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm buộc bị đơn trả cho nguyên đơn giá trị 260,9m² đất (BL1043)

Ngày 25/8/2022, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị C, ông Trần Văn Đ3 có đơn kháng cáo đối với toàn bộ bản án sơ thẩm (BL 1084, 1140). Bà C được tống đạt Bản án ngày 10/9/2022 (BL 1108, 1113). Ông Đ3 được tống đạt Bản án ngày 22/8/2022 (BL 1102)

Tại phiên toà phúc thẩm, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giữ nguyên kháng cáo.

Ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên toà phúc thẩm: đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến trình bày của các bên đương sự, của Luật sư bảo vệ quyền lợi cho đương sự và trình bày của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao Hà Nội tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1]

Các ông Trần Xuân Đ, Trần Trung K2, Trần Mạnh K, Trần Trung K1, Trần Văn N, Trần Mạnh Đ1 là thành viên dòng họ Trần tại thôn T, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng nên có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án xác định Thửa đất số 463 Tờ bản đồ số 12 và ngôi nhà gỗ 03 gian được xây dựng trên Thửa đất tại thôn T xã M, huyện K là tài sản chung của dòng họ Trần; yêu cầu ông Trần Mạnh H1 trả lại đất và nhà cho dòng họ làm nơi thờ cúng; yêu cầu tuyên bố Hợp đồng tặng cho 01 phần của Thửa đất 463 giữa ông Trần Mạnh H1 và bà Trần Thị M vô hiệu; yêu cầu huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho vợ chồng bà M và thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo quy định tại các điều 26, 34, 37, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2]

Theo hướng dẫn tại Khoản 1 Điều 3 Nghị quyết số 01/2020/NQ-HĐTP ngày 05/3/2020 thì bất kỳ ai là Thành viên dòng họ, có đủ năng lực hành vi dân sự đều có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của dòng họ. Mỗi thành viên dòng họ đều có quyền khởi kiện độc lập. Tài sản của dòng họ không phải là tài sản thuộc quyền sở hữu riêng của bất kỳ thành viên dòng họ nào vì vậy khi có thành viên dòng họ chết thì tài sản vẫn là tài sản chung của dòng họ, không phải là di sản của riêng thành viên đã chết và không được thừa kế cho các hàng thừa kế của thành viên đã chết. Do đó, trường hợp sau khi xét xử sơ thẩm, ông Trần Trung K1 và ông Trần Văn Đ2 chết ở giai đoạn vụ án đang trong quá trình giải quyết theo thủ tục phúc thẩm, thì không phải triệu tập Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự, vì trong vụ án này ông K1, ông Đ2 không có quyền và nghĩa vụ về tài sản được thừa kế.

[1.3]

Trong quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, các nguyên đơn đã rút các yêu cầu khởi kiện xác định thửa đất 449+515 có diện tích 112m² thuộc tờ bản đồ số 13 tại xóm D thôn Đ, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng là tài sản chung của dòng họ; yêu cầu tuyên bố Hợp đồng tặng cho 27,1m² đất giữa gia đình ông Trần Mạnh H1 và vợ chồng bà Trần Thị M vô hiệu, yêu cầu Toà án tuyên bố huỷ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà UBND huyện K đã cấp cho vợ chồng bà M; yêu cầu huỷ bỏ việc kê khai đứng tên cụ Trần Văn T2 trong Sổ mục kê năm 1985 và đứng tên ông Trần Mạnh H1 trong Sổ mục kê năm 1995. Do đó, Toà án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết đối với các yêu cầu này là đúng quy định pháp luật.

[1.4]

Các đương sự kháng cáo trong thời hạn luật định, nguyên đơn kháng cáo thuộc trường hợp được miễn án phí và có đơn xin miễn án phí phúc thẩm (BL 1044), Bị đơn Trần Mạnh H1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn Đ3 kháng cáo và đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm (1035, 1068), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị C kháng cáo thuộc trường hợp được miễn án phí và có đơn xin miễn án phí phúc thẩm (BL 1076), vì vậy, Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm là đúng quy định.

[2] Về nội dung

[3]

Các nguyên đơn trình bày Thửa đất số 463, Tờ bản đồ số 12, thôn T, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng là tài sản chung của dòng họ Trần tại làng S, có từ 02 nguồn, gồm: 1) Họ Phạm tặng cho vợ chồng cụ thượng Tổ Trần Đăng D 02 sào (760m²) từ khi cụ thượng Tổ đến cư trú và lấy con gái họ P; 2) cụ Trần Thị Ầ hiến đất cho dòng họ Trần năm 1958 diện tích 01 sào 10 thước (600m²), tổng cộng là 1.320m². Dòng họ T giao cho cụ Trần Văn T2 (M) là Trưởng tộc đời thứ 7 quản lý, sử dụng từ năm 1950. Sau quá trình sử dụng có nhiều biến động, hiện nay đo thực tế là 1.035,9m². Bị đơn ông Trần Mạnh H1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho rằng Thửa đất 463 không phải là tài sản chung của dòng họ T; Thửa đất số 463 trên do ông bà nội ông H1 là vợ chồng kỵ Trần Văn G (trưởng tộc đời thứ 6) để lại cho vợ chồng cụ Mai T1 (trưởng tộc đời thứ 7- là bố mẹ đẻ của ông H1) sau đó để lại cho ông H1 (trưởng tộc đời thứ 8).

[4]

Xét thấy: Mặc dù nguyên đơn không đưa ra được văn bản, giấy tờ pháp lý thể hiện cụ T7 tổ Trần Đăng D đứng tên và từng là chủ sử dụng Thửa đất số 463 tờ bản đồ số 12, thôn T, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng nhưng ông Trần Mạnh H1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thừa nhận đất được thừa kế từ kỵ Trần Văn G (ông nội của ông H1) và gia đình ông H1 cũng không đưa ra được văn bản pháp lý thể hiện nguồn gốc thửa đất do đâu mà kỵ Trần Văn G có. Kỵ Trần Văn G cũng là hậu duệ dòng họ T, con cháu cụ thượng Tổ Trần Đăng D; do đó, có căn cứ tin vào lời khai của các nguyên đơn về việc xác định một phần Thửa đất số 463 nêu trên có nguồn gốc là tài sản của vợ chồng cụ T7 tổ Trần Đăng D, nhưng không xác định được chính xác diện tích đất mà cụ T7 tổ Trần Đăng D để lại vì không có tài liệu là hồ sơ đất đai về thửa đất trước năm 1980, ngay cả cuốn Tộc phả họ Trần do nguyên đơn và một số thành viên họ Trần lập cũng nêu “đất của Tổ tiên để lại rất hẹp, chỉ làm được ngôi nhà thờ Tổ 03 gian quay hướng Đông” (tr.31), vì vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định chỉ một phần trong diện tích 760m² (không biết chính xác số diện tích đất) thuộc Thửa đất số 463 có nguồn gốc thuộc quyền sử dụng của vợ chồng cụ T7 tổ Trần Đăng D.

[5]

Đối với diện tích khoảng 600m² của Thửa đất 463 mà nguyên đơn và một số người làm chứng, một số thành viên dòng họ xác định là diện tích đất tăng thêm sau khi gia đình ông Trần Mạnh H1 quản lý, sử dụng: Theo lời khai của nguyên đơn và một số người làm chứng là thành viên dòng họ T trình bày do năm 1958 cụ Trần Thị Ầ tặng cho dòng họ Trần diện tích đất của bố mẹ cụ Ầ liền kề với thửa đất của vợ chồng cụ T7 tổ Trần Đăng D để mở rộng khuôn viên đất của dòng họ T. Cụ Â có lời khai về việc đã hiến cho dòng họ Trần 600m². Một số người làm chứng không phải thành viên dòng họ là ông Đặng Văn T8 và ông Phạm Trọng T9 có lời khai làm chứng về việc gia đình cụ Ầ từng sinh sống trên phần diện tích đất tại T 463 hiện nay gia đình ông H1 đang sử dụng. Tuy nhiên, phía nguyên đơn và cụ Trần Thị Ầ không cung cấp được giấy tờ về việc cụ Ầ tặng cho đất dòng họ Trần; xác minh tại UBND xã M (BL 911) thì UBND xã không lưu trữ hồ sơ đất đai trước năm 1980 nên không có tài liệu chứng minh gia đình cụ Ầ từng là chủ sử dụng một phần Thửa đất 463 nêu trên; cụ Ẩ là người trong dòng họ T, ông T8 là anh rể của nguyên đơn Trần Xuân Đ, còn ông Phạm Trọng T9 là em chồng cụ Trần Thị Ẩ; tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, ông Trần Mạnh H1 cung cấp chứng cứ mới là clip quay về tình trạng sức khỏe, tinh thần không minh mẫn của cụ Trần Thị Â, cụ Ầ bị lẫn nên con cháu cụ phải nhốt, khoá cụ trong nhà, Toà án cấp phúc thẩm triệu tập nhưng cụ Ầ đã chết ngày 18/11/2023, nên xét thấy tính khách quan của các lời khai chưa được bảo đảm.

[6]

Mặt khác, những người làm chứng khác cũng là thành viên dòng họ T lại có lời khai xác nhận không nghe nói có việc cụ Trần Thị Ầ hiến đất cho dòng họ T, trong đó có nhiều người là bậc cao niên như ông Trần Thanh N1 sinh năm 1946, bà Phùng Thị M2 sinh năm 1942, ông Trần Cao P1 sinh năm 1946, bà Bùi Thị T10 sinh năm 1929; một số người làm chứng không phải là nguời thuộc dòng họ Trần như cụ Phạm Văn T11 sinh năm 1932, bà Phạm Thị C2 sinh năm 1933 cũng có lời khai đất gia đình ông Trần Mạnh H1 đang sử dụng là của kỵ Trần Văn G (ông nội của ông H1) để lại và thửa đất vẫn nguyên hiện trạng từ trước tới nay, không có việc cụ Trần Thị Ầ hiến đất. Gia đình ông Trần Mạnh H1 sử dụng đất từ thời kỵ Trần Văn G (gần 100 năm) qua nhiều thế hệ cũng có thể làm tăng diện tích đất do lấn chiếm diện tích đất trống xung quanh mảnh đất của gia đình. Vì vậy, chứng cứ tài liệu hiện có không đủ căn cứ xác định cụ Trần Thị Ầ có cho đất dòng họ Trần hay không? Hơn nữa, lời khai của nguyên đơn và cụ Trần Thị Ẩ cùng những người làm chứng cho phía nguyên đơn xác định cụ Ầ tặng cho dòng họ T vào năm 1958 nhưng đây là thời điểm cụ Mai T1 (bố đẻ của ông Trần Mạnh H1) đang quản lý, sử dụng Thửa đất 463, nên nếu có việc cụ Trần Thị Ầ đi lấy chồng, không sử dụng đất nữa nên ông Mai Tân t lấn chiếm đất bỏ không để quản lý, sử dụng hay cụ Ầ tặng cho đất; nếu có việc cụ Ầ tặng cho đất thì cũng không xác định được cụ Ầ tặng cho đất dòng họ Trần hay tặng cho đất cụ Mai T1 và cũng không xác định được diện tích đất tặng cho là bao nhiêu.

[7]

Về quyển Tộc phả họ Trần mà các nguyên đơn cung cấp cho Toà án làm chứng cứ: Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng quyển Tộc phả được đánh máy, ghi hoàn thành năm 2003 (BL 323, 374), do một số thành viên dòng họ Trần đời sau này ghi chép lại, không phải Tộc phả do Tổ tiên dòng họ T để lại, gia đình ông H1 và nhiều thành viên không ký Tộc phả và vẫn phản đối việc Tộc phả xác định ngôi nhà 05 gian trên đất do gia đình ông H1 sử dụng là tài sản chung của dòng họ. Mặt khác, Tộc phả chỉ ghi nhận căn nhà 05 gian là nhà thờ dòng họ, không thể hiện diện tích đất dòng họ có diện tích là bao nhiêu. Do đó, quyển tộc phả mà nguyên đơn cung cấp cho Toà án không đủ căn cứ để xác định Thửa đất số 463 Tờ bản đồ số 12 thôn T, xã M là tài sản chung của dòng họ T tại làng S.

[8]

Về ngôi nhà 05 gian mà Nguyên đơn cho rằng có 03 gian giữa làm bằng gỗ là nhà thờ dòng họ T và hằng năm dòng họ vẫn đến đây để cúng Chạp, giỗ Tổ. Tại phiên tòa phúc thẩm, Nguyên đơn vẫn xác nhận ngôi nhà được xây năm 1920, tức là thừa nhận ngôi nhà không phải do vợ chồng cụ T7 tổ Trần Đăng D để lại. Nguyên đơn không đưa ra được tài liệu chứng minh về việc dòng họ đã đóng góp công sức để xây dựng nên ngôi nhà này, không có tài liệu, sổ sách ghi lại việc công đức của các thành viên dòng họ. Qua xem xét ngôi nhà qua bản ảnh và clip do các đương sự cung cấp thấy rằng ngôi nhà không có ghi năm xây dựng, không có ghi ký hiệu là nhà thờ Tổ hay nhà thờ dòng họ Trần. Nguyên đơn xác định trước năm 1950 (trước khi cụ Mai T1 về đây ở) thì không có ai trông nom ngôi nhà, nhưng phía gia đình ông Trần Mạnh H1 xác định trước đó là kỵ Trần Văn G sinh sống. Thực tế, ngôi nhà được gia đình ông Trần Mạnh H1 sử dụng từ đời kỵ Trần Văn G để sinh sống và sinh hoạt hàng ngày tại ngôi nhà 05 gian trên. Ngôi nhà ban đầu chỉ có 03 gian nhà gỗ, quá trình sử dụng, năm 1966 cụ Mai T1 – là Trưởng công an huyện K được mua phân phối 1000 viên ngói nên ngôi nhà đã được lợp ngói, xây thêm 02 gian đầu hồi và quay nhà từ hướng Đông sang hướng N. Gia đình bị đơn trình bày việc sửa sang, xây dựng nhà năm 1966 và những lần sửa chữa sau này thì dòng họ không ai đóng góp gì vì là nhà của gia đình bị đơn và các nguyên đơn không đưa ra được chứng cứ chứng minh dòng họ đã đóng góp để xây dựng và sửa chữa căn nhà 05 gian nêu trên. Việc gia đình ông Trần Mạnh H1 khai gia đình ông có ban thờ Tổ tiên dòng họ và cho dòng họ đến cúng giỗ chạp Tổ hàng năm theo giải trình của ông H1 là vì gia đình ông H1 là trưởng tộc có trách nhiệm thờ cúng Tổ tiên nên để dòng họ cúng nhờ nhà T12 tộc cũng không phải là không có lý, phù hợp với đạo lý truyền thống. Do đó, nếu chỉ căn cứ vào ngôi nhà 05 gian được xây dựng lâu năm, có ban thờ Tổ tiên trong nhà và sự việc dòng họ đến nhà ông H1 cúng giỗ chạp Tổ thường niên để xác định ngôi nhà và đất là tài sản chung của dòng họ là không đủ căn cứ.

[9]

Như trên đã phân tích, có căn cứ xác định một phần Thửa đất 463 Tờ bản đồ số 12 thôn T, xã M đúng là có nguồn gốc của Tổ tiên họ Trần làng Sâm L (là vợ chồng cụ T7 tổ Trần Đăng D) để lại. Tuy nhiên, hiện nay không có văn bản, tài liệu chứng minh vợ chồng cụ thượng Tổ Trần Đăng D di chúc đây là đất thờ cúng dòng họ Trần; cũng không có tài liệu hợp pháp thể hiện các thừa kế của vợ chồng cụ Tổ Trần Đăng D cũng như văn bản của toàn thể dòng họ xác định đây là nhà và đất thờ cúng của dòng họ T. Quyển Tộc phả hoàn thành năm 2003 chỉ do một số cá nhân dòng họ đời sau này tự biên soạn và không được cả dòng họ thừa nhận thì chưa có giá trị chứng minh. Ngôi nhà 05 gian được sử dụng là nơi sinh sống của gia đình ông Trần Mạnh H1 và không có dấu tích, ký hiệu là Nhà thờ dòng họ. Nguyên đơn có đưa ra chứng cứ là lời khai của một số thành viên dòng họ (cụ thể là hơn 60 người) xác nhận Thửa đất số 463 Tờ bản đồ số 12 thôn T, xã M và ngôi nhà gỗ 03 gian trên đất là tài sản chung của dòng họ Trần nhưng cũng có hơn 90 người cũng là thành viên dòng họ T không thừa nhận Tộc phả và xác định nhà đất thuộc quyền sử dụng của gia đình ông Trần Mạnh H1 và xác nhận việc cúng giỗ hàng năm tại gia đình ông H1 là theo phong tục địa phương, thờ cúng tại nhà T12 tộc. Dòng họ T tại làng S có 04 chi thì T12 03 chi là Chi 1 (ông Trần Mạnh H1), Chi 2 (ông Trần Mạnh T13) và chi 3 ông Trần Văn Q đều xác nhận đất thuộc quyền sở hữu của gia đình ông Trần Mạnh H1. Trong đó, ông Trần Mạnh T13 - Trưởng Chi 2 còn là cháu của nguyên đơn Trần Mạnh K. Lời khai của những nguời làm chứng do các bên đưa ra là trái ngược nội dung với nhau. Không có chứng cứ để bác bỏ lời khai của bất kỳ bên nào. Do đó, không thể căn cứ vào các lời khai để xác định đây là đất thờ cúng dòng họ Trần làng S.

[10]

Thửa đất số 463, Tờ bản đồ số 12, thôn T, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng do gia đình ông Trần Mạnh H1 sử dụng từ trước năm 1980 đến nay. Theo xác minh tại UBND xã M thì gia đình ông Trần Mạnh H1 chưa làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng theo hồ sơ đất đai quản lý tại địa phương thì gia đình ông Trần Mạnh H1 đứng tên trong Sổ mục kê năm 1985 (cụ Trần Văn T2) và năm 1995 (ông Trần Mạnh H1), gia đình ông H1 là người kê khai và nộp thuế đất. Mặc dù Sổ mục kê năm 1985 và 1995 không phải là Giấy tờ về đất đai theo quy định tại Điều 100 Luật đất đai nhưng là một trong những chứng cứ để chứng minh việc sử dụng đất ổn định, lâu dài, việc có tên trong sổ mục kê cùng với các chứng cứ khác như việc sử dụng đất ổn định từ trước năm 1980 thì cũng là căn cứ để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ủy ban nhân dân cũng xác định Thửa đất số 463, Tờ bản đồ số 12 thôn T, xã M đủ điều kiện cấp giấy theo quy định. Mặt khác, việc đứng tên trong sổ mục kê và nộp thuế đất thể hiện các thành viên trong dòng họ T biết nhưng không phản đối. UBND xã M không còn lưu giữ tài liệu đất đai trước ngày 18/12/1980 nên không xác định được trước năm 1980 chủ sử dụng Thửa đất số 463 là ai, UBND xã M xác định không đủ căn cứ để khẳng định Thửa đất 463 đang tranh chấp là đất của dòng họ Trần hay đất của gia đình ông Trần Mạnh H1 (BL 378, 912).

[11]

Với những chứng cứ mà các đương sự đã giao nộp cho Tòa án có trong hồ sơ vụ án, chứng cứ mà Tòa án đã thu thập và kết quả thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, trên cơ sở các chứng cứ mới mà bị đơn Trần Mạnh H1 đã nộp tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng không thể xác định được việc gia đình ông Trần Mạnh H1 (từ đời kỵ Trần Văn G) được Tổ tiên dòng họ Trần giao đất sử dụng vì gia đình ông H1 là trưởng tộc nên được thừa kế đất theo tập quán, để hương khói tổ tiên hay gia đình ông Trần Mạnh H1 chỉ được giao trông coi đất thờ cúng của dòng họ. Điều đó cũng có nghĩa hồ sơ vụ án không có đủ chứng cứ xác định Thửa đất số 463, Tờ bản đồ số 12 thôn T, xã M và ngôi nhà 05 gian trên đất là tài sản chung của dòng họ Trần. Hơn nữa, tài liệu hiện có trong hồ sơ cũng không xác định diện tích đất Tổ tiên để lại là bao nhiêu và quá trình sử dụng gia đình ông H1 có mở rộng diện tích để sử dụng hay không?

[12]

Theo quy định tại khoản 1 và khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự thì “Đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp” và “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”.

[13]

Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy với những chứng cứ hiện có trong hồ sơ vụ án không đủ căn cứ để chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn Trần Xuân Đ, Trần Trung K2, Trần Mạnh K, Trần Trung K1, Trần Văn N, Trần Mạnh Đ1; do đó không chấp nhận kháng cáo của các nguyên đơn về yêu cầu ông Trần Mạnh H1 phải thanh toán giá trị 260,9m² đất mà Toà án cấp sơ thẩm đã giao cho gia đình ông Trần Mạnh H1 sử dụng; chấp nhận đơn kháng cáo của ông Trần Mạnh H1, chấp nhận đơn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị C, ông Trần Văn Đ3, sửa bản án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.

[14]

Về án phí: Do kháng cáo của ông Trần Mạnh H1, bà Trần Thị C, ông Trần Văn Đ3 được chấp nhận, nên ông Trần Mạnh H1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm. Bà Trần Thị C, ông Trần Văn Đ3 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

[15]

Các nguyên đơn đều là người cao tuổi và đều có đơn xin miễn án phí phúc thẩm và sơ thẩm; do đó Hội đồng xét xử miễn án phí cho các nguyên đơn theo quy định tại Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 và khoản 4 Điều 91, Khoản 2 Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn gồm các ông Trần Xuân Đ, Trần Trung K2, Trần Mạnh K, Trần Trung K1, Trần Văn N, Trần Mạnh Đ1.
  2. Chấp nhận kháng cáo của Bị đơn Trần Mạnh H1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị C, ông Trần Văn Đ3; sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2022/DS-ST ngày 01/8/2022 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng; tuyên bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xác định diện tích đất 1.035,9 m² tại Thửa số 463, Tờ bản số 12, thôn T, xã M, huyện K, Thành phố Hải Phòng và 03 gian nhà thờ (có phần làm bằng gỗ lim) ở giữa ngôi nhà 05 gian trên đất là tài sản chung của dòng họ; bác yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn về việc yêu cầu gia đình ông Trần Mạnh H1 trả lại cho dòng họ Trần tài sản là 1.035,9 m² đất và 03 gian nhà thờ ở giữa ngôi nhà 05 gian tại Thửa đất số 463, Tờ bản số 12, thôn T, xã M, huyện K, thành phố Hải Phòng; và bác yêu cầu của các nguyên đơn về việc đề nghị Toà án giao cho dòng họ T được sử dụng toàn bộ ngôi nhà 05 gian tại Thửa đất số 463, Tờ bản số 12, thôn T, xã M, huyện K, Thành phố Hải Phòng.
  3. Về án phí: miễn án phí dân sự sơ thẩm và án phí dân sự phúc thẩm cho các nguyên đơn ông Trần Xuân Đ, Trần Trung K2, Trần Mạnh K, Trần Trung K1, Trần Văn N, Trần Mạnh Đ1; Bị đơn ông Trần Mạnh H1 không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, án phí dân sự phúc thẩm; bà Trần Thị C, ông Trần Văn Đ3 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Trả lại ông Trần Mạnh H1 số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai số AA/2021/0000704 ngày 11/8/2022 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Trả lại ông Trần Văn Đ3 số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai số AA/2021/0000645 ngày 08/9/2022 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.
  4. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • -Chánh án TANDCC;
  • -Đương sự (theo địa chỉ);
  • -VKSNDCCHN;
  • -TAND TP.Hải Phòng;
  • -VKSND TP.Hải Phòng;
  • -Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Quỳnh

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Tự Học Lê Thị Thúy Bình

Trần Thị Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 206/2024/DS-PT ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp tài sản chung của dòng họ; yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu; yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 206/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp tài sản chung của dòng họ; yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu; yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Xuân Đ - Trần Mạnh H về việc tranh chấp tài sản chung của dòng họ; yêu cầu tuyên bố hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất vô hiệu; yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger