Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẢNG BOM

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 205/2024/HSST.

Ngày: 30-07-2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Ngọc Nam.

Các Hội thẩm nhân dân.

Ông Nguyễn Đình Quang.

Ông Tạ Văn Đài.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Đoàn Thị Quỳnh - Thư ký

Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom tham gia phiên

tòa: Ông Cao Văn Bình - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 205/2024/HSST ngày 03 tháng 07 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 193/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 07 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Lê Hoàng T, sinh năm 2000 tại Đồng Nai; nơi cư trú: Ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Hoàng P và bà Võ Thị Như Q; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Không; bị cáo giam giữ từ ngày 23/09/2023. (Có mặt)

2. Lê Văn X, sinh năm 1994 tại Cà Mau; nơi đăng ký thường trú: Ấp Đ, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau; nơi ở: Ấp S, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn N và bà Huỳnh Thị Đ; bị cáo chưa có vợ con; tiền án: Ngày 19/05/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án số 98/2020/HS-ST (chấp hành xong hình phạt ngày 23/08/2020), tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 11/09/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 01 năm 02 tháng (được miễn chấp hành thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính còn lại vào ngày 13/06/2019); bị cáo giam giữ từ ngày 23/09/2023. (Có mặt)

- Người làm chứng: Ông Hồ Thanh M, sinh năm 1989, địa chỉ: Ấp H, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long. (Vắng mặt)

- Người làm chứng: Bà Huỳnh Thanh T1, sinh năm 1987, địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 22/9/2023, Công an xã B phối hợp với Tổ 161 Công an huyện T tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà trọ ông Hoàng Thế H, sinh năm 1973, địa chỉ tại: ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Qua kiểm tra tại phòng trọ số I, có 04 đối tượng có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy gồm: Lê Văn X, Lê Hoàng T, Hồ Thanh M và Huỳnh Thanh T1. Lúc này, X và M đang ở trên gác, còn T và T1 nằm dưới tấm nệm trên nền nhà. Kiểm tra trên gác phát hiện ở góc tường bên tay trái có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm: 01 chai nhựa chứa nước có nắp màu đỏ đục 02 lỗ nhỏ, 01 lỗ cắm nỏ thuỷ tinh (trong phễu có nước), 01 lỗ cắm ống hút nhựa màu đen. X và M khai nhận bộ dụng cụ trên vừa dùng để sử dụng ma túy với đối tượng tên H1 (không rõ nhân thân, lai lịch) xong thì H1 cất ở góc tường trên gác rồi sau đó đi đâu không rõ, còn X và M nằm xem điện thoại thì bị Công an vào kiểm tra phát hiện.

Quá trình điều tra xác định: Từ tháng 11/2022, T có quan hệ tình cảm nên sống chung với T1 như vợ chồng tại phòng trọ số I thuộc ấp A, xã B, huyện T do T1 trực tiếp thuê. Vào khoảng 21 giờ ngày 22/09/2023, do có nhu cầu sử dụng ma túy, nên X liên lạc đến số điện thoại của T hỏi có gì chơi không (tức X hỏi T có ma túy để cùng sử dụng không), rồi X nói có số tiền 100.000 đồng (một trăm ngàn đồng) để góp mua ma túy, T đồng ý. Lúc này X hỏi số tài khoản Ngân hàng của T để chuyển tiền, T đọc số tài khoản cho X biết, sau T điện thoại cho đối tượng H1 (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi tiền để góp mua ma túy cùng sử dụng hay không, T nói X góp 100.000 đồng để mua ma túy, H1 nghe vậy nên đồng ý nói góp thêm số tiền 100.000 đồng để mua ma túy và H1 sẽ trực tiếp đi mua ma túy mang đến cùng sử dụng. Sau đó, X đi ra cửa hàng dịch vụ chuyển tiền để chuyển tiền đến số tài khoản của T với số tiền 170.000 đồng (do trước đó X nợ T số tiền 70.000 đồng), trong đó có 100.000 đồng là tiền góp mua ma túy. Khi T vừa nói chuyện điện thoại với đối tượng H1 xong thì thấy tài khoản số “0385494158” Ngân hàng M1 mang tên LE HOANG TRONG thông báo tài khoản được nhận thêm 170.000 đồng (Một trăm bảy mươi ngàn đồng) vào lúc 21 giờ 19 phút ngày 22/9/2023, T biết là tiền của X chuyển đến góp mua ma túy cùng sử dụng. Trong lúc T nói chuyện điện thoại với X và H1 thì T1 đang nằm ngủ dưới tấm nệm trên nền nhà nên không biết. Đến khoảng 22 giờ 50 phút ngày 22/09/2023, X điều khiển xe mô tô biển số 78B1- 042.58 đến trước phòng trọ của T, lúc này thấy phòng không khóa cửa nên X mở cửa đi vào phòng thì thấy T đang nằm xem điện thoại, còn T1 vẫn đang nằm ngủ. Thấy vậy, X tự đi lên gác phòng trọ nằm xem điện thoại chờ để sử dụng ma túy. Đến 23 giờ cùng ngày, đối tượng H1 mở cửa phòng trọ đi vào thì T biết H1 mang ma túy đến, trước ngực H1 đeo 01 túi đeo chéo, T biết bên trong có 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, H1 thấy T1 đang nằm ngủ nên hiểu ý và đi đến hướng cầu thang để lên gác để sử dụng ma túy. Lúc này, thấy H1 đi lên chỗ cầu thang, T lấy trong túi quần ra số tiền 100.000 đồng bỏ ngay chân cầu thang nói: “H1 ơi tiền của X nè” (tức là là tiền X đã chuyển khoản góp mua ma túy, nên T lấy tiền mặt ra trả lại cho H1), H1 nghe thấy nên dùng ngón chân kẹp lấy tờ tiền Polymne mệnh giá 100.000 đồng của T để ngay chân cầu thang rồi tiếp tục đi lên gác xép để sử dụng ma túy. Một lúc sau, có Hồ Thanh M bạn của X đến phòng trọ của T gõ cửa, lúc này X đi từ trên gác xuống mở cửa và dẫn M đi lên gác xép cùng sử dụng ma túy (do trước đó M điện thoại cho X hỏi có ma túy không cho M sử dụng cùng với thì X đồng ý). Do sợ T1 biết việc rủ bạn tới để sử dụng ma túy tại phòng trọ nên T vẫn nằm ngủ với T1, không dám lên gác để sử dụng ma túy cùng. Cả nhóm sử dụng ma túy khoảng 30 phút thì H1 đi về trước, còn X và M nằm lại trên gác. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày thì Công an xã B đến kiểm tra phát hiện bộ dụng cụ sử dụng ma túy mà các đối tượng vừa sử dụng ma túy xong đang để ở góc tường bên trái gác xép. Qua test nhanh việc sử dụng ma túy (nước tiểu) đối với Lê Văn X, Hồ Thanh M và Lê Hoàng T cho kết quả dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine, riêng Huỳnh Thanh T1 cho kết quả âm tính với chất ma túy.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 (một) nỏ thuỷ tinh bên trong phễu của nỏ thủy tinh có chứa dung dịch nước màu trắng trong (đã được bịt kín 02 đầu nỏ), được niêm phong vào 01 phong bì, ngoài phong bì có chữ ký của Lê Văn X, Hồ Thanh M và hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T;
  • - 01 (một) bình nhựa chứa nước có nắp màu đỏ đục 02 lỗ nhỏ; 01 ống hút bằng nhựa màu đen;
  • - 01 (một) xe mô tô Yamaha, nhãn hiệu EXCITER biển số 78B1-042.58 và 01 (một) điện thoại di động hiệu S, màu đỏ thu giữ của Lê Văn X;
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu kem bạc, có gắn sim số 0979057606; 01 căn cước công dân và 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Hồ Thanh M, thu giữ của Hồ Thanh M;
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu hồng, có gắn sim số 0797247932 thu giữ của Lê Hoàng T;
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu bạc (bị bể màn hình) và 01 (một) điện thoại di động hiệu ViVo Y21X, màu xanh có gắn sim số 0867788373 thu giữ của Huỳnh Thanh T1.

Tại Bản kết luận số 2134/KL-KTHS ngày 28/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: “Mẫu chất lỏng không màu có trong nỏ thủy tinh được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine; Mẫu dạng vết không xác định được thể tích”.

Tại Cáo trạng số: 209/CT-VKS-TB ngày 02 tháng 07 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom đã truy tố bị cáo Lê Hoàng T, Lê Văn X về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng T, Lê Văn X phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, đề nghị xử phạt bị cáo Lê Hoàng T từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù, bị cáo Lê Văn X từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Đề nghị tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong sau giám định số: 2134/KL- KTHS ngày 28/9/2023 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Đ chứa 01 (một) nỏ thuỷ tinh bên trong phễu của nỏ thủy tinh có chứa dung dịch nước màu trắng trong; tịch thu, tiêu hủy 01 (một) bình nhựa chứa nước có nắp màu đỏ đục 02 lỗ nhỏ, 01 ống hút bằng nhựa màu đen, tịch thu sung công 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 ProMax màu hồng, có gắn sim số 0797247932 thu giữ của Lê Hoàng T và 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu đỏ thu giữ của Lê Văn X sử dụng vào việc phạm tội; buộc các bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu kem bạc, có gắn số sim 0979057606; 01 căn cước công dân và 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Hồ Thanh M; 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu bạc (bị bể màn hình) và 01 điện thoại di động hiệu ViVo Y21X màu xanh, có gắn sim số 0867788373 của Huỳnh Thanh T1. Quá trình điều tra xác định đây là những tài sản của Hồ Thanh M và Huỳnh Thanh T1 không liên quan đến hành vi phạm tội, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra quyết định trả lại cho chủ sở hữu.

Đối với 01 xe mô tô Yamaha, nhãn hiệu Exciter gắn biển số 78B1- 042.58 (không kiểm tra được số khung, số máy). Kết quả tra cứu biển số 78B1-042.58 là xe mô tô nhãn hiệu SungGu do ông Nguyễn Thành H2, sinh năm: 1971, nơi đăng ký HKTT: Ấp P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên đứng tên giấy đăng ký. Qua làm việc, ông H2 cho biết chiếc xe mô tô biển số 78B1-042.58 hiệu SungGu do ông mua vào năm 2019, sau đó bán lại cho một người quen biết ngoài xã hội và chiếc xe mô tô hiệu Yamaha Exciter có gắn biển số 78B1-042.58 thu giữ này không phải là xe mô tô của ông. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T tách ra, tiếp tục xác minh xử lý sau.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung đã nêu trong cáo trạng, nội dung phân tích, luận tội của Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa và không có ý kiến bào chữa gì thêm. Đồng thời, trong lời nói sau cùng, các bị cáo cũng đã đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, để tạo điều kiện cho các bị cáo sớm hòa nhập cộng đồng và làm người có ích cho xã hội.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Hoàng T vào ngày 18/9/2023 tại phòng trọ số 09 thuộc ấp A, xã B, huyện T, đã phạm vào khoản 1 Điều 23 Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội, phòng chống cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ, phòng chống bạo lực gia đình nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Đối với Hồ Thanh M được cho sử dụng ma túy và không góp tiền mua ma túy, nên không phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tuy nhiên, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của M đã phạm vào khoản 1 Điều 23 Nghị định số: 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng chống tệ nạn xã hội, phòng chống cháy, chữa cháy, cứu nạn, cứu hộ, phòng chống bạo lực gia đình. Công an xã B, huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Đối với Huỳnh Thanh T1 không sử dụng ma túy và cũng không biết việc bị cáo T, bị cáo X tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 22/9/2023 nên không xem xét xử lý.

Đối với đối tượng H1, theo lời khai của các bị cáo là người cùng góp tiền mua ma túy và có tham gia sử dụng ma túy vào tối ngày 22/9/2023 cùng các bị cáo T và X. Tuy nhiên, sau khi sử dụng ma túy xong thì H1 đi về trước. Quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T không có căn cứ xử lý.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do bị cáo và người tham gia tố tụng khác cung cấp là đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử không ai có ý kiến thắc mắc, khiếu nại gì về tính hợp pháp của các chứng cứ nên những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án là hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận: Vào khoảng 22 giờ ngày 22/9/2023, tại phòng trọ số I, tại ấp A, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Lê Văn X có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho các đối tượng H1 (không rõ nhân thân, lai lịch) và Hồ Thanh M; Lê Hoàng T đã liên hệ với đối tượng “H1” để mua ma túy giúp X và cung cấp địa điểm cho các đối tượng này sử dụng trái phép chất ma túy, thì bị Công an xã B phối hợp với Tổ tuần tra 161 Công an huyện T kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Sự thừa nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng cùng các chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc rủ rê, cung cấp ma túy, cung cấp địa điểm cho người khác sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý hành động phạm tội, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: bị cáo Lê Hoàng T và Lê Văn X phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội. Các bị cáo phạm tội mang tính chất đồng phạm nhưng ở mức độ giản đơn, trong đó vai trò của các bị cáo như sau:

[3.1] Lê Hoàng T là người liên hệ với các đối tượng khác để rủ rê sử dụng ma túy, cung cấp địa điểm tổ chức sử dụng ma túy nên phải có hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi của bị cáo.

[3.2] Lê Văn X là người liên hệ với T để rủ rê sử dụng ma túy, góp tiền để mua ma túy và liên hệ với M để cùng sử dụng ma túy nên hình phạt cũng phải thật nghiêm.

[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ thì thấy: Bị cáo T có nhân thân tốt. Bị cáo X có 01 lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và 01 tiền án chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nên áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần mức hình phạt cho các bị cáo.

[5] Xử lý vật chứng:

[5.1] Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong sau giám định số: 2134/KL- KTHS ngày 28/9/2023 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Đ chứa 01 (một) nỏ thuỷ tinh bên trong phễu của nỏ thủy tinh có chứa dung dịch nước màu trắng trong; tịch thu, tiêu hủy 01 (một) bình nhựa chứa nước có nắp màu đỏ đục 02 lỗ nhỏ, 01 ống hút bằng nhựa màu đen.

[5.2] Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 ProMax màu hồng, có gắn sim số 0797247932 thu giữ của Lê Hoàng T và 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu đỏ thu giữ của Lê Văn X sử dụng vào việc phạm tội.

[6] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Về hành vi tố tụng, thẩm quyền tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Qua quá trình điều tra và truy tố, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Lê Văn X phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn X 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/09/2023.

2. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Lê Hoàng Trọng phạm t “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Hoàng T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/09/2023.

3. Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì niêm phong sau giám định số: 2134/KL- KTHS ngày 28/9/2023 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh Đ chứa 01 (một) nỏ thuỷ tinh bên trong phễu của nỏ thủy tinh có chứa dung dịch nước màu trắng trong; tịch thu, tiêu hủy 01 (một) bình nhựa chứa nước có nắp màu đỏ đục 02 lỗ nhỏ, 01 ống hút bằng nhựa màu đen.

Tịch thu, sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 ProMax màu hồng, có gắn sim số 0797247932 thu giữ của Lê Hoàng T và 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu đỏ thu giữ của Lê Văn X sử dụng vào việc phạm tội.

(Toàn bộ vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trảng Bom theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 29/02/2024).

4. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.

* Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKS ND cùng cấp;
  • - VKS ND cấp trên;
  • - CQ ĐT cùng cấp;
  • - CQ THA HS có thẩm quyền;
  • - Trại tạm giam, Nhà tạm giữ;
  • - Sở Tư pháp;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Ngọc Nam

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂNTHẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Ngọc Nam

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 205/2024/HSST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 205/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 22 giờ ngày 22/9/2023, tại phòng trọ số 09, tại ấp An Chu, xã Bắc Sơn, huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, Lê Văn Xuyên có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cho các đối tượng Hùng (không rõ nhân thân, lai lịch) và Hồ Thanh Minh; Lê Hoàng Trọng đã liên hệ với đối tượng “Hùng” để mua ma túy giúp Xuyên và cung cấp địa điểm cho các đối tượng này sử dụng trái phép chất ma túy, thì bị Công an xã Bắc Sơn phối hợp với Tổ tuần tra 161 Công an huyện Trảng Bom kiểm tra, phát hiện bắt quả tang. Sự thừa nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng cùng các chứng cứ khác được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc rủ rê, cung cấp ma túy, cung cấp địa điểm cho người khác sử dụng ma túy là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý hành động phạm tội, bất chấp sự trừng trị của pháp luật. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: bị cáo Lê Hoàng Trọng và Lê Văn Xuyên phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger