Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 205/2025/HS-PT

Ngày 20 - 3 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Minh

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Cường và bà Lê Thị Thúy Bình.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Hải Anh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại Điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và Điểm cầu thành phần trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 75/2025/TLPT-HS ngày 17/01/2025 đối với các bị cáo Nguyễn Thị M và Đoàn Thị N do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 86/2024/HS-ST ngày 19/12/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

- Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Thị M (tên gọi khác là P), sinh năm 1987 tại tỉnh Bắc Ninh; nơi ĐKHKTT: Thôn P, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C và bà Nguyễn Thị T; chồng, con: Không; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 11/2009/HS-ST ngày 12/6/2009 của Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương, xử phạt Nguyễn Thị M 13 năm tù về tội “Mua bán phụ nữ”. Bản án số 09/2017/HS-ST ngày 17/4/2017 của Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xử phạt Nguyễn Thị M 13 năm tù về tội “Mua bán trẻ em”, tổng hợp với hình phạt còn lại 02 năm 9 tháng 21 ngày của Bản án số 11 ngày 12/6/2009 của Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương, bị cáo còn phải chấp hành hình phạt chung là 15 năm 9 tháng 21 ngày, thời hạn tù tính từ ngày 17/4/2017; bị cáo hiện đang chấp hành án tại Trại giam H5 - Bộ C2. (có mặt)
  2. Đoàn Thị N, sinh năm 1987 tại tỉnh Hải Dương; nơi ĐKHKTT: Thôn M, xã H, huyện N, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn V (đã chết) và bà Trần Thị C1; có chồng Nguyễn Văn B (đã ly hôn) và 01 con, sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 11/2009/HSST ngày 12/6/2009 của Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương, xử phạt Đoàn Thị N 07 năm tù về tội “Mua bán phụ nữ”; bị tạm giam từ ngày 30/7/2024 đến nay tại Trại tạm giam - Công an tỉnh H. (có mặt)

- Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Đinh Anh T1 - Luật sư Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư thành phố H. (có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị M và Đoàn Thị N quen biết nhau từ năm 2007, do cùng làm gái bán dâm tại quán của Lê Thị T2, sinh năm 1970, nguyên quán: Xã L, huyện B, tỉnh Hải Dương, hiện sinh sống tại tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. T2 nói với M và N về Việt Nam tìm, lừa phụ nữ đưa sang Trung Quốc bán cho T2 và được M, N đồng ý. Trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến năm 2009, Nguyễn Thị M, Đoàn Thị N và một số đối tượng đã lừa, đưa các chị Trần Thùy L sinh năm 1998, trú tại Khu B, thị trấn C, huyện C, tỉnh Hải Dương; chị Hoàng Thị H sinh năm 1991, trú tại xã L, huyện C; chị Nguyễn Thị H1 sinh năm 1988, trú tại xã T, huyện T (nay xã T, thành phố H); chị Đào Thị D sinh năm 1998, trú tại xã P, huyện G; chị Vũ Thị H2 sinh năm 1994, trú tại phường T, thành phố H và chị Nguyễn Thị T3 sinh năm 1992, trú tại xã C, huyện C sang Trung Quốc bán cho Lê Thị T2 để sử dụng vào mục đích mại dâm.

Ngày 09/7/2008, chị Dương Thị Quỳnh N1, sinh ngày 18/11/1993, ở khu T, xã T (nay là thị trấn K), huyện B, tỉnh Hải Dương làm Công nhân cho Công ty M1, ở trọ tại thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương và bạn là anh Trần Khắc T4, sinh năm 1988, trú tại thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương đi chơi thì gặp Hoàng Thị Liên T5, sinh năm 1987, trú tại xã L, huyện C và Chu Văn L1 sinh năm 1989 trú tại xã C, huyện C Thùy và L1 nảy sinh ý định đưa chị N1 giao cho M để đưa sang Trung Quốc bán nên đã rủ anh T4 và chị N1 đến thành phố M, tỉnh Quảng Ninh chơi. Anh T4 và chị N1 đồng ý.

Hoàng Thị Liên T5 gọi điện thoại cho M nói là đã tìm được phụ nữ đưa ra thành phố M, tỉnh Quảng Ninh giao cho M nhưng không có tiền để đi. Do M đang ở thành phố Đ, Trung Quốc nên M điện thoại cho N (khi đó N cùng H3 là người yêu của N, đang đi chơi tại thành phố M, tỉnh Quảng Ninh), nói cho N biết là T5 đã tìm được phụ nữ để đưa ra bán và nhờ N về đón bọn T5 đưa ra thành phố M, tỉnh Quảng Ninh giúp M, N đồng ý. M cho N số điện thoại của T5 để liên lạc, N và T5 gọi điện thoại và hẹn gặp nhau. Thùy thuê xe tắc xi chở T5, L1, anh T6 và chị N1 đi từ huyện C để ra thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; còn N và Nguyễn Thế H3 sinh năm 1983, trú tại xã T, huyện C đi taxi từ thành phố M, tỉnh Quảng Ninh để về tỉnh Hải Dương và gặp nhau tại Trạm thu phí Quốc lộ E, địa phận thành phố Hải Phòng. N gọi điện thoại cho M nói là bố N bị ốm, N phải về nhà, để T5 đưa chị N1 ra thành phố M, M đồng ý. Sau đó, L1, T5, anh T4 và chị N1 đi xe taxi đến thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, còn N và anh H3 về huyện N, tỉnh Hải Dương.

Thùy và L1 đưa anh T4 và chị N1 ra đến thành phố M, tỉnh Quảng Ninh gặp M. Do sợ anh T4 biết việc bán chị N1 cho M nên T5 và L1 không đồng ý bán chị N1 cho M nữa, M đồng ý. Lúc này, M nảy sinh ý định sẽ tự lừa, đưa chị N1 đi bán nên M rủ T5, L1, anh T4 và chị N1 quay lại tỉnh Hải Dương chơi. Khi đến Hải Dương, anh T4 muốn về nhà nên cả bọn đã đưa anh T4 về nhà. Sau đó, M liên lạc và hẹn gặp N tại thị trấn G. M rủ T5, L1 và chị N1 tiếp tục đi taxi đến thị trấn G chơi, gặp N và H3 rồi cùng nhau đi chơi, ngủ qua đêm tại thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương.

Đến ngày hôm sau, M rủ chị N1 đi ra thành phố M, tỉnh Quảng Ninh chơi, chị N1 đồng ý. M nói với N là đã rủ được chị N1 đi ra thành phố M, tỉnh Quảng Ninh để bán và bảo N đi cùng, N đồng ý và rủ H3 đi chơi cùng N.

M gọi xe taxi chở M, N, H3 và chị N1 đi từ thị trấn G ra thành phố M. Đến nơi, M nhờ bạn trai là anh Nguyễn Hồng H4 sinh năm 1968, trú tại phường T, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh dẫn M, N, H3 và chị N1 đi đò qua sông K sang thành phố Đ, Trung Quốc. Khi sang đến thành phố Đ, do M bị ốm nên M và N bàn với nhau là để N đưa chị N1 đi bán cho Lê Thị T2. N nói với chị N1 đi đến nhà cô của N ở Trung Quốc chơi, chị N1 tin nên đồng ý. Sau đó, N, H3 và chị N1 đi đến nhà L tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc. Tại đây, T2 để chị N1 ngủ tại phòng ngủ tầng 2 và trả cho N số tiền 5.000 nhân dân tệ (tiền Trung Quốc). Đến ngày hôm sau, N và H3 đi về, trên đường về, H3 không thấy chị N1 đi về cùng nên hỏi thì N nói cho H3 biết là đã bán chị N1 cho T2 được 5.000 nhân dân tệ. Khi về thành phố M, N gặp và đưa 4.000 nhân dân tệ cho M (N đã tiêu hết 1.000 nhân dân tệ), M đổi 4.000 nhân dân tệ ra tiền Việt Nam rồi trả tiền xe taxi, chi tiêu, ăn uống và mua quần áo cho M, N và H3 hết số tiền trên.

Chị Dương Thị Quỳnh N1 ngủ dậy không thấy N và H3 đâu nên hỏi T2 thì được biết là N đã bán chị N1 cho T2 và yêu cầu chị N1 phải bán dâm tại quán của T2. Chị N1 không đồng ý thì T2 khóa cửa ra vào phòng chị N1 ở tầng 2 nhà T2. Sau đó, chị N1 đã cậy cửa sổ rồi nhẩy từ tầng 2 xuống và bỏ trốn đến địa phận N, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc (cách nhà T2 khoảng 40 - 50Km) và xin vào làm tại quán ăn để được ăn uống. Đến năm 2009, chị N1 quen biết và quan hệ như vợ chồng với người đàn ông Trung Quốc tên Trần Kiếm T7 (A X) và có 2 con chung. Khoảng cuối năm 2015, chị N1 cùng anh A X và con về Việt Nam và đến ngày 17/12/2015, chị N1 viết đơn tố cáo hành vi của Nguyễn Thị M, Đoàn Thị N đã lừa, đưa chị sang Trung Quốc bán cho Lê Thị T2.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 86/2024/HS-ST ngày 19/12/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã quyết định:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 151, các Điều 17, 38, 58 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Thị M và Đoàn Thị N. Áp dụng thêm điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 56 của Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Thị M.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị M và Đoàn Thị N phạm tội “Mua bán người dưới 16 tuổi”.
  2. Về hình phạt:

    Xử phạt Nguyễn Thị M 10 (mười) năm tù. Tổng hợp với hình phạt còn lại là 06 năm 06 tháng 19 ngày tù của Bản án số 09/2017/HS-ST ngày 17/4/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 16 năm 06 tháng 19 ngày, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tuyên án 19/12/2024.

    Xử phạt Đoàn Thị N 10 (mười) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam 30/7/2024.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 24/12/2024 và ngày 02/01/2025, các bị cáo Đoàn Thị N và Nguyễn Thị M có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù.

Tại phiên tòa phúc thẩm: Các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355, Điều 356, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị M, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm 86/2024/HS-ST ngày 19/12/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đối với bị cáo M. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Thị N, sửa Bản án hình sự sơ thẩm 86/2024/HS-ST ngày 19/12/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương theo hướng giảm cho bị cáo N từ 06 tháng đến 01 năm tù.

Người bào chữa cho các bị cáo trình bày: Nhất trí với tội danh và điều luật mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo. Tuy nhiên, đối với bị cáo M trong quá trình điều tra và tại các phiên tòa, đều rất thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Hành vi phạm tội của bị cáo M xảy ra liên tiếp trong cùng một khoảng thời gian, đây là lần xét xử thứ 3 của bị cáo, nên khi tổng hợp hình phạt bị cáo phải chịu mức hình phạt cao. Kể từ năm 2009 cho đến nay, bị cáo M đã liên tục phải chấp hành án phạt tù, nên hiện vẫn còn độc thân. Bên cạnh đó, bị cáo rất tích cực hợp tác với cơ quan điều tra trong quá trình điều tra, truy tố.

Đối với bị cáo Đoàn Thị N, quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm còn có thái độ quanh co, nhưng tại phiên tòa phúc thẩm đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân, phù hợp với lời khai của bị cáo M, của bị hại và những người làm chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đồng thời tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh phạm tội và thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải của các bị cáo để giảm nhẹ cho bị cáo, xử dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, tạo điều kiện giúp các bị cáo tích cực cải tạo, sớm có cơ hội tái hòa nhập cộng đồng, trở thành công dân có ích.

Các bị cáo nhất trí với ý kiến của Luật sư bào chữa, không bổ sung gì thêm, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt tù cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Kháng cáo của các bị cáo được gửi trong thời hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị M và Đoàn Thị N, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:

[2.1] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Thị M và Đoàn Thị N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân. Lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với nhau; phù hợp lời khai trước đây tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm còn được chứng minh bởi các lời khai của những người làm chứng, người liên quan, biên bản tố giác tội phạm cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở xác định: Khoảng đầu tháng 7/2008, tại thị trấn G, huyện G, tỉnh Hải Dương, các bị cáo Nguyễn Thị M và Đoàn Thị N đã thực hiện hành vi lừa, đưa chị Dương Thị Quỳnh N1, sinh năm 1993 (khi đó chị N1 mới 14 tuổi 8 tháng - là người dưới 16 tuổi), trú tại xã T, huyện B, tỉnh Hải Dương đến thành phố M, tỉnh Quảng Ninh rồi đưa chị N1 sang tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc bán cho đối tượng Lê Thị T2, được số tiền 5.000 nhân dân tệ (quy đổi bằng 12.068.550 Việt Nam đồng). Số tiền này, các bị cáo Nguyễn Thị M và Đoàn Thị N đã dùng chi tiêu cá nhân hết.

[2.2] Hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền tự do, quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm của người khác, đặc biệt là quyền được bảo vệ, chăm sóc đối với trẻ em được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán người dưới 16 tuổi là trái pháp luật, trái đạo đức xã hội và trái với thuần phong mỹ tục nhưng vẫn cố ý thực hiện vì mục đích tư lợi. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, gây dư luận xấu và tâm lý hoang mang, lo lắng cho nhân dân địa phương.

[2.3] Tuy nhiên, hành vi phạm tội của các bị cáo đã thực hiện vào năm 2008. Đến ngày 17/12/2015, chị N1 mới có đơn tố cáo hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị M và Đoàn Thị N. Tại thời điểm các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, Bộ luật Hình sự năm 1999 vẫn còn hiệu lực nhưng tại thời điểm xét xử thì Bộ luật Hình sự năm 2015 đang có hiệu lực thi hành. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội, các điều khoản có lợi của Bộ luật Hình sự năm 2015 sẽ được áp dụng đối với cả những hành vi phạm tội xảy ra trước 00 giờ ngày 01/01/2018.

Do đó, so sánh quy định về tội “Mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em” theo Điều 120 Bộ luật Hình sự năm 1999 với tội “Mua bán người dưới 16 tuổi” theo Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 2015, thấy: Khoản 2 Điều 120 Bộ luật Hình sự năm 1999 quy định mức xử phạt đầu khung là 10 năm, nhưng mức hình phạt cao nhất là Chung thân. Theo khoản 2 Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì mức xử phạt đầu khung là 12 năm, nhưng mức hình phạt cao nhất là 20 năm. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Nguyễn Thị M và Đoàn Thị N phạm tội “Mua bán người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 151 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đồng thời xem xét đến mức khởi điểm của Điều 120 Bộ luật Hình sự năm 1999 để quyết định mức hình phạt tù đối với các bị cáo là đảm bảo nguyên tắc có lợi cho các bị cáo.

[2.4] Xét tính chất, vai trò đối với từng bị cáo thấy: Trong vụ án này, bị cáo M là người khởi xướng, trực tiếp tham gia thực hiện hành vi phạm tội nên giữa vai trò chính. Bị cáo N cùng với bị cáo M đưa chị N1 sang Trung Quốc bán nên bị cáo N là đồng phạm với vai trò người thực hành giúp sức.

[2.5] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo thấy:

Mặc dù, năm 2009 các bị cáo Nguyễn Thị M và Đoàn Thị N bị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xử phạt về tội “Mua bán phụ nữ”; năm 2017, bị cáo M tiếp tục bị Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xử phạt về tội “Mua bán trẻ em”. Tuy nhiên, hành vi phạm tội của các bị cáo đối với chị Dương Thị Quỳnh N1 được thực hiện vào năm 2008, trước thời điểm các bị cáo bị xét xử về các tội danh trên, nên các bị cáo không bị tính là tiền án. Do vậy, các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo M, quá trình điều tra, truy tố và tại các phiên tòa đều rất thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; hơn nữa, bị cáo rất tích cực hợp tác với cơ quan tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố. Bị cáo N, quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm còn khai báo quanh co, nhưng tại phiên tòa phúc thẩm N đã thành khẩn khai báo, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân.

Ngoài ra, tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đều trình bày có hoàn cảnh rất khó khăn: Bị cáo M, kể từ khi bị kết án năm 2009 đã liên tục phải chấp hành hình phạt tù của các bản án, cho đến nay đã gần 17 năm, từ khi bị bắt bị cáo vẫn còn độc thân, chồng con chưa có, bố mẹ già yếu. Bị cáo N, hiện là mẹ đơn thân, con còn nhỏ và do bố mẹ bị cáo đang phải thay bị cáo chăm sóc con nhỏ. Bên cạnh đó, hành vi phạm tội của các bị cáo xảy ra liên tiếp trong cùng một khoảng thời gian, nhưng bị phát hiện vào thời điểm khác nhau và đây là lần xét xử thứ 3 đối với bị cáo M và là lần thứ 2 đối với bị cáo N, nên các bị cáo phải chịu mức án của nhiều bản án khác nhau, dẫn đến có phần bất lợi cho cho các bị cáo. Vì vậy, khi lượng hình, Hội đồng xét xử sẽ xem xét cho các bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, trên cơ sở đó sẽ xem xét một cách đầy đủ, khách quan, toàn diện vụ án, để tuyên một mức án phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện.

[2.6] Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy: Cần chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án hình sự sơ thẩm nêu trên theo đề nghị của người bào chữa, giảm cho các bị cáo thêm một phần hình phạt tù, nhằm thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật Nhà nước đối với người phạm tội biết ăn năn hối cải, nhất là đối với người phạm tội là phụ nữ, nhằm tạo điều kiện giúp các bị cáo tích cực cải tạo, sớm có cơ hội tái hòa nhập cộng đồng, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đối với bị cáo M không phù hợp nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[2.7] Về tổng hợp hình phạt: Tính đến ngày xét xử sơ thẩm 19/12/2024, thì thời gian chấp hành hình phạt tù còn lại của bị cáo Nguyễn Thị M theo Bản án số 09/2017/HS-ST ngày 17/4/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương là 06 năm 06 tháng 19 ngày. Do đó, sau khi quyết định hình phạt, Tòa án sẽ tổng hợp hình phạt tù còn lại với hình phạt tù của bản án mới theo quy định của pháp luật.

[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Về án phí: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, xử:

[1] Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị M và Đoàn Thị N. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 86/2024/HS-ST ngày 19/12/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 151; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với các bị cáo Nguyễn Thị M và Đoàn Thị N (áp dụng thêm Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Nguyễn Thị M).

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán người dưới 16 tuổi”. Tổng hợp với hình phạt tù còn lại tại Bản án số 09/2017/HS-ST ngày 17/4/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương là 06 năm 06 tháng 19 ngày. Buộc bị cáo Nguyễn Thị M phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 15 năm 06 tháng 19 ngày, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 19/12/2024.

Xử phạt bị cáo Đoàn Thị N 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán người dưới 16 tuổi”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giam 30/7/2024.

[2] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[3] Án phí: Các bị cáo Nguyễn Thị M và Đoàn Thị N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Công an tỉnh Hải Dương;
  • - TTG - CA tỉnh Hải Dương;
  • - Trại giam Hoàng Tiến, Bộ Công an;
  • - Cục THADS tỉnh Hải Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - UBND xã Hồng Đức, H Ninh Giang;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh;
  • - UBND xã Phú Hòa, H Lương Tài;
  • - Các bị cáo (qua trại);
  • - Lưu HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Quang Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 205/2025/HS-PT ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về mua bán người dưới 16 tuổi

  • Số bản án: 205/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán người dưới 16 tuổi
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: M mua bán người dưới 16 tuổi
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger