TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 205/2024/HSST
Ngày: 25/11/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga
- Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Từ
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hồ Bá Võ, ông Trần Xuân Thành và ông Dương Thanh Cảnh.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Chiến – Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Lương Đình Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 180/2024/HS-ST ngày 29 tháng 10 năm 2023. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 225/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Thị H; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 10 tháng 04 năm 1991 tại huyện A, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: khối V, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn D, sinh năm 1964 và bà: Nguyễn Thị S, sinh năm: 1965; Có chồng: Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1982 và có 02 con: lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giam từ ngày 07/11/2023 đến nay, có mặt tại phiên toà.
* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Hoàng Thị Hương L; Luật sư của Công ty L3 thuộc Đoàn luật sư tỉnh N; Địa chỉ: Số F, đường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Có mặt tại phiên tòa.
- Các bị hại:
- Anh Võ Minh T, sinh năm 1988 và chị Nguyễn Thị Thương H1, sinh năm 1995; Địa chỉ: Số A, đường L, xóm X, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Có mặt tại phiên tòa.
- Anh Nguyễn Đức T1, sinh năm 1991 và chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1991; Địa chỉ: thôn T, xã B, huyện A, tỉnh Nghệ An; Có mặt tại phiên tòa.
- Chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1981; Địa chỉ: khối B, phường C, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.
- Anh Nguyễn Công H2, sinh năm 1982; Địa chỉ: xóm C, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.
- Chị Chu Thị H3, sinh năm 1993; Địa chỉ: Xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.
- Anh Ngô Xuân H4, sinh năm 1989; Địa chỉ: xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.
- Anh Nguyễn Xuân D1, sinh năm 1987; Địa chỉ: xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.
- Anh Phan Á, sinh năm 1973; Địa chỉ: xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.
- Anh Nguyễn Văn H5, sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn B, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.
- Anh Trần Khánh H6, sinh năm 1994; Địa chỉ: Thôn T, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Chị Dương Thị Q, sinh năm 1993; Địa chỉ: thôn L, xã B, huyện A, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa.
Người đại diện theo uỷ quyền của chị Dương Thị Q là ông: Dương Công B; sinh năm: 1966; Địa chỉ: thôn L, xã B, huyện A, tỉnh Nghệ An (là bố chị Q). Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Công ty cổ phần D3; Địa chỉ: số H, ngõ C, đường H, phường L, quận B, thành phố Hà Nội.
- Chị Trần Thị Huyền M, sinh năm 1995; Nơi ĐKHKTT: xóm A, xã T, huyện X, tỉnh Nam Định; Chỗ ở hiện nay: A, ngõ A, đường H, phường N, quận C, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Anh Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1982; Địa chỉ: Số A, ngõ B, đường N, phường Đ, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.
- Chị Trần Thị Thu H9, sinh năm 1991; Nơi ĐKHKTT: thôn C, xã C, huyện A, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở hiện nay: Chung cư T, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Anh Phan Xuân K, sinh năm 1972; Địa chỉ: xóm A (T), xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.
- Chị Trần Thị Quỳnh T4, sinh năm 2004; Địa chỉ: xóm B, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Việt H7; chức vụ: Giám đốc; vắng mặt. Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Thanh H8; Địa chỉ: khối F, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên tòa (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người đại diện theo uỷ quyền của anh Phan Xuân K: Bà Hồ Thị T3; sinh năm: 1992; Địa chỉ liên lạc: Văn phòng L4, số B, đường P, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Thị H, nguyên là Trưởng Văn phòng đại diện tại tỉnh Nghệ An của Công ty cổ phần D3. Trong khoảng thời gian từ tháng 12 năm 2022 đến tháng 6 năm 2023, để có tiền tiêu xài cá nhân và chuyển tiền đến các số tài khoản do một người đàn ông tên H10 không rõ lai lịch cung cấp để đánh bạc trên Website: http://sodo368.com, H đã nhiều lần đưa ra thông tin gian dối như góp tiền để làm dịch vụ chứng minh tài chính, ký quỹ mở Công ty du học, nhận tiền để đưa người đi xuất khẩu lao động nhưng không thực hiện để chiếm đoạt của vợ chồng anh Võ Minh T và chị Nguyễn Thị Thương H1 số tiền 9.368.103.000 đồng, vợ chồng anh Nguyễn Đức T1 và chị Nguyễn Thị L1 số tiền 2.832.799.998 đồng, chị Nguyễn Thị T2 số tiền 700.808.000 đồng, anh Nguyễn Công H2 số tiền 176.000.000 đồng, chị Chu Thị H3 số tiền 220.000.000 đồng, anh Ngô Xuân H4 số tiền 250.000.000 đồng, anh Nguyễn Xuân D1 số tiền 250.000.000 đồng, anh Phan Á số tiền 252.000.000 đồng, anh Nguyễn Văn H5 số tiền 250.000.000 đồng, anh Trần Khánh H6 số tiền 35.700.000 đồng, chị Dương Thị Q số tiền 238.600.000 đồng. Tổng số tiền H1 lừa đảo chiếm đoạt của các bị hại là 14.574.010.998 đồng (mười bốn tỷ năm trăm bảy mươi tư triệu không trăm mười nghìn chín trăm chín mươi tám đồng). Cụ thể như sau:
1. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 9.368.103.000 đồng của vợ chồng anh Võ Minh T và chị Nguyễn Thị Thương H1, trú tại khối G, phường T, thành phố V, tỉnh Nghệ An:
Thông qua mối quan hệ làm ăn, Lê Thị H đã quen biết với anh Võ Minh T. Vào tháng 12 năm 2022 H đã gặp gỡ, trao đổi với anh T về việc cùng nhau góp vốn để làm dịch vụ "chứng minh tài chính" cho khách hàng có nhu cầu đi du lịch, du học, xuất khẩu lao động. Để được anh T tin tưởng, H đã tự lập một tài khoản Zalo có tên là "My T5 Visa" để mạo danh và lấy các hình ảnh thông tin từ tài khoản Zalo của chị Trần Huyền M, sinh năm 1995, trú tại phường N, quận C, thành phố Hà Nội, hiện đang làm việc tại Công ty cổ phần C1. Sau đó H sử dụng Zalo "My T5 Visa" tự nhắn tin đến Z thường xuyên sử dụng của mình, rồi chụp ảnh màn hình các tin nhắn này gửi cho anh T để chứng minh bản thân đang hợp tác làm ăn với chị Trần Huyền M. Vì tin tưởng H, anh T cùng vợ là Nguyễn Thị Thương H1 đã nhiều lần chuyển tiền cho H1 để làm dịch vụ "chứng minh tài chính".
Ngoài việc chi trả số tiền lợi nhuận hàng ngày rất cao cũng như trả một phần tiền gốc khi anh T yêu cầu, H1 còn thường xuyên sử dụng tài khoản Zalo "My Tour V” nhắn các tin có nội dung đang có lượng khách hàng lớn có nhu cầu chứng minh tài chính, gửi đến các tài khoản Zalo khác của mình để chụp ảnh gửi cho anh T nhằm thúc giục anh T chuyển thêm nhiều tiền hơn cho mình.
Quá trình điều tra xác định, từ ngày 05/01/2023 đến ngày 26/06/2023, anh Võ Minh T và vợ là Nguyễn Thị Thương H1 đã chuyển cho Lê Thị H tổng cộng số tiền 31.032.000.000 đồng. Tuy nhiên trong quá trình này, vợ chồng anh Võ Minh T và chị Nguyễn Thị Thương H1 đã rút về 19.030.000.000 đồng từ Lê Thị H; cũng được Lê Thị H chi trả tổng số tiền lợi nhuận là 2.633.897.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi nhận được tiền từ vợ chồng anh T và chị H, H không dùng để “chứng minh tài chính” như đã nói với anh T mà dùng số tiền này để tiêu xài cá nhân và chuyển tiền cho người đàn ông tên H10 không rõ lai lịch để tham gia đánh bạc trên Website: http://sodo368.com
Khi thấy H không chi trả được các khoản tiền theo thỏa thuận, anh Võ Minh T đã yêu cầu H kí một hợp đồng thỏa thuận góp vốn để thể hiện nội dung hai người cùng nhau góp vốn để làm dịch vụ "Chứng minh tài chính" như nội dung đã thỏa thuận trước đó.
Ngày 25/09/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã tiến hành trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh N giám định chữ ký chữ viết tại hợp đồng thỏa thuận kinh doanh được lập giữa Lê Thị H với anh Võ Minh T. Kết luận giám định số 355 ngày 02/10/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận các chữ ký trên các hợp đồng gửi tới giám định so sánh với các mẫu chữ ký của Lê Thị H là do cùng một người kí ra.
Số tiền Lê Thị H đã lừa đảo chiếm đoạt của anh Võ Minh T và chị Nguyễn Thị Thương H1 là 9.368.103.000 đồng (Chín tỉ ba trăm sáu mươi tám triệu một trăm linh ba nghìn đồng).
Sau khi anh Võ Minh T gửi đơn tố giác lên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N, ngày 14/07/2023 và ngày 15/07/2023, Lê Thị H đã trả lại cho vợ chồng anh T chị H số tiền 80.000.000 đồng. (Bút lục số 1384 đến 1775)
2. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 2.832.799.998 đồng của vợ chồng anh Nguyễn Đức T1, chị Nguyễn Thị L1, trú tại thôn T, xã B, huyện A, tỉnh Nghệ An:
Anh Nguyễn Đức T1 là bạn học cấp 3 của Lê Thị H. Vào tháng 11 năm 2022, biết anh T1 đang lao động tại Hàn Quốc, có ý định về Việt Nam nên H đã trao đổi và rủ T1 cùng nhau góp vốn mở Công ty tư vấn du học với mục đích đưa người đi xuất khẩu lao động. Quá trình trao đổi việc thành lập Công ty T11 với anh T1, H đã đưa thông tin "Công ty tư vấn du học muốn được cấp phép hoạt động tư vấn du học thì bắt buộc phải đóng một khoản tiền ký quỹ, chứng minh tài chính tối thiểu từ 1,5 tỉ đồng để được hoạt động, hiện H đang thiếu 500 triệu đồng để kí quỹ, nếu góp vốn thì mỗi tháng H sẽ chi trả tiền lợi nhuận là 10 triệu đồng". Do tin tưởng H nên anh T1 đã chuyển cho H số tiền 500 triệu đồng để kí quỹ mở công ty tư vấn du học. Sau khi nhận được số tiền này, H không kí quỹ mở công ty tư vấn du học như đã trao đổi với anh T1 mà đã dùng để tiêu xài cá nhân và chuyển tiền cho người đàn ông tên H10 không rõ lai lịch để tham gia đánh bạc trên website: http://sodo368.com.
Để anh T1 tin tưởng, quá trình góp vốn để kí quỹ thành lập Công ty T11 và làm dịch vụ chứng minh tài chính, Lê Thị H đã kí 01 (một) thỏa thuận hợp tác kinh doanh và 01 (một) biên bản thỏa thuận góp vốn thành lập ký quỹ hoạt động cho Công ty, và từ tháng 12 năm 2022 đến tháng 05 năm 2023, hàng tháng H đều chi trả tiền lợi nhuận như đã hứa hẹn cho anh T1 với số tiền là 10 triệu đồng, tổng cộng 06 tháng là 60 triệu đồng.
Theo quy định tại Nghị định số 46/2017/NĐ-CP ngày 21/4/20217 của Chính phủ quy định về điều kiện đầu tư và hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và Nghị định số 135/2018/NĐ-CP ngày 04/10/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 46/2017/NĐ-CP trong quy định về cấp giấy chứng nhận hoạt động tư vấn du học thì "không cần phải ký quỹ chứng minh tài chính để đăng ký hoạt động dịch vụ tư vấn du học".
Bên cạnh đó, từ tháng 12 năm 2022 đến tháng 05 năm 2023, H đã huy động vợ chồng anh Nguyễn Đức T1, chị Nguyễn Thị L1 góp tổng số tiền 3.299.999.998 đồng để làm dịch vụ “chứng minh tài chính”. Vợ chồng anh T1, chị L1 đã rút về 200.000.000 đồng và được Lê Thị H chi trả số tiền lợi nhuận từ việc chứng minh tài chính là 707.200.000 đồng. Tuy nhiên số tiền này H không dùng để chứng minh tài chính mà dùng để tiêu xài cá nhân và chuyển tiền cho người đàn ông tên H10 không rõ lai lịch để tham gia đánh bạc trên website: http://sodo368.com.
Ngày 25/09/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã tiến hành trưng cầu giám định chữ ký chữ viết tại các hợp đồng thỏa thuận kinh doanh được lập giữa H với T1. Kết luận giám định số 355 ngày 02/10/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận các chữ ký chữ viết trên các hợp đồng gửi tới giám định so sánh với các mẫu chữ ký, chữ viết của Lê Thị H là do cùng một người viết, kí ra.
Tổng số tiền H đã lừa đảo chiếm đoạt của anh T1 và chị L1 là 2.832.799.998 đồng (Hai tỷ tám trăm ba mươi hai triệu bảy trăm chín mươi chín nghìn chín trăm chín mươi tám đồng). Hiện nay H chưa trả được cho vợ chồng anh T1, chị L1 khoản tiền nào. (Bút lục số 1017 đến 1383)
3. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 700.808.000 đồng của chị Nguyễn Thị T2, sinh năm 1981, trú tại phường C, thành phố V, tỉnh Nghệ An
Bằng thủ đoạn tương tự như trên, từ tháng 01 năm 2023, H đã liên hệ và rủ chị Nguyễn Thị T2 cùng nhau góp vốn để làm dịch vụ "chứng minh tài chính" cho khách hàng có nhu cầu đi du lịch, du học, xuất khẩu lao động. Tuy nhiên sau khi nhận được tiền chị T2 chuyển, H không dùng để chứng minh tài chính cho khách mà đã dùng số tiền này để chuyển tiền cho người đàn ông tên H10 không rõ lai lịch để tham gia đánh bạc trên Website: http://sodo368.com
Quá trình điều tra xác định, tính từ ngày 04/01/2023 đến ngày 30/06/2023, chị T2 đã nhiều lần chuyển cho H tổng cộng số tiền 2.110.000.000 đồng. Tuy nhiên trong quá trình này, chị T2 đã rút số tiền 1.160.000.000 đồng và nhận được số tiền lợi nhuận là 249.192.000 đồng. Từ đó xác định tổng số tiền Lê Thị H đã lừa đảo chiếm đoạt của chị T2 là 700.808.000 đồng. Hiện tại Lê Thị H chưa khắc phục được khoản tiền nào cho chị T2. (Bút lục số 1822 đến 1880)
4. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 176.000.000 đồng của anh Nguyễn Công H2 sinh năm 1982, trú tại xóm C, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An:
Bằng thủ đoạn tương tự như trên, vào khoảng tháng 12 năm 2022, H đã liên hệ trao đổi và rủ anh Nguyễn Công H2 cùng nhau góp vốn để ký quỹ để mở Công ty T11, hứa hẹn mỗi tháng sẽ chi trả cho Nguyễn Công H2 số tiền lợi nhuận là 04 triệu đồng. Vì tin tưởng nên anh H2 đã đưa cho H 200 triệu đồng. Sau khi nhận được tiền từ anh H2, H không dùng để ký quỹ mở Công ty tư vấn du học mà đã chuyển tiền cho người đàn ông tên H10 không rõ lai lịch để tham gia đánh bạc trên website: http://sodo368.com.
Từ tháng 01 đến tháng 6 năm 2023, H đã chi trả cho anh H2 số tiền 24.000.000 đồng. Tổng số tiền H đã lừa đảo chiếm đoạt của anh Nguyễn Công H2 là 176.000.000 đồng (Một trăm bảy mươi sáu triệu đồng). Hiện nay H chưa trả lại cho anh H2 khoản tiền nào. (Bút lục số 1881 đến 1895)
5. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 220.000.000 đồng của chị Chu Thị H3, sinh năm 1993, trú tại xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An:
Vào khoảng tháng 02 năm 2023, chị Chu Thị H3 có nhu cầu đi du lịch Hàn Quốc để thăm chồng. Chị H3 đã liên hệ nhờ anh Phan Xuân K, sinh năm 1972, trú tại xóm T, xã D, huyện D là người quen để đưa chị sang Hàn Quốc theo diện du lịch. Anh K đã liên hệ và được Lê Thị H đồng ý nhận làm thủ tục, H đã đề nghị chị H3 nộp trước 20 triệu đồng để đặt cọc. Ngày 20/02/2023 chị H3 đã chuyển khoản số tiền 20 triệu đồng từ số tài khoản 3605205306928 mở tại Ngân hàng A đến số tài khoản 9912121972 mở tại Ngân hàng M1 mang tên Phan Xuân K. Sau khi nhận được tiền, anh Phan Xuân K đã chuyển số tiền 20.000.000 đồng này cho H qua số tài khoản 0861000001669 mở tại Ngân hàng V1 để đặt cọc, làm thủ tục. Tuy nhiên sau khi nhận được số tiền này, Lê Thị H không làm bất kì thủ tục nào để đưa chị H3 đi du lịch tại Hàn Quốc như thỏa thuận mà đã sử dụng để chuyển tiền cho người đàn ông tên H10 không rõ lai lịch để tham gia đánh bạc trên website: http://sodo368.com và tiêu xài cá nhân hết.
Đến đầu tháng 06 năm 2023, H đã liên hệ với anh K để yêu cầu chị H3 vào thành phố V nộp 200.000.000 đồng để ký quỹ chờ ra Visa. Ngày 19/6/2023 chị H3 cùng anh K đã đến địa chỉ số C, đường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An gặp H. Tại đây, chị H3 có chuyển khoản số tiền 200.000.000 đồng từ số tài khoản 3605205306928 mở tại Ngân hàng N4 đến số tài khoản 10041991 mở tại Ngân hàng V2 của Lê Thị H. H đã viết, ký nhận một “Phiếu thu” tiền, lập một biên bản cam kết đưa cho chị H3 và cam kết sau 10 đến 15 ngày sẽ có Visa để đi Hàn Quốc. Tuy nhiên sau khi nhận được số tiền này, H không dùng để ký quỹ làm Visa mà chuyển tiền cho người đàn ông tên H10 không rõ lai lịch để tham gia đánh bạc trên Website: http://sodo368.com và sử dụng vào mục đích cá nhân.
Quá trình điều tra, chị Chu Thị H3 đã cung cấp một giấy Phiếu thu tiền, một biên bản cam kết có chữ ký, chữ viết của Lê Thị H. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã tiến hành giám định chữ ký chữ viết. Tại Kết luận giám định số 335/KL-KTHS (Đ3-TL) ngày 02/10/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận xác định chữ ký, chữ viết dưới mục "Người lập Phiếu" và "ĐẠI DIỆN BÊN B" so với mẫu chữ kí, chữ viết của Lê Thị H là do cùng một người ký, viết ra.
Tổng số tiền H đã lừa đảo chiếm đoạt của chị H3 là 220.000.000 đồng. Ngày 07/08/2023, anh Nguyễn Mạnh C (chồng của Lê Thị H) đã trả lại số tiền 20 triệu đồng cho chị Chu Thị H3. (Bút lục số 1916 đến 1923)
6. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 250.000.000 đồng của anh Ngô Xuân H4, sinh năm 1989, trú tại xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An:
Vào khoảng tháng 02 năm 2023, anh Ngô Xuân H4 có nhu cầu đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Do biết anh Phan Xuân K có người quen có thể đưa người đi xuất khẩu lao động nên anh H4 đã liên hệ với anh K để hỏi. Anh K đã liên hệ với Lê Thị H thì H đồng ý nhận làm thủ tục, đề nghị anh K nộp trước 50 triệu đồng để cọc. Ngày 20/02/2023 anh H4 đã sử dụng số tài khoản của vợ Phan Thị H11 là 51210000460119 mở tại Ngân hàng B1 chuyển khoản số tiền 50.000.000 đồng đến số tài khoản 9912121972 mở tại Ngân hàng M1 mang tên Phan Xuân K. Sau khi nhận được tiền, anh Phan Xuân K đã chuyển tiền cọc này cho Lê Thị H qua số tài khoản là 0861000001669 mở tại Ngân hàng V1 để đặt cọc, làm thủ tục. Nhưng sau khi nhận được số tiền này, Lê Thị H không làm bất kì thủ tục nào để đưa anh H4 đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc như thỏa thuận mà lại sử dụng để chuyển tiền cho người đàn ông tên H10 không rõ lai lịch để tham gia đánh bạc trên website: http://sodo368.com và tiêu xài cá nhân hết.
Đến đầu tháng 06 năm 2023, H đã liên hệ với anh Phan Xuân K để anh K yêu cầu anh Ngô Xuân H4 vào thành phố V nộp 200 triệu đồng để ký quỹ chờ ra Visa. Ngày 19/6/2023 anh H4 cùng anh K đã đến số C, đường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An gặp H. Tại đây, anh H4 đã đưa cho H số tiền 200.000.000 đồng tiền mặt. H có viết, ký nhận một “Phiếu thu” tiền, lập một biên bản cam kết đưa cho anh H4 và cam kết sau 10 đến 15 ngày sẽ có Visa để đi Hàn Quốc. Sau khi nhận được số tiền này, H đã dùng để chuyển tiền cho người đàn ông tên H10 không rõ lai lịch để tham gia đánh bạc trên website: http://sodo368.com và tiêu xài cá nhân hết, không thực hiện việc ký quỹ như đã cam kết với anh H4 và anh K.
Quá trình điều tra, anh Ngô Xuân H4 đã cung cấp một giấy Phiếu thu tiền, một biên bản cam kết có chữ ký, chữ viết của Lê Thị H. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã tiến hành giám định chữ ký, chữ viết. Kết luận giám định số 335/KL-KTHS (Đ3-TL) ngày 02/10/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận chữ ký, chữ viết dưới mục "Người lập Phiếu" và "ĐẠI DIỆN BÊN B" so với mẫu chữ kí, chữ viết của Lê Thị H là do cùng một người ký, viết ra.
Tổng số tiền H đã lừa đảo chiếm đoạt của anh Ngô Xuân H4 là 250.000.000 đồng. Ngày 07/08/2023, anh Nguyễn Mạnh C (chồng của H) đã trả lại số tiền 50.000.000 đồng cho anh H4. (Bút lục số 1924 đến 1932).
7. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 250.000.000 đồng của anh Nguyễn Xuân D1, sinh năm 1987, trú tại xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An:
Vào khoảng tháng 03 năm 2023, anh Nguyễn Xuân D1 đã liên hệ với anh Phan Xuân K để nhờ làm thủ tục đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Anh K đã liên hệ với Lê Thị H thì H đồng ý nhận làm thủ tục và đề nghị anh D1 nộp trước 50.000.000 đồng để cọc làm thủ tục.
Trong các ngày 01 đến ngày 02 tháng 3 năm 2023, anh D1 đã sử dụng số tài khoản của vợ Phan Thị G là 3605205512757 mở tại Ngân hàng A chuyển khoản số tiền 50.000.000 đồng đến số tài khoản 9912121972 mở tại Ngân hàng M1 mang tên Phan Xuân K. Sau khi nhận được số tiền này, anh K đã chuyển khoản cho Lê Thị H qua số tài khoản 0861000001669 mở tại Ngân hàng V1 để đặt cọc, làm thủ tục. Tuy nhiên, khi nhận được tiền, H không làm bất kì thủ tục nào để đưa anh D1 đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc như thỏa thuận mà đã chuyển tiền cho người đàn ông tên H10 không rõ lai lịch để tham gia đánh bạc trên website: http://sodo368.com và tiêu xài cá nhân.
Đến đầu tháng 06 năm 2023, do cần tiền để tiếp tục tham gia đánh bạc và sử dụng vào mục đích cá nhân, H đã liên hệ với anh K, yêu cầu anh D1 vào thành phố V nộp 200.000.000 đồng để ký quỹ chờ ra Visa. Ngày 19/6/2023 anh D1 và anh K đã đến số C, đường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An gặp H. Tại đây, anh D1 đã đưa cho H 200.000.000 đồng tiền mặt. H đã viết, ký nhận một “Phiếu thu” tiền, lập một biên bản cam kết đưa cho anh D1 với nội dung sau 10 đến 15 ngày sẽ có Visa để đi Hàn Quốc.
Anh D2 đã cung cấp một giấy Phiếu thu tiền, một biên bản cam kết có chữ ký, chữ viết của Lê Thị H. Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N đã tiến hành giám định chữ ký, chữ viết đối với Phiếu thu tiền và bản cam kết này. Tại Kết luận giám định số 335/KL-KTHS (Đ3-TL) ngày 02/10/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận chữ ký, chữ viết dưới mục "Người lập Phiếu" và "ĐẠI DIỆN BÊN B" so với mẫu chữ kí, chữ viết của Lê Thị H là do cùng một người ký, viết ra.
Số tiền Lê Thị H đã lừa đảo chiếm đoạt của anh Nguyễn Xuân D1 là 250.000.000 đồng. (Bút lục số 1933 đến 1943).
8. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 252.000.000 đồng của anh Phan Á, sinh năm 1973, trú tại xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An:
Do có nhu cầu cho con trai đi xuất khẩu lao động Hàn Quốc nên vào khoảng tháng 02 năm 2023, anh Phan Á đã liên hệ với anh Phan Xuân K để hỏi thủ tục. Anh K tiếp tục hỏi Lê Thị H, H đã nhận làm và đề nghị anh Ánh nộp trước 52.000.000 đồng để cọc làm thủ tục. Ngày 21/02/2023, anh Ánh đã nhờ chị Nguyễn Thị H12 sử dụng số tài khoản 51210000691274 mở tại Ngân hàng B1 chuyển khoản số tiền 52 triệu đồng đến số tài khoản 9912121972 mở tại Ngân hàng M1 mang tên Phan Xuân K. Sau khi nhận được tiền, anh Phan Xuân K đã chuyển tiền cọc này cho chị Lê Thị H qua số tài khoản là 0861000001669 mở tại Ngân hàng V1 để đặt cọc, làm thủ tục. Tuy nhiên sau khi nhận được số tiền này, Lê Thị H không làm bất kì thủ tục nào để đưa con trai anh Ánh đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc như thỏa thuận mà lại sử dụng để chuyển tiền cho người đàn ông tên H10 không rõ lai lịch để tham gia đánh bạc trên website: http://sodo368.com và sử dụng vào mục đích cá nhân.
Đến đầu tháng 06 năm 2023, H đã liên hệ với anh K, yêu cầu anh Ánh nộp 200.000.000 đồng để ký quỹ chờ ra Visa. Ngày 19/6/2023 anh Ánh cùng anh K đến gặp H tại số C, đường L, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Tại đây, anh Ánh đã đưa cho H 200.000.000 đồng tiền mặt. H đã viết, ký nhận một “Phiếu thu” tiền, lập một biên bản cam kết đưa cho anh Ánh với nội dung sau 10 đến 15 ngày sẽ có Visa để đi Hàn Quốc. Sau khi nhận được số tiền 200.000.000 đồng, H không dùng để ký quỹ chờ Visa như đã nói với anh Ánh mà đã sử dụng để tiêu xài cá nhân và chuyển tiền cho người đàn ông tên H10 không rõ lai lịch để tham gia đánh bạc trên Website: http://sodo368.com.
Quá trình điều tra, anh Phan Á đã cung cấp một giấy Phiếu thu tiền, một biên bản cam kết có chữ ký, chữ viết của Lê Thị H. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã tiến hành giám định chữ ký, chữ viết. Kết luận giám định số 335/KL-KTHS (Đ3-TL) ngày 02/10/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận chữ ký, chữ viết dưới mục "Người lập Phiếu" và "ĐẠI DIỆN BÊN B" so với mẫu chữ kí, chữ viết của Lê Thị H là do cùng một người ký, viết ra.
Số tiền Lê Thị H đã lừa đảo chiếm đoạt của anh Phan Á là 252.000.000 đồng. (Bút lục số 1909 đến 1915).
9. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 250.000.000 đồng của anh Nguyễn Văn H5, sinh năm 1994, trú tại thôn B, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An:
Do có nhu cầu đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc nên khoảng tháng 12 năm 2022, anh Nguyễn Văn H5 đã liên hệ với Lê Thị H để tìm hiểu. Sau khi trao đổi H đã nhận làm thủ tục đưa anh H5 đi xuất khẩu Hàn Quốc với chi phí là 350.000.000 đồng, yêu cầu anh H5 đóng tiền theo các giai đoạn, đầu tiên phải đóng trước 50.000.000 đồng tiền đặt cọc hợp đồng.
Ngày 27/12/2022, anh H5 đã nhờ anh Trần Khắc Q1, sinh năm 2000, trú tại thôn B, xã B, huyện C, tỉnh Nghệ An chuyển 50.000.000 đồng tiền đặt cọc cho H. Đến ngày 28/12/2022, anh H5 trực tiếp đi từ nhà xuống Văn phòng Công ty D3 nơi H làm việc để làm thủ tục. Tại đây thì H có ký viết và đưa cho anh H5 một phiếu thu tiền đề ngày 27/12/2022 và một biên bản cam kết đề ngày 28/12/2022.
Ngày 28/02/2023, H tiếp tục yêu cầu anh H5 nộp thêm số tiền 100 triệu đồng để đóng cho Công ty Hàn Quốc, anh H5 đồng ý và đã chuyển số tiền này cho H. H đã viết, ký một phiếu thu tiền đề ngày 28/02/2023 và đưa cho anh H5.
Ngày 19/6/2023, Lê Thị H tiếp tục liên hệ yêu cầu anh H5 nộp tiếp 100 triệu đồng để chuẩn bị ra Visa. Theo yêu cầu của Lê Thị H, anh H5 đã chuyển khoản cho Lê Thị H số tiền 100.000.000 đồng. H đã đưa cho anh H5 một phiếu thu tiền đề ngày 19/06/2023.
Quá trình điều tra xác định, sau khi nhận tiền do anh H5 chuyển khoản, H không làm bất kì thủ tục nào để đưa anh H5 đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc như thỏa thuận mà đã sử dụng để chuyển tiền cho người đàn ông tên H10 không rõ lai lịch để tham gia đánh bạc trên website: http://sodo368.com và tiêu xài cá nhân hết.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành giám định chữ kí, chữ viết trên các phiếu thu, biên bản cam kết mà anh H5 cung cấp. Ngày 08/4/2024, Phòng K1 Công an tỉnh N ban hành kết luận số 89/KL-KTHS kết luận: chữ ký, chữ viết dưới mục "Người lập Phiếu" và "ĐẠI DIỆN BÊN B" so với mẫu chữ kí, chữ viết của Lê Thị H là do cùng một người ký, viết ra.
Số tiền H đã lừa đảo chiếm đoạt của anh H5 là 250.000.000 đồng. Ngày 07/08/2023, anh Nguyễn Mạnh C (chồng của H) đã trả lại cho anh H5 số tiền 50.000.000 đồng. (Bút lục số 1896 đến 1908).
10. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 35.700.000 đồng của anh Trần Khánh H6, sinh năm 1994, trú tại xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh:
Vào khoảng tháng 6 năm 2023, do có nhu cầu đi xuất khẩu lao động nên anh Trần Khánh H6 đã liên hệ với Lê Thị H để tìm hiểu. Sau khi liên hệ và trao đổi thì H đồng ý nhận làm thủ tục đưa anh H6 đi xuất khẩu Hàn Quốc với chi phí là 4.500 đô la Mỹ, tuy nhiên trước mắt phải đóng trước 1.500 đô la. Vì tin tưởng nên ngày 12/7/2023, anh Trần Khánh H6 đã chuyển khoản số tiền 35.700.000 đồng cho H để đặt cọc hợp đồng. Sau khi nhận được số tiền này, H không làm bất kì thủ tục nào để đưa anh H6 đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc như thỏa thuận mà chuyển tiền cho người đàn ông tên H10 không rõ lai lịch để tham gia đánh bạc trên website: http://sodo368.com và tiêu xài cá nhân hết.
Số tiền H đã lừa đảo chiếm đoạt của anh H6 là 35.700.000 đồng. (Bút lục số 1955 đến 1970).
11. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 238.600.000 đồng của chị Dương Thị Q, sinh năm 1993, trú tại xã B, huyện A, tỉnh Nghệ An:
Vào khoảng tháng 12 năm 2022, chị Dương Thị Q đã liên hệ với Lê Thị H để tìm hiểu thủ tục đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc. Sau khi trao đổi, H đồng ý nhận làm thủ tục với chi phí là 300.000.000 đồng. Vì tin tưởng nên chị Q đã chuyển khoản cho H 05 lần với tổng số tiền là 238.600.000 đồng, cụ thể:
- Lần thứ 1: Ngày 17/12/2022, chị Q sử dụng số tài khoản 039312111993 mở tại Ngân hàng M1 chuyển số tiền 20.000.000 đồng tiền cọc cho H qua số tài khoản 0861000001669 mở tại Ngân hàng V1.
- Lần thứ 2: Ngày 24/12/2022 chị Q sử dụng số tài khoản 039312111993 mở tại Ngân hàng M1 chuyển số tiền 10.000.000 đồng cho H qua số tài khoản là 0861000001669 mở tại Ngân hàng V1.
- Lần thứ 3: Ngày 05/01/2023, chị Dương Thị Q nhờ chồng là Đoàn Minh  sử dụng số tài khoản 438240622 mở tại Ngân hàng M1 chuyển số tiền 50.000.000 đồng cho H qua số tài khoản 0110404566789 mở tại Ngân hàng M1.
- Lần thứ 4: Ngày 05/01/2023 chị Q sử dụng số tài khoản 039312111993 mở tại ngân hàng M1 chuyển số tiền 50.000.000 đồng cho H qua số tài khoản là 0861000001669 mở tại ngân hàng V1.
- Lần thứ 5: Ngày 06/01/2023 chị Q nhờ chồng là Đoàn Minh  sử dụng số tài khoản 438240622 mở tại ngân hàng M1 chuyển số tiền 21.000.000 đồng cho H qua số tài khoản là 0110404566789 mở tại ngân hàng M1. Ngoài ra, do không đủ tiền nên chị Q đã hỏi vay chị Nguyễn Trần Hà P, sinh năm 1996, trú tại thôn L, xã B, huyện A, tỉnh Nghệ An số tiền là 05 triệu Won. Sau đó chị P theo yêu cầu của chị Q đã chuyển cho anh Lê Văn T6, sinh năm 1990, trú tại xã C, huyện A, sau đó anh T6 đã quy đổi ra tiền Việt Nam và chuyển về cho H số tiền là 87.600.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định, sau khi nhận tiền do chị Q chuyển khoản, H không làm bất kì thủ tục nào để đưa chị Q đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc như thỏa thuận mà lại sử dụng để chuyển tiền cho người đàn ông tên H10 không rõ lai lịch để đánh bạc trên website: http://sodo368.com và tiêu xài cá nhân hết.
Tổng số tiền Lê Thị H đã lừa đảo chiếm đoạt của chị Dương Thị Q là 238.600.000 đồng. (Bút lục số 1776 đến 1821)
Ngày 07/11/2023 Lê Thị H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N bắt tạm giam. Tại Cơ quan điều tra, Lê Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên (Bút lục số 544 đến 617)
* Vật chứng thu giữ liên quan đến vụ án gồm:
- + 01 (một) "PHIẾU THU" số 001278, đề ngày 19/6/2023; 01 (một) "PHIẾU THU" số 001279, đề ngày 19/6/2023; 01 (một) "PHIẾU THU" số 001280, đề ngày 19/6/2023; 01 (một) "PHIẾU THU" số 001281, đề ngày 19/6/2023; 02 (hai) "BIÊN BẢN CAM KẾT" đề ngày 19/6/2023; 01 (một) "BIÊN BẢN CAM KẾT" đề năm 2023; 01 (một) "THỎA THUẬN HỢP TÁC KINH DOANH" đề ngày 01/02/2023; 02 (hai) "THỎA THUẬN HỢP TÁC KINH DOANH" đề ngày 10/04/2023; 01 (một) "BIÊN BẢN THỎA THUẬN GÓP VỐN THÀNH LẬP KÝ QUỸ HOẠT ĐỘNG CHO CÔNG TY" đề ngày 23/11/2022; 01 (một) "PHIẾU THU" số 000380, đề ngày 17/10/2022; 01 (một) "PHIẾU THU" số 0001264, đề ngày 27/12/2022; 01 (một) "PHIẾU THU" số 001271, đề ngày 28/02/2023; 01 (một) "PHIẾU THU" số 001282, đề ngày 19/06/2023; 01 (một) "BIÊN BẢN CAM KẾT" đề ngày 28/12/2022;
Số vật chứng trên được chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.
- + 01 (một) chiếc máy tính xách tay màu đen, nhãn hiệu Dell, số seri tag 9TBY462, máy cũ, đã qua sử dụng, có pin dưới thân máy bị phồng nổi lên.
- + 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone XR, màu đỏ, đã qua sử dụng, số Imeil: 353070103107625; số Imei2: 353070102963093.
- + 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 12, màu tím, đã qua sử dụng, số Imeil: 355984574848459; số Imei2: 3559844574802092.
Vật chứng trên hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
* Về dân sự:
- - Hiện nay Lê Thị H đã khắc phục được cho anh Võ Minh T và chị Nguyễn Thị T7 H số tiền 80 triệu đồng. Anh T8 và chị H yêu cầu Lê Thị H bồi thường thiệt hại số tiền là 9.288.103.000 đồng (Chín tỉ hai trăm tám mươi tám triệu một trăm linh ba nghìn đồng).
- - Anh Nguyễn Đức T1 và chị Nguyễn Thị L1 yêu cầu Lê Thị H bồi thường thiệt hại số tiền là 2.832.799.998 đồng (Hai tỷ tám trăm ba mươi hai triệu bảy trăm chín mươi chín nghìn chín trăm chín mươi tám đồng).
- - Chị Nguyễn Thị T2 yêu cầu Lê Thị Hbồi thường thiệt hại số tiền 700.808.000 đồng (Bảy trăm triệu tám trăm linh tám nghìn đồng).
- - Anh Nguyễn Công H2 yêu cầu Lê Thị H bồi thường thiệt hại số tiền 176.000.000 đồng (Một trăm bảy mươi sáu triệu đồng).
- - Hiện nay Lê Thị H đã khắc phục cho chị Chu Thị H3 số tiền 20.000.000 đồng. Chị H3 yêu cầu Lê Thị H bồi thường thiệt hại số tiền là 200.000.000 đồng.
- - Hiện nay Lê Thị H đã khắc phục cho anh Ngô Xuân H4 số tiền 50.000.000 đồng. Anh H4 yêu cầu Lê Thị H bồi thường thiệt hại số tiền 200.000.000 đồng.
- - Anh Nguyễn Xuân D1 yêu cầu Lê Thị H bồi thường thiệt hại số tiền 250.000.000 đồng.
- - Anh Phan Á yêu cầu Lê Thị H bồi thường thiệt hại số tiền là 252.000.000 đồng.
- - Hiện nay Lê Thị Hđã khắc phục cho anh Nguyễn Văn H5 số tiền 50.000.000 đồng. Anh H5 yêu cầu Lê Thị H bồi thường thiệt hại số tiền 200.000.000 đồng.
- - Anh Trần Khánh H6yêu cầu Lê Thị Hbồi thường thiệt hại số tiền 35.700.000 đồng
- - Chị Dương Thị Q yêu cầu Lê Thị H bồi thường thiệt hại số tiền 238.600.000 đồng.
Tại Bản Cáo trạng số 213/CT-VKSNA-P2 ngày 23/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã truy tố Lê Thị H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như tại Bản cáo trạng số 213/CT-VKSNA-P2 ngày 23/10/2024 và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm b, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Thị H tù chung thân về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- - Về hình phạt bổ sung: đề nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46, 48 Bộ luật Hình sự 2015; Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015: Buộc bị cáo Lê Thị H có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản cho: anh Võ Minh T và chị Nguyễn Thị T7 H số tiền là 9.288.103.000 đồng; anh Nguyễn Đức T1 và chị Nguyễn Thị L1 số tiền là 2.832.799.998 đồng; chị Nguyễn Thị T2 số tiền 700.808.000 đồng; anh Nguyễn Công H2 số tiền 176.000.000 đồng; chị Chu Thị H3 số tiền là 200.000.000 đồng; anh Ngô Xuân H4 số tiền là 200.000.000 đồng; anh Nguyễn Xuân D1 số tiền là 250.000.000 đồng; anh Phan Á số tiền là 252.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn H5 số tiền là 200.000.000 đồng; anh Trần Khánh H6 số tiền 35.700.000 đồng; chị Dương Thị Q số tiền 238.600.000 đồng; Tổng cộng: 14.374.010.998 đồng (Mười bốn tỷ, ba trăm bảy mươi tư triệu, không trăm mười ngàn, chín trăm chín mươi tám đồng).
- - Về xử lý vật chứng: đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015: Tịch thu hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc máy tính xách tay màu đen, nhãn hiệu Dell, số seri tag 9TBY462, máy cũ, đã qua sử dụng, có pin dưới thân máy bị phồng nổi lên; 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone XR, màu đỏ, đã qua sử dụng, số Imeil: 353070103107625; số Imei2: 353070102963093; 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 12, màu tím, đã qua sử dụng, số Imeil: 355984574848459; số Imei2: 3559844574802092 thu giữ của Lê Thị H.
- - Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Và tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết, không tranh luận gì mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo Lê Thị H tại phiên toà không tranh luận về tội danh và chứng cứ mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và đề nghị miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, lời khai của bị hại anh Nguyễn Đức T1, chị Nguyễn Thị L1, anh Võ Minh T, chị Nguyễn Thị Thương H1, chị Dương Thị Q (BL 1776 – 1781), chị Nguyễn Thị T2, anh Nguyễn Công H2, anh Nguyễn Văn H5, anh Phan Á, chị Chu Thị H3, anh Ngô Xuân H4, anh Nguyễn Xuân D1, anh Trần Khánh H6 (BL 1957-1958); lời khai của Công ty cổ phần D3 (BL 237-238); người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Mạnh C, chị Trần Thị Thu H9 (BL 355-357), anh Phan Xuân K, chị Trần Thị Quỳnh T4 (BL 2008 - 2010); Biên bản khám xét; Kết quả sao kê tài khoản, Kết luận giám định, vật chứng đã được thu giữ và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án.
Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2022 đến tháng 6/2023, bằng thủ đoạn đưa ra thông tin gian dối như mời góp tiền để làm dịch vụ chứng minh tài chính, ký quỹ mở Công ty du học, nhận tiền để đưa người đi xuất khẩu lao động, Lê Thị H đã nhiều lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của: vợ chồng anh Võ Minh T và chị Nguyễn Thị Thương H1 9.368.103.000 đồng, vợ chồng anh Nguyễn Đức T1 và chị Nguyễn Thị L1 2.832.799.998 đồng, chị Nguyễn Thị T2 700.808.000 đồng, anh Nguyễn Công H2 176.000.000 đồng, chị Chu Thị H3 220.000.000 đồng, anh Ngô Xuân H4 250.000.000 đồng, anh Nguyễn Xuân D1 250.000.000 đồng, anh Phan Á 252.000.000 đồng, anh Nguyễn Văn H5 250.000.000 đồng, anh Trần Khánh H6 35.700.000 đồng, chị Dương Thị Q 238.600.000 đồng. Toàn bộ số tiền chiếm đoạt được, H1 đã chuyển tiền cho người đàn ông tên H10 không rõ lai lịch, tham gia đánh bạc trên Website: http://sodo368.com.và tiêu xài cá nhân. Như vậy, hành vi đưa ra các thông tin gian dối, tạo niềm tin để chiếm đoạt tài sản do Lê Thị H thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Điều 174 BLHS 2015 như cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết. Tổng số tiền mà bị cáo chiếm đoạt của các bị hại là: 14.574.010.998 đồng (mười bốn tỷ năm trăm bảy mươi tư triệu không trăm mười nghìn chín trăm chín mươi tám đồng) nên cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng mức.
[2.2]. Đây là vụ án thuộc loại đặc biệt nghiêm trọng. Mặc dù đang ở trong độ tuổi lao động nhưng bị cáo đã không chịu làm ăn chân chính mà do hám lợi nên đã liều lĩnh thực hiện hành vi chiếm đoạt số lượng tài sản lớn, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo đã làm ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương; gây hoang mang, lo sợ cho các chủ sở hữu tài sản. Bị cáo lại thực hiện nhiều hành vi phạm tội thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên nên phải áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, Hội đồng xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; sau khi hành vi phạm tội bị phát hiện đã tích cực tác động đến gia đình để tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại cho các bị hại; đã tự thú một phần về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản đối với bị hại là chị Dương Thị Q và anh Nguyễn Văn H5. Trong gia đình bị cáo có bố đẻ ông Lê Văn D là người khuyết tật nặng; ông Nguyễn Văn N được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất; bà Nguyễn Thị T9 là dân công hỏa tuyến, được Chủ tịch nước tặng Bằng khen; ông ngoại Nguyễn Trần Đ và bác ruột Lê Văn L2 đều là liệt sỹ nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặc dù bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội cũng như số lượng tiền mà bị cáo chiếm đoạt trong hành vi phạm tội lần này là lớn nên việc áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là không đáp ứng yêu cầu phòng, chống tội phạm mà cần phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhất của điều luật, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội trong một thời gian không xác định (không thời hạn) như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà mới đủ để răn đe, giáo dục và tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[2.3]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 174 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét thấy bị cáo hiện nay là lao động tự do, thu nhập không ổn định; hoàn cảnh kinh tế gia đình gặp nhiều khó khăn, bố đẻ bị cáo là người khuyết tật nặng nên miễn cho bị cáo.
[2.4]. Trong vụ án này, đối với người đàn ông tên H10 mà Lê Thị H khai nhận đã chuyển tiền cho người này để tham gia đánh bạc trên Online trên Website: http:/sodo368.com, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã tiến hành xác minh, làm việc với chủ sở hữu các số tài khoản ngân hàng H đã chuyển tiền đến, chủ sở hữu số điện thoại 0898.765.xxx và xác minh chủ sở hữu tài khoản trên ứng dụng nhắn tin T10 (theo khai nhận của Lê Thị H người đàn ông tên H10 này sử dụng số điện thoại 0898.765.xxx, các số tài khoản ngân hàng và chủ tài khoản "Hoamoclann22" trên ứng dụng Telegram) tuy nhiên đến nay chưa đủ cơ sở để xác minh làm rõ người đàn ông tên Hoàng N1 là ai, Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh làm rõ. Vì vậy, khi nào xác minh, làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với hành vi tham gia đánh bạc trên Website: http://sodo368.com của Lê Thị H: Theo công văn trả lời của Trung tâm I (VNNIC) xác định Website: http://sodo368.com được đăng ký trực tiếp với tổ chức ở nước ngoài, không ở Việt Nam; đồng thời do không xác định được người đàn ông tên H10 là ai, nên chưa đủ cơ sở để kết luận hành vi của Lê Thị H phạm tội “Đánh bạc” quy định tại Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Đối với hành vi của anh Phan Xuân K, sinh năm 1972, trú tại xã X, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An: Quá trình điều tra xác định sau khi nhận tiền đặt cọc từ chị Chu Thị H3, anh Ngô Xuân H4, anh Nguyễn Xuân D1 và anh Phan Á thì anh Phan Xuân K đều đã chuyển khoản toàn bộ số tiền này cho Lê Thị H, không được hưởng lợi khoản tiền nào cũng như không biết được ý thức chiếm đoạt của Lê Thị H nên không phải là đồng phạm với Lê Thị H.
Đối với đơn tố giác tội phạm của chị Trần Thị Quỳnh T4: Quá trình điều tra xác định anh Nguyễn Công N2 (sinh năm 2000, đăng ký thường trú tại xóm A, xã P, huyện N, tỉnh Nghệ An) là người đứng ra giới thiệu cho chị T4 gặp Lê Thị H để Hiềnlàm các thủ tục hồ sơ đi du học tại Hàn Quốc cho chị T4 ở Việt Nam, còn Nguyễn Công Nhất là người chịu trách nhiệm liên hệ làm việc với trường học tại Hàn Quốc. Sau khi nhận tiền từ chị T4 thì H đã chuyển và nhờ chị Lê Thị Quỳnh N3, sinh năm 1997, trú tại phường B, thị xã H, tỉnh Hà Tĩnh (là người làm dịch vụ nhận, chuyển tiền từ Hàn Quốc về Việt Nam và ngược lại) để chị N3 nhờ người Việt Nam đang sinh sống làm việc tại Hàn Quốc nộp tiền vào trường học tại Hàn Quốc theo INVOICE mà Nguyễn Công N2 cung cấp cho Lê Thị H (INVOCIE là hóa đơn của nhà trường yêu cầu học sinh đóng các khoản phí để chuẩn bị nhập học). Tuy nhiên sau đó, theo Lê Thị H trình bày do phía trường học tại Hàn Quốc tạm dừng không nhận sinh viên nữa nhưng chưa hoàn trả lại tiền nên H và Nguyễn Công N2 chưa có tiền trả lại cho chị T4. Lời khai của H phù hợp với lời khai của chị Lê Thị Quỳnh N3 và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, do đó có căn cứ xác định Lê Thị H không có ý thức lừa đảo chiếm đoạt tài sản đối với số tiền 113.000.000 đồng của chị Trần Thị Quỳnh T4 nên không xử lý về hành vi này. Chị Trần Thị Quỳnh T4 có quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác để yêu cầu giải quyết vấn đề liên quan đến số tiền 113.000.000 đồng này.
[2.5]. Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền đã chiếm đoạt như sau: anh Võ Minh T và chị Nguyễn Thị Thương H1 yêu cầu số tiền là 9.288.103.000 đồng; anh Nguyễn Đức T1 và chị Nguyễn Thị L1 yêu cầu số tiền là 2.832.799.998 đồng; chị Nguyễn Thị T2 yêu cầu số tiền 700.808.000 đồng; anh Nguyễn Công H2 yêu cầu số tiền 176.000.000 đồng; chị Chu Thị H3 yêu cầu số tiền là 200.000.000 đồng; anh Ngô Xuân H4 số tiền 200.000.000 đồng; anh Nguyễn Xuân D1 yêu cầu số tiền là 250.000.000 đồng; anh Phan Á yêu cầu số tiền 252.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn H5 yêu cầu số tiền 200.000.000 đồng; anh Trần Khánh H6 yêu cầu số tiền 35.700.000 đồng; chị Dương Thị Q yêu cầu số tiền 238.600.000 đồng. Bị cáo cũng đồng ý bồi thường theo toàn bộ yêu cầu của các bị hại. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của các bị hại là có căn cứ và hợp pháp, nội dung sự thỏa thuận về trách nhiệm dân sự giữa bị cáo và các bị hại là hoàn toàn tự nguyện, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này, buộc bị cáo bồi thường tổn thất về tài sản cho anh Võ Minh T và chị Nguyễn Thị T7 H1 số tiền là 9.288.103.000 đồng; anh Nguyễn Đức T1 và chị Nguyễn Thị L1 số tiền là 2.832.799.998 đồng; chị Nguyễn Thị T2 số tiền 700.808.000 đồng; anh Nguyễn Công H2 số tiền 176.000.000 đồng; chị Chu Thị H3 số tiền là 200.000.000 đồng; anh Ngô Xuân H4 số tiền là 200.000.000 đồng; anh Nguyễn Xuân D1 số tiền là 250.000.000 đồng; anh Phan Á số tiền là 252.000.000 đồng; anh Nguyễn Văn H5 số tiền là 200.000.000 đồng; anh Trần Khánh H6 số tiền 35.700.000 đồng; chị Dương Thị Q số tiền 238.600.000 đồng; Tổng cộng: 14.374.010.998 đồng (Mười bốn tỷ, ba trăm bảy mươi tư triệu, không trăm mười ngàn, chín trăm chín mươi tám đồng).
[2.6]. Về xử lý vật chứng: Các vật chứng là tài liệu có liên quan trong vụ án bao gồm các “Phiếu thu”, “Biên bản cam kết”, “Thoả thuận hợp tác kinh doanh” và “Biên bản thoả thuận góp vốn thành lập ký quỹ hoạt động cho Công ty” đã được thu giữ, lưu giữ cùng hồ sơ vụ án nên miễn xét.
Đối với 01 (một) chiếc máy tính xách tay màu đen, nhãn hiệu Dell, số seri tag 9TBY462, máy cũ, đã qua sử dụng, có pin dưới thân máy bị phồng nổi lên; 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 12, màu tím, đã qua sử dụng, số Imeil: 355984574848459; số Imei2: 3559844574802092 thu giữ của Lê Thị H là công cụ, phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu hoá giá sung vào ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015. Riêng đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone XR, màu đỏ, đã qua sử dụng, số Imeil: 353070103107625; số Imei2: 353070102963093 không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả cho bị cáo.
[3]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào: điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; xử phạt: bị cáo Lê Thị H tù chung thân về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giam (ngày 07 tháng 11 năm 2023).
- Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 46, 48 Bộ luật Hình sự 2015; Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015:
Buộc bị cáo Lê Thị H có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tài sản cho: anh Võ Minh T và chị Nguyễn Thị Thương H1 số tiền là 9.288.103.000 đồng (Chín tỉ hai trăm tám mươi tám triệu một trăm linh ba nghìn đồng); anh Nguyễn Đức T1 và chị Nguyễn Thị L1 số tiền là 2.832.799.998 đồng (Hai tỷ tám trăm ba mươi hai triệu bảy trăm chín mươi chín nghìn chín trăm chín mươi tám đồng); chị Nguyễn Thị T2 số tiền 700.808.000 đồng (Bảy trăm triệu tám trăm linh tám nghìn đồng); anh Nguyễn Công H2 số tiền 176.000.000 đồng (Một trăm bảy mươi sáu triệu đồng); chị Chu Thị H3 số tiền là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng); anh Ngô Xuân H4 số tiền là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng); anh Nguyễn Xuân D1 số tiền là 250.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi triệu đồng); anh Phan Á số tiền là 252.000.000 đồng (Hai trăm năm mươi hai triệu đồng); anh Nguyễn Văn H5 số tiền là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng); anh Trần Khánh H6 số tiền là 35.700.000 đồng (Ba mươi lăm triệu, bảy trăm ngàn đồng); chị Dương Thị Q số tiền 238.600.000 đồng (Hai trăm ba mươi tám triệu, sáu trăm ngàn đồng);
Tổng cộng: 14.374.010.998 đồng (Mười bốn tỷ, ba trăm bảy mươi tư triệu, không trăm mười ngàn, chín trăm chín mươi tám đồng).
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 47 Bộ luật Hình sự 2015:
- - Tịch thu hóa giá sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) chiếc máy tính xách tay màu đen, nhãn hiệu Dell, số seri tag 9TBY462, máy cũ, đã qua sử dụng, có pin dưới thân máy bị phồng nổi lên; 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone 12, màu tím, đã qua sử dụng, số Imeil: 355984574848459; số Imei2: 3559844574802092 thu giữ của Lê Thị H.
- - Trả lại cho bị cáo Lê Thị H: 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone XR, màu đỏ, đã qua sử dụng, số Imei1: 353070103107625; số Imei2: 353070102963093.
(Đặc điểm, tình trạng các vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N với Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An).
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Thị H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 122.374.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Tổng cộng: 122.574.000 đồng (Một trăm hai mươi hai triệu, năm trăm bảy mươi tư ngàn đồng).
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, nếu bị cáo Lê Thị H không chịu thi hành thì hàng tháng bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án Dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo và bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Nga |
Bản án số 205/2024/HSST ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (criminal case)
- Số bản án: 205/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị H phạm tội "Lừa đào chiếm đoạt tài sản"
