|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 205/2024/HSST Ngày 21 tháng 11 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Sen
Các hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Phùng Ngọc Toàn
- 2. Ông Phạm Bá Xuân
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Quang Huy - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Võ Yến Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024, Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến (Điểm cầu trung tâm tại Phòng xét xử trực tuyến - Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Điểm cầu thành phần tại Phòng xét xử trực tuyến - Trại tạm giam số 1 Công an Thành phố H) vụ án hình sự thụ lý số: 194/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 443/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 10 năm 2024 đối với:
- Bị cáo: Lê Đức Q, sinh năm 2000; HKTT: Thôn H, xã B, Y, Yên Bái; Nơi ở: Không cố định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Họ và tên bố: Lê Thanh N, sinh năm 1977; Họ và tên mẹ: Đào Thị Thu H, sinh năm 1976; Gia đình bị cáo có 02 con, bị cáo là con cả; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 12/8/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1 – Công an thành phố H. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Đức Q vào làm nhân viên Cửa hàng tóc địa chỉ: Số F lô C Khu 7,2ha Vĩnh Phúc, B, Hà Nội từ ngày 29/7/2024 và được bố trí ăn ngủ tại tầng 5 của cửa hàng. Quá trình làm việc, Q quan sát thấy chị Trương Thị Linh T (Sinh năm: 1996; HKTT: Thôn E, V, K, Thái Bình) là chủ cửa hàng thường xuyên để điện thoại và I tại tầng 1 của cửa hàng.
Khoảng 09 giờ ngày 04/8/2024, tại tầng 1 chỉ có Q và chị T, lợi dụng lúc chị T thiếu chú ý, Q tiến gần lại ngăn kéo bàn cắt tóc, dùng tay trái mở ngăn kéo lấy 01 (một) chiếc điện thoại iphone 8 plus của chị T rồi bỏ vào túi quần phía trước bên trái của Q. Tiếp tục, thấy trên mặt quạt điều hòa gần đó đang có 01 (một) máy tính bảng Ipad, Q dùng tay phải cầm chiếc máy tính bảng và giấu vào trong áo (trước bụng). Toàn bộ sự việc được camera trong cửa hàng ghi lại.
Sau đó, Q ra khỏi cửa hàng và đi xe ôm đi đến cửa hàng K (địa chỉ: Số C phố V, phường Đ, H, Hà Nội) để bán tài sản trộm cắp được. Tại đây, Q nói với anh Đoàn Mạnh T1 là chủ cửa hàng (Sinh năm: 1998; HKTT: Tổ 33 T, H, Hà Nội) rằng số tài sản trên là của Q không dùng đến nên muốn bán. Do trước đó đã từng quan sát thấy chị T nhập mật khẩu máy trong quá trình sử dụng, Q nhập đúng mật khẩu của điện thoại là “199996” còn I do không có mật khẩu nên anh T1 tin tưởng và đồng ý mua lại với giá là 4.600.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm nghìn đồng), tiền được chuyển từ tài khoản số 8688270198 mang tên Doan Manh T2 mở tại ngân hàng V chuyển khoản đến tài khoản của Q có số [...] mang tên Le Đức Q1 thuộc ngân hàng T3.
Toàn bộ sự việc Q1 đến bán tài sản được camera của cửa hàng điện thoại ghi lại. Số tiền bán đồ trộm cắp được, Q1 đã tiêu xài cá nhân hết.
Hồi 10 giờ 15 phút ngày 04/8/2024, chị Trương Thị Linh T phát hiện bị trộm cắp tài sản nên đến công an phường V sự việc. Về nguồn gốc tài sản, chị T khai chiếc điện thoại Iphone 8 plus là tài sản chị mua cũ, chiếc Ipad Gen9 là tài sản mua mới.
Bản kết luận định giá tài sản số 79 ngày 16/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự- Ủy ban nhân dân quận B kết luận:
- - Một điện thoại Iphone 8plus màu vàng 32Gb đã qua sử dụng, trị giá 1.000.000đồng.
- - Một Ipad Gen9 màu xám, 64 Gb đã qua sử dụng, trị giá 7.000.000đồng.
Tổng giá trị hai tài sản là 8.000.000đồng.
Ngày 12/8/2024, Q1 đến Công an phường V để đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội như trên. Lời khai nhận của Q1 phù hợp với lời khai của người bị hại và các tài liệu điều tra: biên bản nhận dạng, hình ảnh camera thu thập được.
Trong quá trình điều tra, Lê Đức Q đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.
Anh Đoàn Mạnh T1 là người đã mua điện thoại của Lê Đức Q, không biết nguồn gốc tài sản do trộm cắp mà có nên hành vi không cấu thành tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Sau khi mua tài sản của Q, anh Đoàn Mạnh T1 đã bán lại cho một người không rõ lai lịch với giá 05 triệu đồng. Số tài sản trên chưa thu hồi được.
Chị Trương Thị Linh T yêu cầu Q phải bồi thường giá trị tài sản mà Q trộm cắp của chị T.
Qua xét nghiệm nhanh, Lê Đức Q dương tính với ma túy. Cơ quan điều tra ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Q về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Tại bản cáo trạng số 197/CT-VKS ngày 18/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đã truy tố bị cáo Lê Đức Q về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Lê Đức Q đã khai nhận tội như đã khai tại cơ quan điều tra. Bị cáo thừa nhận bản cáo trạng truy bố bị cáo đúng với hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện. Bị cáo thừa nhận bị cáo nghiện ma túy và trộm cắp tài sản để có tiền tiêu xài.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo Lê Đức Q theo tội danh và điều luật đã viện dẫn trong Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, đánh giá mức độ phạm tội, xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Đức Q; Xử phạt bị cáo Lê Đức Q mức án từ 06 đến 09 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo Q thành khẩn khai nhận về toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên. Trong lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận B, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Tuy nhiên, tại giai đoạn điều tra và truy tố đã có lời khai nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người trên là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 292, Điều 305 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Về tội danh: Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với diễn biến hành vi phạm tội, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản tiếp nhận người phạm tội đầu thú, vật chứng thu giữ và kết quả định giá của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND quận B và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 09h ngày 04/8/2024, tại tầng 1 - Cửa hàng tóc địa chỉ: Số F lô C Khu 7,2ha Vĩnh Phúc, B, Hà Nội, bị cáo Lê Đức Q có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của chị Trương Thị Linh T bao gồm: 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu vàng, 01 Ipad Gen9 màu xám, tổng giá trị tài sản là 08 triệu đồng. Số tài sản trên Q bán cho anh Đoàn Mạnh T1 thu lợi 4,6 triệu đồng. Hiện chưa thu hồi được tài sản.
Như vậy, bị cáo Lê Đức Q đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của chị Trương Thị Linh T với tổng giá trị tài sản là 8.000.000đồng. Bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm tại thời điểm phạm tội, có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, phạm tội với lỗi cố ý nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ.
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Bản cáo trạng và Lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo do nghiện ma túy mà trộm cắp tài sản để có tiền mua ma túy sử dụng. Bị cáo đã được gia đình đưa đi cai nghiện nhưng bị cáo không cải tạo, sửa đổi bản thân mà vẫn tiếp tục nghiện ma túy dẫn đến việc phạm tội. Bị cáo đã lợi dụng sơ hở và sự tin tưởng của chị T là chủ cửa hàng tóc nơi bị cáo làm việc để thực hiện hành vi phạm tội. Tài sản bị cáo trộm cắp chưa được thu hồi, bị cáo chưa bồi thường khoản tiền nào cho người bị hại. Sau khi phạm tội, bị cáo biết không thể trốn tránh trách nhiệm nên mới đến Cơ quan công an để khai báo sự việc. Vì vậy, cần phải có mức hình phạt tương xứng và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Q đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội ra đầu thú, nhân thân chưa có tiền án tiền sự. Vì vậy, khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt, cho bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội, cũng là thể hiện tính chất khoan hồng và nhân đạo của pháp luật.
Bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Q không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
- Chị Trương Thị Linh T chưa nhận được tài sản bị mất, chị T yêu cầu bị cáo Q có trách nhiệm bồi thường cho chị T. Vì vậy, buộc bị cáo Q phải bồi thường cho chị T số tiền 8.000.000đồng là tổng giá trị tài sản bị cáo đã trộm cắp của chị T.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các căn cứ, nhận định của Hội đồng xét xử,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Về tội danh và hình phạt:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 173; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Đức Q
Tuyên bố: Bị cáo Lê Đức Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
- Xử phạt: Bị cáo Lê Đức Q 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/8/2024.
[2] Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Buộc bị cáo Lê Đức Q phải bồi thường cho chị Trương Thị Linh T số tiền 8.000.000đồng (Tám triệu đồng).
[3] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Bị cáo Lê Đức Q phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Dương Thị Sen |
Bản án số 205/2024/HSST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 205/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án về tội Trộm cắp tài sản đối với bị cáo Lê Đức Q
