Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 205/2024/KDTM-ST

Ngày: 27-8-2024

V/v tranh chấp hợp đồng mua bán

hàng hóa

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Thế Đông

Các Hội thẩm nhân dân.

Bà Phạm Thị Hiếu

Ông Phạm Thái Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Bà Bế Thị Phượng - Thư ký Tòa án Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân Quận 1 tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Liên – Kiểm sát viên.

Trong ngày 27 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 174/2023/TLST-KDTM ngày 16 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11858/2024/QĐXXST-KDTM ngày 15 tháng 7 năm 2024 và Quyết định Hoãn phiên tòa Số 14216/2024/QĐST-KDTM ngày 07 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH T; địa chỉ: Số C Quốc Lộ A Khu phố A, phường H, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Lê Thị Thúy P, bà Đoàn Phạm Yến N và bà Đỗ Thị Bích P1, là người đại diện theo ủy quyền. (Văn bản ủy quyền ngày 30/8/2023 và Văn bản ủy quyền ngày 20/5/2024) (Có mặt)

- Bị đơn: Công ty TNHH G; địa chỉ: 1 T, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Huỳnh Thị Kiều M, chức danh: Giám đốc; là người đại diện theo pháp luật. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày:

Tháng 03/2022, Công ty TNHH T (sau đây gọi tắt là Công ty T) - Bên bán và Công ty TNHH G (sau đây gọi tắt là Công ty G) - Bên mua đã giao kết Hợp đồng mua bán mặt hàng than cám và than cục thông qua trao đổi trực tiếp. Cụ thể, sau khi nhận được điện thoại đặt hàng của Công ty G thì Công ty T sẽ thực hiện giao hàng và Công ty G thanh toán cho Công ty T khi đã nhận được hàng. Theo đó, sau khi nhận được yêu cầu đặt hàng của Công ty G, Công ty T đã thực hiện giao hàng hóa theo đúng thỏa thuận với tổng giá trị đơn hàng là 130.526.000 đồng.

Ngày 30/3/2022, Công ty T đã xuất Hóa đơn ký hiệu XK/20E số 0000411 ngày 30/3/2022 để yêu cầu Công ty G TTV thanh toán số tiền là 130.526.000 đồng. Tuy nhiên, đến nay Công ty G vẫn chưa thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình. Tại thời điểm giao hàng, hai bên không lập văn bản liên quan đến nội dung đơn hàng, biên bản giao nhận hàng hoặc các nội dung tương tự mà chỉ có Hoá đơn giá trị gia tăng nêu trên.

Mặc dù Công ty T đã cố gắng nhiều lần liên hệ với Công ty G bằng cách gửi công văn nhắc nợ, đồng thời thiện chí đưa ra các phương án giải quyết tranh chấp nhưng Công ty G TTV không hợp tác và không muốn thanh toán số tiền trên cho Công ty T. Do đó, Công ty T khởi kiện yêu cầu Công ty G phải thanh toán: Số tiền hàng còn nợ là 130.526.000 đồng và tiền lãi chậm thanh toán từ ngày 30/03/2022 đến khi trả hết nợ với lãi suất 10%/năm.

Bị đơn có người đại diện theo pháp luật là bà Huỳnh Thị Kiều M trình bày:

Ngày 30/3/2022, Công ty G và Công ty T có giao dịch mua bán than với số lượng 13.940 kg than cục và 15.630 kg than cám. Sau khi tiến hành kiểm tra, chất lượng than không đạt về kích cỡ cũng như nhiệt lượng thì Công ty đã phản hồi chất lượng lô than hôm đó về cho phía bên Công ty T. Phía bên Công ty T không giải quyết theo như phương án trong hợp đồng đã thỏa thuận, tự ý xuất hóa đơn theo đơn giá như cũ là 4.700 đồng/kg than cục và 3.400 đồng/kg than cám mà không giảm trừ theo điều khoản của hợp đồng; Công ty T cũng không giao ngay hóa đơn, mãi đến ngày 09/01/2023 thì kế toán bên Công ty T mới gửi.

Đối với yêu cầu khởi kiện thì bị đơn không đồng ý và có ý kiến: Yêu cầu phía bên Công ty T điều chỉnh lại đơn giá than trên hóa đơn như đúng cam kết trong thỏa thuận của hợp đồng đã soạn; không đồng ý với số tiền lãi do chậm thanh toán vì phía Công ty G đã rất nhiều lần đến để giải quyết vấn đề nhưng bên phía Công ty T không đồng ý; yêu cầu Công ty T chịu 50% thiệt hại nguyên liệu mà chúng tôi đã sản xuất khi sử dụng than bên Công ty T, tương ứng với số tiền là 100.000.000 đồng.

Công ty G không có yêu cầu phản tố.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu trả tiền hàng chưa thanh toán là 130.526.000 đồng và thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về việc tính lãi, cụ thể yêu cầu tính lãi từ ngày 10/01/2023 đến khi bị đơn trả toàn bộ khoản nợ gốc, với lãi suất 10%/năm, tạm tính đến ngày xét xử - ngày 27/8/2024 (596 ngày) là 21.313.287 đồng.

Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tòa án, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc trả nợ gốc và tiền lãi chậm thanh toán.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thẩm quyền: Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền nợ gốc và tiền lãi chậm thanh toán theo hợp mua bán; bị đơn có trụ sở tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Xét đây là tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa phát sinh trong lĩnh vực kinh doanh, thương mại giữa hai pháp nhân có đăng ký kinh doanh với nhau và có mục đích lợi nhuận nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục:

[2.1] Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa không rõ lý do nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2.2] Nguồn chứng cứ do Công ty G TTV giao nộp là các dữ liệu điện tử gồm bản in tập tin hợp đồng và các bản chụp tin nhắn ứng dụng Zalo với người tên P. Công ty G xác định bà P là nhân viên của Công ty T nhưng không cung cấp được thông tin của bà P. Công ty T không thừa nhận về các chứng cứ này, cũng như xác định không có nhân viên tên P như bị đơn trình bày. Do đó, Tòa án không thể triệu tập bà P tham gia tố tụng để làm rõ. Vì thế các dữ liệu điện tử vừa nêu không phải là chứng cứ chứng minh trong việc giải quyết vụ án.

[2.3] Đối với ý kiến của Công ty G về việc yêu cầu Công ty T chịu 50% thiệt hại, tương đương 100.000.000 đồng do sử dụng than không đúng chất lượng thì bị đơn không có đơn yêu cầu phản tố nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Xét yêu cầu khởi kiện: Tính đến ngày xét xử sơ thẩm, Công ty T yêu cầu Công ty G TTV phải thanh toán tổng số tiền 159.277.481 đồng, bao gồm: Tiền hàng 130.526.000 đồng và tiền lãi chậm thanh toán trên số tiền hàng chậm thanh toán với mức lãi suất 10%/năm, tính từ ngày 10/01/2023 đến ngày 27/8/2024 (596 ngày) là 21.313.287 đồng. Xét việc thay đổi yêu cầu khởi kiện về ngày bắt đầu tính lãi và số tiền lãi cụ thể vẫn thuộc yêu cầu tính lãi chậm thanh toán nên được Hội đồng xét xử chấp nhận để xem xét, giải quyết.

[4] Căn cứ vào lời khai của hai bên thì có cơ sở xác định Công ty T và Công ty G đã lập hợp đồng mua bán hàng hóa bằng lời nói về việc mua bán than. Thực hiện hợp đồng, hai bên đã giao nhận 13.940 kg than cục và 15.630 kg than cám vào ngày 30/3/2022. Nguyên đơn xuất Hóa đơn giá trị gia tăng số 0000411 ngày 30/3/2022, trị giá là 130.526.000 đồng nhưng chưa được bị đơn thanh toán tiền hàng. Hai bên không xuất trình được chứng cứ chứng minh có thỏa thuận cụ thể về chất lượng hàng hóa, đơn giá, thời hạn thanh toán; đồng thời các bên cũng không lập chứng từ, biên bản giao nhận hàng hóa và hóa đơn.

[5] Hội đồng xét xử cho rằng nguyên nhân của tranh chấp bắt nguồn từ việc các bên không có thỏa thuận rõ ràng về chất lượng hàng hóa, đơn giá và thời hạn thanh toán nên đã dẫn đến tranh chấp về chất lượng, đơn giá, thời hạn thanh toán sau khi giao nhận hàng. Trong trường hợp hai công ty không có thỏa thuận về chất lượng, đơn giá và thời hạn thanh toán thì phải có nghĩa vụ thực hiện theo quy định chung của Luật Thương mại. Theo đó, bên bán có nghĩa vụ giao hàng hóa, chứng từ và khắc phục trong trường hợp giao hàng không bảo đảm chất lượng theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 39 và Điều 41 Luật Thương mại; bên mua có quyền từ chối nhận hàng không đúng chất lượng theo khoản 2 Điều 39 Luật Thương mại. Như vậy, Công ty G có quyền từ chối nhận hàng hoặc yêu cầu Công ty T khắc phục trong trường hợp giao hàng không bảo đảm chất lượng. Tuy nhiên, Công ty G vẫn nhận hàng và sử dụng hết số than được giao nên phải có nghĩa vụ trả tiền hàng.

[6] Xét bị đơn đã trung thực thừa nhận đã nhận hàng hóa với khối lượng 13.940 kg than cục và 15.630 kg than cám, đơn giá thỏa thuận ban đầu là 4.700 đồng/kg than cục và 3.400 đồng/kg than cám, trùng khớp với nội dung Hóa đơn giá trị gia tăng Số 0000411 ngày 30/3/2022 của nguyên đơn. Mặc dù bị đơn khẳng định hàng hóa không đạt chất lượng, yêu cầu tính lại giá nhưng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh có thỏa thuận về giá và chất lượng than nên không có cơ sở để Hội đồng xét xử xem xét lại. Do đó, bị đơn có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn tiền hàng tương ứng với số hàng hóa đã nhận như sau: 13.940 kg than cục X 4.700 đồng/kg = 65.518.000 đồng và 15.630 kg than cám x 3.400 đồng/kg = 53.142.000 đồng, tổng: 118.660.000 đồng; thuế giá trị gia tăng 10% x 118.660.000 đồng = 11.866.000 đồng; tổng cộng: 130.526.000 đồng.

[7] Về thời hạn thanh toán: Khoản 1 Điều 55 của Luật Thương mại quy định “Trừ trường hợp có thoả thuận khác, thời hạn thanh toán được quy định như sau: 1. Bên mua phải thanh toán cho bên bán vào thời điểm bên bán giao hàng hoặc giao chứng từ liên quan đến hàng hoá...”. Bị đơn đã nhận hàng vào ngày 30/3/2022 nhưng đến nay vẫn chưa thanh toán nên đã xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Bị đơn thừa nhận đã nhận hóa đơn vào ngày 09/01/2023 nên yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn có nghĩa vụ trả tiền lãi do chậm thanh toán tiền hàng từ ngày 10/01/2023 là tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 55 và Điều 306 Luật Thương mại.

[8] Về lãi suất: Nguyên đơn yêu cầu mức lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ là 10%/năm là thấp hợp mức lãi suất quá hạn trung bình của 03 ngân hàng thương mại được Tòa án xác minh, phù hợp với quy định tại Điều 306 Luật Thương mại, có lợi hơn cho phía bị đơn nên được chấp nhận.

[9] Tiền lãi chậm thanh toán: Tiền lãi chậm thanh toán được tính từ ngày 10/01/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 27/8/2024) được tính như sau: 130.526.000 đồng x 10%/năm x 596 ngày = 21.313.287 đồng.

[10] Như vậy, tổng yêu cầu khởi kiện được Hội đồng xét xử chấp nhận là 151.839.287 đồng, gồm nợ tiền hàng 130.526.000 đồng và tiền lãi chậm thanh toán là 21.313.287 đồng.

[11] Vì các bên không có thỏa thuận về việc trả lãi chậm thanh toán tiền hàng trong hợp đồng mua bán nên kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[12] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí tính trên số tiền mà nguyên đơn được chấp nhận.

[13] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 267, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24, Điều 34, Điều 39, Điều 40, Điều 41, Điều 50, Điều 55 và Điều 306 Luật Thương mại; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; điểm b khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T.

Buộc Công ty TNHH G có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH T nợ tiền mua hàng 130.526.000 đồng theo Hóa đơn giá trị gia tăng Số 0000411 ngày 30/3/2022 và tiền lãi chậm thanh toán là 21.313.287 đồng, tổng cộng 151.839.287 đồng (một trăm năm mươi mốt triệu tám trăm ba mươi nghìn hai trăm tám mươi bảy đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí:

Công ty TNHH G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với tranh chấp về kinh doanh thương mại là 7.591.964 đồng.

Trả lại Công ty TNHH T số tiền tạm ứng án phí là 3.723.580 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0044639 ngày 10/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1.

3. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền./.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND Q.1;
  • - THADS Q.1;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Thế Đông

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 205/2024/KDTM-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 205/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán than
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger