Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NINH KIỀU

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 202/2024/DS-ST

Ngày: 15/8/2024

V/v Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Kim Tiến

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phan Công Ny
  2. Bà Hồ Thị Kim Luyến

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Trong ngày 15 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 114/2024/TLST-DS ngày 20 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 511/2024/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Phạm Văn P, sinh năm 1960. Có mặt.
  • Địa chỉ: Số A KV Y, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ.
  • - Bị đơn: Bà Hoàng Huỳnh Bảo T, sinh năm 1985. Vắng mặt
  • Địa chỉ: 1 B, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.
  • - Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
  • Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1978. Vắng mặt
  • Địa chỉ: 1 B, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn Phạm Văn P trình bày:

Vào ngày 07/01/2019 bà Hoàng Huỳnh Bảo T có mượn của ông số tiền 300.000.000 đồng, để mua đất, hai bên có viết biên nhận tiền. Đến tháng 6 năm 2019 bà T trả cho ông số tiền 100.000.000 đồng, còn lại 200.000.000 đồng đến nay bà T chưa thanh toán cho ông

Ô khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Hoàng Huỳnh Bảo T, ông Nguyễn Văn T1 phải trả cho ông số tiền đã mượn là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) và trả tiền lãi theo lãi suất 20%/năm, gồm 02 giai đoạn:

Giai đoạn 1: Từ tháng 07/01/2019 đến tháng 06/2019 với số tiền 300.000.000₫ (Ba trăm triệu đồng).

Giai đoạn 2: Từ tháng 07/2019 đến khi xét xử đối với số tiền còn nợ là 200.000.000₫ (hai trăm triệu đồng).

Tại phiên tòa nguyên đơn ông Phạm Văn P yêu cầu bị đơn bà Hoàng Huỳnh Bảo T thanh toán số nợ gốc 200.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, xem xét toàn diện các chứng cứ; Hội đồng xét xử xét thấy;

[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Phạm Văn P khởi kiện yêu cầu bà Hoàng Huỳnh Bảo T trả số tiền vay là 200.000.000 đồng. Xác định đây là tranh chấp về Hợp đồng vay tài sản được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Đối với sự vắng mặt của bị đơn bà Hoàng Huỳnh Bảo T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn T1 xét thấy rằng Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ bà T, ông T1, nhưng bà T, ông T1 vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng. Không cung cấp bất cứ tài liệu, chứng cứ nào có liên quan đến vụ án cũng như không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xem như đã từ bỏ quyền tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo quy định pháp luật.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện trả nợ gốc:

Qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện ngày 07/01/2019 bà T có vay của ông P số tiền 300.000.000 đồng, để trả tiền mua đất, thời gian vay từ ngày 07/01/2019 đến ngày 10/01/2019, không tính lãi. Hai bên có viết biên nhận nợ. Sau đó đến tháng 6/2019 bà T trả cho ông P 100.000.000 đồng, còn nợ lại số tiền 200.000.000 đồng.

Bà T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng không đến tham gia tố tụng, không có văn bản trình bày ý kiến phản bác về yêu cầu khởi kiện của ông P, do đó xem như bà T từ bỏ quyền cung cấp chứng cứ chứng minh và bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình.

Bà T đã xác lập giao dịch dân sự về việc vay tài sản với ông P. Khi xác lập giao dịch này giữa hai bên hoàn toàn tự nguyện, không bị ép buộc và không vi phạm điều cấm. Thể hiện là giấy biên nhận vay tiền thể hiện đầy đủ nội dung về: số tiền vay, thời hạn trả nợ, các nội dung đều phù hợp với quy định của pháp luật nên đây là giao dịch dân sự hợp pháp. Bà T là người có đủ năng lực trách nhiệm dân sự nên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về các giao dịch do mình ký kết.

Xét chứng cứ biên nhận mà ông P cung cấp cho Tòa thấy có đủ cơ sở xác định việc bà T có vay tiền của ông P, hai bên thỏa thuận thời hạn vay là 5 ngày. Tuy nhiên tới thời điểm hiện tại bà T còn nợ lại ông P số tiền 200.000.000 đồng. Nên ông P khởi kiện yêu cầu bà T thanh toán số tiền nợ gốc 200.000.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông P được chấp nhận, nên bị đơn bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Ông P là người cao tuổi thuộc đối tượng được miễn đóng tạm ứng án phí theo quy định.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 463; Điều 466; Điều 468; Điều 470 Bộ luật Dân sự 2015.

Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phạm Văn P đối với bị đơn bà Hoàng Huỳnh Bảo T.

Buộc bị đơn bà Hoàng Huỳnh Bảo T phải trả cho nguyên đơn ông Phạm Văn P tổng số tiền là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng).

Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Hoàng Huỳnh Bảo T phải chịu 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết), để yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND Q.NK;
  • - Chi cục THADS Q.NK;
  • - TAND TP.CT;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Kim Tiến

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 202/2024/DS-ST ngày 15/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 202/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NINH KIỀU, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn P tranh chấp hợp đồng vay tài sản với Hoàng Huỳnh Bảo T
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger