|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 205/2024/HS-ST Ngày 19 - 7 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mai
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Tập và ông Nguyễn Văn Quang
- Thư ký phiên tòa: Ông Y Kăn Niê - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu L - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 181/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 193/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Trần Quốc B; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không
Sinh ngày 10 tháng 7 năm 2004; Tại: Đắk Lắk
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: D P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk; Trình độ học vấn: 09/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không;
Con ông: Trần Quang V; Con bà: Phạm Thị P; Bị cáo chưa có vợ con
Tiền sự: Không
Tiền án: 01; Ngày 08/8/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, xử phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 02 năm 06 tháng, về tội “Cố ý gây thương tích”, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 219/2022/HSST, chưa chấp hành xong bản án.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/3/2024 đến ngày 16/3/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay - Có mặt
-
Họ và tên: Phan Anh Da U; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 10 tháng 4 năm 1996; Tại: Đắk Lắk
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: 2 L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 08/12.
Con ông: Phan Anh Đ; Con bà: Nguyễn Thị N; Bị cáo chưa có vợ con
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/3/2024 đến ngày 16/3/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay - Có mặt
-
Họ và tên: Lưu Quang V1; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 03 tháng 02 năm 2001; Tại: Nam Định
Nơi ĐKHKTT: Thôn Thiện Lạc, xã Đại Thắng, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định.
Chỗ ở: 19 Ngô Quyền, phường Thắng Lợi, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Quốc tịch:Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12.
Con ông: Lưu Văn P1; Con bà: Đinh Thị Q, bị cáo chưa có vợ con
Tiền án, Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 06/3/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tại Bản án số 50/2020/HS-ST, bị cáo đã xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/3/2024 đến ngày 16/3/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay - Có mặt
-
Họ và tên: Đoàn Văn L1; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không
Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1984; Tại: Gia Lai
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai; Quốc tịch: Việt Nam;
Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 02/12.
Con ông: Đoàn Văn L2; Con bà: Trần Thị T; bị cáo chưa có vợ con
Tiền án, Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 16/3/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc”, tại Bản án số 307/2018/HS-ST, đã xóa án tích.
Bị cáo bị tạm giữ tại nhà tạm giữ công an thành phố B từ ngày 07/3/2024 cho đến nay - Có mặt
-
Họ và tên: Trần Ngọc T1; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không
Sinh ngày 15 tháng 9 năm 2005; Tại: Đắk Lắk
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố F, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 07/12
Con ông: Trần Ngọc T2 (đã chết); Con bà: Nguyễn Thị Anh T3; bị cáo có chồng Trần Đăng D (chưa đăng ký kết hôn); có 01 con: Trần Đăng Quốc A, sinh năm: 2023.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/5/2024 cho đến nay - Có mặt
-
Họ và tên: Lê Anh T4; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không
Sinh ngày 04 tháng 01 năm 1993; Tại: Đắk Lắk
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn A, xã B, huyện K, tỉnh Đắk Lắk.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Quản lý; Trình độ học vấn: 11/12
Con ông: Lê T5; Con bà: Nguyễn Thị K; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án: 01; Ngày 25/11/2022 bị TAND huyện Krông Ana tuyên phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 05 năm về tội “Đánh bạc”, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2022/HS-ST, chưa chấp hành xong hình phạt.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 28/5/2024 cho đến nay - Có mặt
-
Họ và tên: Nguyễn Tâm P2; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không
Sinh ngày 21 tháng 11 năm 2003; Tại: Thừa Thiên Huế
Nơi ĐKHKTT: Thôn N, xã N, huyện H, tỉnh Quảng Trị.
Nơi cư trú: Thôn B, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Thợ nhôm kính; Trình độ học vấn: 09/12
Con ông: Nguyễn Tâm H; Con bà: Nguyễn Thị T6; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/5/2024 cho đến nay - Có mặt
-
Họ và tên: Nguyễn Thị Thanh H1; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không
Sinh ngày 15 tháng 6 năm 1998; Tại: Đắk Lắk
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ dân phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Nghề nghiệp: Nhân viên; Trình độ học vấn: 08/12
Con ông: Nguyễn Tri H2; Con bà: Nguyễn Thị Thu T7; Bị cáo có chồng Huỳnh Tấn Đ1 (chưa đăng ký kết hôn); có 01 con: Huỳnh Nguyễn Trúc M, sinh năm: 2021.
Tiền án; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/5/2024 cho đến nay - Có mặt
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Anh Bùi Thọ T8.
Địa chỉ: C H, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk - Có mặt
-
Anh Huỳnh Lê D1.
Địa chỉ: Tổ dân phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt
Người chứng kiến:
Ông Y BLơng M Lô.
Địa chỉ: Tổ dân phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk – Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 08 giờ ngày 06 tháng 3 năm 2024, tại phòng trọ của bị cáo Phan Anh Da U, địa chỉ: Khu tái định cư A, buôn P, phường T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk, U, Lưu Quang V1, Đoàn Văn L1, Trần Quốc B, Trần Ngọc T1, Nguyễn Tâm P2, Nguyễn Thị Thanh H1 cùng rủ nhau chơi đánh bạc, dưới hình thức Xì lát, được thua bằng tiền và thỏa thuận V1 là người cầm cái, mỗi ván cá cược thấp nhất là 50.000đồng và cao nhất là 100.000đồng thì cả nhóm đều đồng ý. Lúc này, B mua 02 bộ bài Tú Lơ Khơ 52 lá từ một người phụ nữ bán hàng rong (Chưa rõ nhân thân, lai lịch) và U lấy ra 01 cái đĩa sứ, đường kích 10,5cm làm công cụ rồi cả nhóm ngồi trên 01 chiếc chiếu, kích thước (190x150)cm đã được trải sẵn trên khu vực gác lửng của phòng trọ làm chiếu bạc để đánh bạc. Khi tham gia đánh bạc, các bị cáo mang theo tiền sử dụng để đánh bạc lần lượt là: V1 mang theo số tiền 500.000đồng (Năm trăm ngàn đồng); B mang theo số tiền 1.800.000đồng (Một triệu tám trăm ngàn đồng); L1 mang theo số tiền 500.000đồng (Năm trăm ngàn đồng); U mang theo số tiền 7.000.000đồng (Bảy triệu đồng); T1 mang theo số tiền 600.000đồng (Sáu trăm ngàn đồng); P2 mang theo số tiền 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng); H1 mang theo số tiền 100.000đồng (Một trăm ngàn đồng).
Quá trình đánh bạc, V1 làm cái thua hết số tiền mang theo nên Vũ mượn của U số tiền 2.000.000đồng (Hai triệu đồng) để đánh bạc thì U đồng ý và đưa tiền cho V1. Sau đó, V1 dùng số tiền vừa mượn trên đánh bạc và bị thua hết nên tiếp tục mượn U số tiền 4.000.000đồng (Bốn triệu đồng) để đánh bạc thì U đồng ý đưa cho Vũ mượn số tiền 4.000.000đồng. Cả nhóm tham gia đánh bạc nhiều ván có ván thắng, ván thua. Khoảng 30 phút sau thì T1, H1 và P2 lần lượt nghỉ chơi và ra về trước. Lúc về, T1 có số tiền 1.000.000đồng, H1 có số tiền 400.000đồng và P2 đã thua hết tiền, còn V1 tiếp tục làm cái đánh bạc với B, L1, U thắng thua bằng tiền.
Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, U đánh bạc thua còn số tiền 200.000đồng nên nghỉ và ngồi xem V1, B và L1 chơi đánh bạc. Khoảng 12 giờ cùng ngày, Lê Anh T4 đi đến phòng trọ của U thì B có hỏi T4 mượn số tiền 1.000.000đồng (Một triệu đồng) sử dụng để đánh bạc thì T4 đồng ý đưa tiền cho B. Lúc này, B nói T4 đánh bạc giúp B một cửa (B đánh 02 cửa xác định thắng thua) thì T4 đồng ý. Sau đó, T4 cầm bài đánh bạc giúp B 04 ván đặt cược mỗi ván cược 50.000đồng, T4 đánh 02 ván thắng, 02 ván thua, việc chung tiền thắng thua do B chung với các con bạc. Khi đánh bạc giúp B xong, T4 cho U mượn số tiền 1.000.000đồng (Một triệu đồng) rồi U trả cho B số tiền 500.000đồng (Năm trăm ngàn đồng) và B sử dụng hết để đánh bạc cùng với L1, V1, số tiền 500.000đồng còn lại U đã tiêu xài hết. Sau đó, V1 trả lại cho U số tiền 3.000.000đồng (Ba triệu đồng) để đánh bạc trước đó. Đến khoảng 14 giờ 10 phút cùng ngày, khi V1 đang làm cái đánh bạc với B, L1, còn U ngồi xem thì bị Cơ quan công an kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang và thu giữ tiền dùng đánh bạc của Phan Anh Da U 3.200.000đồng; Lưu Quang V1 số tiền 3.000.000đồng; Trần Quốc B số tiền 2000.000đồng; Đoàn Văn L1 số tiền 2.600.000đồng; Trần Ngọc T1 tự nguyện giao nộp số tiền 1.000.000đồng; Nguyễn Thị Thanh H1 tự nguyện giao nộp số tiền 400.000 đồng.
Hình thức chơi bài Xì lát như sau: Người cầm cái xì lát dùng bộ bài Tú Lơ Khơ 52 lá chia đều cho mỗi tụ chơi 02 quân bài và chia không quá 10 tụ chơi, số bài còn lại được gộp thành một tụ để ở giữa chiếu bạc. Những người tham gia đánh bạc sẽ tính tổng điểm trên 02 quân bài được phát để xác định có bốc thêm bài hay không, cách tính: Các quân bài ghi số từ 2 đến 10 được tính với số điểm tương ứng từ 2 đến 10 điểm; các quân bài J, Q, K được tính là 10 điểm; quân bài A được tính 10 hoặc 11 điểm nếu trên tay người chơi có từ 02 đến 03 lá bài, tính là 01 điểm khi người chơi có từ 04 đến 05 lá bài trên tay. Nếu người chơi tụ con có tổng điểm dưới 16 điểm và dưới 15 điểm đối với người cầm cái thì phải bốc thêm bài từ tụ bài để giữa chiếu bạc và được bốc tối đa không quá 03 quân bài. Nếu người chơi có tổng điểm từ 16 điểm trở lên đối với người chơi tụ con và 15 điểm trở lên đối với người cầm cái thì có quyền bốc thêm bài hoặc không bốc thêm bài. Cách phân định thắng thua cụ thể như sau: Lớn nhất là Xì B1 gồm 02 quân bài A; tiếp đó là Xì L3 gồm 01 quân bài A và một trong các quân bài 10, J, Q, K; sau đó đến Ngũ L4 là gồm tổng điểm của 05 quân bài trên tay người chơi có số điểm từ 21 trở xuống, rồi đến 21 điểm, 20 điểm, 19 điểm, 18 điểm, 17 điểm, 16 điểm đối với người chơi tụ con, 15 điểm đối với người cầm cái Xì L3 và nhỏ nhất là oác khi tổng điểm các quân bài trên tay người chơi lớn hơn 21 điểm.
Tại bản cáo trạng số: 195/CT-VKSTP.BMT ngày 24/6/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã truy tố các bị cáo Lưu Quang V1, Trần Quốc B, Phan Anh Da U, Đoàn Văn L1, Lê Anh T4, Trần Ngọc T1, Nguyễn Tâm P2 và Nguyễn Thị Thanh H1 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai tại cơ quan điều tra và bản Cáo trạng mà đại diện Viện kiểm sát đã truy tố và các bị cáo không khai thêm tình tiết nào mới.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Buôn Ma Thuột đã phân tích, chứng minh hành vi phạm tội của các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Lưu Quang V1, Trần Quốc B, Phan Anh Da U, Đoàn Văn L1, Lê Anh T4, Trần Ngọc T1, Nguyễn Tâm P2, Nguyễn Thị Thanh H1 về tội “Đánh bạc”.
- -Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Trần Quốc B mức án từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù.
- Áp khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự chuyển hình phạt 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thành 01 năm 03 tháng tù giam của bản án hình sự số 219/2022 ngày 08/8/2022.
- Tổng hợp hình phạt chung của hai tội 02 năm 03 tháng tù đến 02 năm 6 tháng tù.
- -Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 56 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Lê Anh T4 mức án từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù.
- Áp khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự chuyển hình phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo thành 03 năm tù giam của bản án hình sự số 40/2022 ngày 25/11/2022.
- Tổng hợp hình phạt chung của hai tội 03 năm 9 tháng tù đến 04 năm tù.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Lưu Quang V1 mức án từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù.
- Xử phạt: Bị cáo Đoàn Văn L1 mức án từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i; s khoản 1 điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Phan Anh Da U mức án từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng đến 24 tháng.
- Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc T1 mức án từ 06 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng tù đến 24 tháng tù.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tâm P2 mức án từ 06 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng đến 24 tháng tù.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thanh H1 mức án từ 06 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng đến 24 tháng tù.
Xử lý vật chứng:
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc chiếu, kích thước (190x150)cm, đã qua sử dụng; 01 đĩa sứ màu trắng, đường kích 10,5cm, đã qua sử dụng thuộc quyền sở hữu của bị cáo Phan Anh Da U và 01 bộ bài Tú Lơ K1 đã qua sử dụng, 01 bộ bài Tú Lơ Khơ chưa qua sử dụng thuộc quyền sở hữu của bị cáo Trần Quốc B sử dụng để phạm tội, không còn giá trị sử dụng.
- + Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 12.200.000đồng mà các bị cáo sử dụng để đánh bạc. Trong đó: 3.000.000đồng của bị cáo Lưu Quang V1; 2.000.000đồng của bị cáo Trần Quốc B; 2.600.000đồng của bị cáo Đoàn Văn L1; 3.200.000đồng của bị cáo Phan Anh Da U; 1.000.000đồng của bị cáo Trần Ngọc T1 và 400.000 đồng của bị cáo Nguyễn Thị Thanh H1.
- + Đối với: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone14 Promax, màu trắng, số Imei: 353665905706456, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A34, màu xám, số Imei: 357260751650499 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A71, màu xám, số I: 353408118569365 đều đã qua sử dụng của bị cáo Lưu Quang V1 không sử dụng vào hành vi phạm tội; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu hồng, số Imei: 354837093060371 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs, màu xám, số Imei: 356175091167767, đều đã qua sử dụng của bị cáo Trần Quốc B; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh, số Imei: 353892109525512, đã qua sử dụng của bị cáo Phan Anh Da U, không sử dụng vào hành vi phạm tội. Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 2338 ngày 04/6/2024, trả lại các tài sản trên cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp.
- + Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, model: 1280, màu xanh, số I: 353408047119399 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, model: 1202, màu xanh, số I: 352055020500888, đều đã qua sử dụng thuộc quyền sở hữu của bị cáo Đoàn Văn L1, không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
- + Đối với địa điểm sử dụng để đánh bạc là khu vực gác lửng của phòng trọ được xây dựng trên thửa đất số 896 (D004-25), tờ bản đồ số 81 (Đ), địa chỉ: Phường T, Tp tỉnh Đắk Lắk đứng tên chủ sở hữu ông Huỳnh Lê D1, sinh năm 1977, nơi cư trú: Tổ dân phố D, phường T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk. Tháng 01/2024, ông Huỳnh Lê D1 cho anh Bùi Thọ T8, thuê lại để làm kho. Sau đó, do không ở đây nên anh T8 cho bị cáo Phan Anh Da U (Bạn anh T8) mượn ở tại phòng trọ trên. Việc các Bị cáo sử dụng địa điểm trên để đánh bạc, anh T8 và anh D1 đều không biết nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với các anh T8 và anh D1, cũng như không kê biên tài sản đối với địa điểm đánh bạc trên.
Các bị cáo không tranh luận, bào chữa gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
[1].Về hành vi, quyết định tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
[2].Về nội dung:
Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở xác định:
Vào ngày 06 tháng 3 năm 2024, tại phòng trọ địa chỉ khu tái định cư A, buôn P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Các bị cáo Trần Ngọc T1, Nguyễn Tâm P2, Nguyễn Thị Thanh H1 đánh bạc trái phép, dưới hình thức bài Xì lát, được thua bằng tiền với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 10.700.000đồng (Mười triệu bảy trăm ngàn đồng); Các bị cáo Trần Quốc B, Lưu Quang V1, Phan Anh Da U, Đoàn Văn L1 đánh bạc trái phép, dưới hình thức bài Xì lát, được thua bằng tiền với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 12.200.000đồng (Mười hai triệu hai trăm ngàn đồng) và bị cáo Lê Anh T4 có hành vi giúp sức cho bị cáo Trần Quốc B đánh bạc cùng với các con bạc khác. Như vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
-
[3]. Xét hành vi của các bị cáo
Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự, an toàn công cộng là tệ nạn xã hội cần được bài trừ. Các bị cáo đều là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc bị pháp luật nghiêm cấm. Song do ham lợi nhuận, coi thường pháp luật muốn có tiền tiêu xài nhưng lười lao động nên các bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần thiết phải áp dụng mức hình phạt đủ nghiêm mới có tác dụng cải tạo, giáo dục, răn đe các bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Trần Quốc B và Lê Anh T4 phạm tội thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Phan Anh Da U, Trần Ngọc T1, Nguyễn Tâm P2, Nguyễn Thị Thanh H1 phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Các bị cáo Lưu Quang V1, Trần Quốc B, Phan Anh Da U, Đoàn Văn L1, Lê Anh T4, Trần Ngọc T1, Nguyễn Tâm P2, Nguyễn Thị Thanh H1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng để giảm nhẹ cho các bị cáo nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật Nhà nước.
Trong vụ án này có 08 bị cáo cùng tham gia thực hiện hành vi đánh bạc, số tiền đánh bạc và nhân thân khác nhau nên cần phân hóa để có mức hình phạt tương xứng.
Đối với bị cáo Trần Quốc B: Bị cáo sử dụng số tiền đánh bạc là 3.300.000đồng, bị cáo có 01 tiền án về tội “Cố ý gây thương tích”, ngày 08/8/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk, xử phạt 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng có hưởng án treo thời gian thử thách 02 năm 06 tháng, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 219/2022/HSST, bị cáo chưa chấp hành xong bản án mà phạm tội mới nên Căn cứ Điều khoản 5 điều 65 Bộ luật hình sự để chuyển hình phạt 01 năm 03 tháng tù nhưng có hưởng án treo thành 01 năm 03 tháng tù giam nên cần đánh giá hình phạt của bị cáo cao nhất.
Đối với bị cáo Lê Anh T4: Về vai trò bị cáo chỉ giúp sức cho bị cáo B đánh bạc 4 ván mỗi ván 50.000đồng nhưng bị cáo đã có 01 tiền án, về tội “Đánh bạc”, ngày 25/11/2022 bị TAND huyện Krông Ana tuyên phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 05 năm về tội “Đánh bạc”, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 40/2022/HS-ST, bị cáo chưa chấp hành xong hình phạt mà bị cáo lại phạm tội đánh bạc trong thời gian đang chấp hành án treo nên căn cứ Điều khoản 5 điều 65 Bộ luật hình sự để chuyển 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thành 01 năm 03 tháng tù giam và hình phạt thấp hơn bị cáo B là phù hợp.
Đối với các bị cáo Lưu Quang V1; Đoàn Văn L1 và Phan Anh Da U
Bị cáo Lưu Quang V1 đánh bạc số tiền 500.000đồng nhưng nnhân thân xấu, ngày 06/3/2020 bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; Bị cáo Đoàn Văn L1, số tiền đánh bạc: 500.000đồng nhưng nhân thân xấu: Ngày 16/3/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội “Đánh bạc” và đối với bị cáo Phan Anh Da U, số tiền đánh bạc 7.000.000đồng nhưng có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự nên cần đánh giá mức hình phạt của ba bị cáo là nhau nhưng cao hơn bị cáo T1, H1, P2 là phù hợp.
Đối với bị cáo Trần Ngọc T1, số tiền đánh bạc 600.000 đồng; Bị cáo Nguyễn Tâm P2, số tiền đánh bạc 200.000 đồng và bị cáo Nguyễn Thị Thanh H1, số tiền đánh bạc 100.000 đồng, các bị cáo nhân thân tốt và chưa có tiền án, tiền sự nên cần đánh giá mức hình phạt ngang nhau và thấp hơn các bị cáo khác là phù hợp.
Với tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức hình phạt cách ly các bị cáo Lưu Quang V1, Đoàn Văn L1, Trần Quốc B và Lê Anh T4 ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, sống biết tôn trọng pháp luật, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Xét thấy, các bị cáo Phan Anh Da U, Nguyễn Tâm P2, Nguyễn Thị Thanh H1 và Trần Ngọc T1 có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình các bị cáo, giáo dục cho các bị cáo sửa chữa sai lầm để trở thành người công dân có ích cho xã hội.
-
[4]. Các biên pháp tư pháp:
Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Về xử lý vật chứng:
- + Đối với 01 chiếc chiếu, kích thước (190x150) cm đã qua sử dụng; 01 đĩa sứ màu trắng, đường kích 10,5cm, đã qua sử dụng thuộc quyền sở hữu của bị cáo Phan Anh Da U và 01 bộ bài Tú Lơ K1 đã qua sử dụng, 01 bộ bài Tú Lơ Khơ chưa qua sử dụng, các bị cáo sử dụng là phương tiện để phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- + Đối với số tiền 12.200.000đồng mà các bị cáo sử dụng để đánh bạc. Trong đó: 3.000.000đồng của bị cáo Lưu Quang V1; 2.000.000đồng của bị cáo Trần Quốc B; 2.600.000đồng của bị cáo Đoàn Văn L1; 3.200.000đồng của bị cáo Phan Anh Da U; 1.000.000đồng của bị cáo Trần Ngọc T1; 400.000 đồng của bị cáo Nguyễn Thị Thanh H1 nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- + Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu trắng, số I: 353665905706456, đã qua sử dụng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A34, màu xám, số I: 357260751650499, đã qua sử dụng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A71, màu xám, số Imei: 353408118569365 của bị cáo Lưu Quang V1 không sử dụng vào hành vi phạm tội; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu hồng, số Imei: 354837093060371, đã qua sử dụng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs, màu xám, số Imei: 356175091167767, đã qua sử dụng của bị cáo Trần Quốc B không sử dụng vào hành vi phạm tội; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh, số Imei: 353892109525512, đã qua sử dụng của bị cáo Phan Anh Da U, không sử dụng vào hành vi phạm tội. Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 2338 ngày 04/6/2024, trả lại các tài sản trên cho các bị cáo là phù hợp nên cần chấp nhận.
- + Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, model: 1280, màu xanh, số I: 353408047119399 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, model: 1202, màu xanh, số I: 352055020500888, đều đã qua sử dụng thuộc quyền sở hữu của bị cáo Đoàn Văn L1, không liên quan đến hành vi phạm tội nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
Về hành vi khác:
- + Đối với địa điểm sử dụng để đánh bạc là khu vực gác lửng của phòng trọ được xây dựng trên thửa đất số 896 (D004-25), tờ bản đồ số 81 (Đ), địa chỉ: Phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk đứng tên chủ sở hữu ông Huỳnh Lê D1. Tháng 01/2024, ông Huỳnh Lê D1 cho anh Bùi Thọ T8 thuê lại để làm kho. Sau đó, do không ở đây nên anh T8 cho bị cáo Phan Anh Da U (bạn anh T8) mượn ở tại phòng trọ trên. Việc các bị cáo sử dụng địa điểm trên để đánh bạc anh T8 và anh D1 đều không biết nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh T8 và anh D1, cũng như không kê biên tài sản đối với địa điểm đánh bạc trên.
-
[5]. Về án phí:
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 321 Bộ luật hình sự;
1.Tuyên bố các bị cáo Phan Anh Da U, Lưu Quang V1, Đoàn Văn L1, Trần Quốc B, Trần Ngọc T1, Nguyễn Tâm P2, Nguyễn Thị Thanh H1, Lê Anh T4 phạm tội “Đánh bạc".
- -Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Trần Quốc B 01 năm tù.
- Áp khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự chuyển hình phạt 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thành 01 năm 03 tháng tù giam của bản án hình sự số 219/2022/HS-ST ngày 08/8/2022.
- Áp dụng khoản 1 Điều 55, khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt chung của hai tội 02 năm 03 tháng tù.
- Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được khấu trừ thời gian tạm giữ ngày 07/3/2024 đến ngày 16/3/2024.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Lê Anh T4 09 tháng tù.
- Áp khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự chuyển hình phạt 03 năm tù nhưng cho hưởng án treo thành 03 năm tù giam của bản án hình sự số 40/2022/HS-ST ngày 25/11/2022.
- Áp dụng khoản 1 điều 55, khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt chung của hai tội 03 năm 09 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, từ ngày 07/11/2021 đến ngày 16/11/2021 của Bản án hình sự số 40/2022/HS-ST ngày 25/11/2022.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự đối bị cáo Lưu Quang V1 và bị cáo Đoàn Văn L1.
- Xử phạt bị cáo Lưu Quang V1 09 tháng tù.
- Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 07/3/2024 đến ngày 16/3/2024.
- Xử phạt bị cáo Đoàn Văn L1 09 tháng tù.
- Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 07/3/2024.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i; s khoản 1 điều 51; các khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Phan Anh Da U, Trần Ngọc T1, Nguyễn Tâm P2 và Nguyễn Thị Thanh H1.
- Xử phạt bị cáo Phan Anh Da U 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 07/3/2024 đến ngày 16/3/2024.
- Xử phạt bị cáo Trần Ngọc T1 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tâm P2 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thanh H1 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm
- Trong thời gian thử thách giao bị cáo Nguyễn Thị Thanh H1 cho UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
- Giao bị cáo Nguyễn Tâm P2 cho UBND xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
- Giao bị cáo Trần Ngọc T1 cho UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;
- Giao bị cáo Phan Anh Da U cho UBND phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, là nơi các bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Các biên pháp tư pháp: Áp dụng các Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc chiếu, kích thước (190x150)cm, đã qua sử dụng; 01 đĩa sứ màu trắng, đường kích 10,5cm, đã qua sử dụng; 01 bộ bài Tú Lơ K1 đã qua sử dụng và 01 bộ bài Tú Lơ Khơ chưa qua sử dụng.
- + Tịch thu sung ngân sách Nhà nước tổng số tiền 12.200.000đồng mà các bị cáo sử dụng để đánh bạc.
- + Trả lại 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, model: 1280, màu xanh, số I: 353408047119399 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, model: 1202, màu xanh, số I: 352055020500888, đều đã qua sử dụng cho bị cáo Đoàn Văn L1, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo công tác thi hành án.
- (Vật chứng có đặc điểm và số lượng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/6/2024 giữa Công an thành phố B và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột.)
- + Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng số 2338 ngày 04/6/2024, trả lại các tài sản đã qua sử dụng bao gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu trắng, số Imei: 353665905706456; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A34, màu xám, số Imei: 357260751650499 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A71, màu xám, số Imei: 353408118569365 cho bị cáo Lưu Quang V1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu hồng, số Imei: 354837093060371 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs, màu xám, số I: 356175091167767, cho bị cáo Trần Quốc B và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xanh, số I: 353892109525512 cho bị cáo Phan Anh Da U.
- + Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra không đề cập xử lý đối với anh Bùi Thọ T8 và anh Huỳnh Lê D1, cũng như không kê biên tài sản đối với địa điểm đánh bạc là khu vực gác lửng của phòng trọ được xây dựng trên thửa đất số 896 (D004-25), tờ bản đồ số 81 (Đ), địa chỉ: Phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk đứng tên chủ sở hữu ông Huỳnh Lê D1.
3.Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Phan Anh Da U, Lưu Quang V1, Đoàn Văn L1, Trần Quốc B, Trần Ngọc T1, Nguyễn Tâm P2, Nguyễn Thị Thanh H1, Lê Anh T4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Mai |
Bản án số 205/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về đánh bạc
- Số bản án: 205/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào ngày 06 tháng 3 năm 2024, tại phòng trọ địa chỉ khu tái định cư Ama Jhao, buôn Păn Lăm, phường Tân Lập, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Các bị cáo Trần Ngọc Thảo, Nguyễn Tâm Phước, Nguyễn Thị Thanh Huyền đánh bạc trái phép, dưới hình thức bài Xì lát, được thua bằng tiền với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 10.700.000đồng (Mười triệu bảy trăm ngàn đồng); Các bị cáo Trần Quốc Bảo, Lưu Quang Vũ, Phan Anh Da Uy, Đoàn Văn Lanh đánh bạc trái phép, dưới hình thức bài Xì lát, được thua bằng tiền với tổng số tiền dùng để đánh bạc là 12.200.000đồng (Mười hai triệu hai trăm ngàn đồng) và bị cáo Lê Anh Thắng có hành vi giúp sức cho bị cáo Trần Quốc Bảo đánh bạc cùng với các con bạc khác. Như vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
