Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 205/2024/HS-ST

Ngày: 15-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Thùy Trang

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Nguyễn Thị Thuần – Giáo viên hưu trí
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Liên – Cán bộ hưu trí

- Thư ký phiên toà: Ông Triệu Việt Anh là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Lý - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 385/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 12 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 927/2024/HSST-QĐXX ngày 10/7/2024 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Đại V, sinh ngày 09/7/2004; Nơi sinh: Tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Thường trú: 7 X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 08/12; Con ông Nguyễn Phát Đ, sinh năm 1984 và mẹ Trần Thị Mỹ P; Vợ con chưa có.

Tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 27/01/2021, bị Công an P1, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, bị can chưa thi hành nộp phạt.

Nhân thân: Ngày 06/8/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B khởi tố về tội “ Gây rối trật tự công cộng”; Ngày 18/01/2024 Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử 05 năm 06 tháng tù về tội “cướp giật tài sản”. Đang bị giam tại trại giam P2.

Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú, ngày 06/8/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B khởi tố về tội “ Gây rối trật tự công cộng” và ra lệnh bắt tạm giam ngày 14/4/2023 (có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).

Bị cáo Nguyễn Đại V có đơn không yêu cầu luật sư bào chữa cho bị cáo.

2. Nguyễn Phát Đ, sinh năm 1987; Nơi sinh: Tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Thường trú: 7 X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Không nơi cư trú ổn định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Xây dựng; Trình độ học vấn: 07/12; Con ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1956 và bà Phan Thị H1, sinh năm 1953; Vợ con: Trần Thị Mỹ P; có 03 con lớn nhất sinh năm 2004 và nhỏ nhất sinh năm 2013.

Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).

Bị hại:

Trần Bảo T, sinh ngày 16/3/2006.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Võ Thị Hồng T1 và ông Trần Thanh H2.

Cùng địa chỉ: S, Lô A, Cư xá T, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa).

Trần Bảo T không yêu cầu luật sư tham gia bảo vệ quyền lợi cho bị hại.

2.2 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Công Ty TNHH Vận Tải Quang Trung

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm: 1986

Địa chỉ: 2 Quốc lộ A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt tại phiên tòa).

Ông Nguyễn Văn L, sinh năm: 1986

Địa chỉ: 2 Quốc lộ A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt tại phiên tòa).

Ông Phan Văn H3, sinh năm: 1958

Địa chỉ: A N, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 05 giờ 30 phút ngày 15/4/2022, Nguyễn Phát Đ điều khiển xe mô tô biển số 59N1-012.22 chở con trai tên Nguyễn Đại V (sinh ngày 09/7/2004) đi xin việc. Khi đến khu vực chùa K thuộc Quốc Lộ A, phường A, Quận A, Đ nhận điện thoại liên quan đến công việc cần đi giải quyết. Thấy vậy, V nói với Đ cho V mượn xe để tiếp tục đi xin việc thì Đại đồng ý giao xe cho V, còn Đ bắt xe G đi giải quyết công việc. Sau khi được Đ giao xe, V điều khiển đến Cư Xá T, quận B đón Trần Bảo T (sinh ngày: 16/3/2006) đi cùng với V. Sau khi phỏng vấn xin việc xong, V điều khiển xe 59N1-012.22 chở Trân lưu thông trên đường Q, hướng từ Tô Ngọc V1 về cầu vượt N để về nhà. Khi đến trước địa chỉ số A, Quốc lộ A, phường T, Quận A, V điều khiển xe sang bên trái để vượt xe ô tô tải (không rõ biển số) đang đi phía trước cùng chiều. Do kém quan sát nên xe của V để xe mô tô đụng vào đầu dãy phân cách phân chia phần đường ô tô và phần đường hỗn hợp làm Trân ngã qua phần đường ô tô và va chạm với xe ô tô tải biển số 29C-069.58 do Nguyễn Văn L điều khiển lưu thông bên trái cùng chiều (bút lục 77-97, 224-236).

Kết luận giám định pháp y về thương tích số 3051/C09B ngày 09/6/2022 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của em Trần Bảo T là 86% (bút lục 57-58).

Kết luận giám định số 3410/KL-KTHS ngày 15 tháng 6 năm 2022 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh, xác định (bút lục 50):

  • Cơ chế hình thành dấu vết trên xe ôtô biển số 29C-069.58 và xe môtô biển số 59N1 - 012.22:
    • Không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe ôtô biển số 29C-069.58 và xe môtô biển số 59N1-012.22.
    • Các dấu vết trượt xước các chi tiết bên trái xe môtô biển số 59N1-012.22: cánh yếm, đầu tay lái, đầu tay phanh, ốp sàn để chân, đầu cần khởi động, tay nâng sau yên có chiều từ dưới lên trên phù hợp va chạm với mặt đường.
    • Các dấu vết trượt xước, bám đất và chất màu đỏ, gãy vỡ, cong biến dạng các chi tiết phía trước bên phải và bên phải xe môtô biển số 59N1-012.22: lốp và vành bánh trước, nhún trước, trục trước, ốp nhựa phía trước đầu xe, đầu tay cầm lái, cánh yếm chắn gió, ốp sàn để chân, ốp nhựa trên sàn để chân, ốp nhựa thân xe, yên xe, vành và lốp bánh sau có chiều từ trước về sau; dấu vết trên bánh xe có chiều từ mặt lăn vào tâm bánh và ngược chiều quay tiến của bánh xe phù hợp va chạm với trụ bê tông cố định đầu dãy phân cách giữa làn ôtô và làn hỗn hợp theo hướng đường T đi cầu vượt N.
    • Dấu vết trượt bám chất màu đen dạng vân vải mặt ngoài cửa lên xuống bên phải ca bin và góc dưới phía trước thùng xe ôtô biển số 29C-069.58 có chiều từ trước về sau, từ trên xuống dưới phù hợp va chạm với nạn nhân.
  • Xe ôtô biển số 29C-069.58 và xe môtô biển số 59N1-012.22 có hướng chuyển động cùng chiều và lưu thông trên làn thứ 3 Quốc lộ A (tính từ lề đường bên phải) theo hướng đường T đi cầu vượt N.
  • Vật chứng (bút lục 34, 35).
    • 01 xe mô tô hiệu Suzuki biển số 59N1-012.22. Qua xác minh, xe trên do ông Phan Văn H3 đứng tên chủ sở hữu. Ông H3 trình bày đứng tên dùm cho một người đàn ông tên H4, hiện tại không xác định được nơi cư trú và thông tin của H4. Sau đó, H4 sử dụng được khoảng 02- 03 năm thì bán lại cho người khác. Cơ quan điều tra đã đăng tin tìm chủ sở hữu thực tế của xe môtô này trên phương tiện thông tin đại chúng.
    • 01 xe ô tô tải biển số 29C-069.58. Cơ quan điều tra đã trả lại cho Nguyễn Văn L (bút lục 201).
  • Dân sự: Bị cáo Nguyễn Phát Đ cha của Nguyễn Đại V đã bồi thường cho Trần Bảo T số tiền 100.000.000 đồng, gia đình T yêu cầu bồi thường thêm 200.000.000 đồng nhưng ông Đ không có khả năng bồi thường. Tại bản tự khai ngày 02 tháng 01 năm 2024 Trần Bảo T và gia đình không yêu cầu bị cáo Đ phải bồi thường thêm số tiền 200.000.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số: 48/CTr -VKS ngày 14 tháng 02 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Đại V về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Nguyễn Phát Đ về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị:

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, Điều 51, Điều 38, Điều 90, 91, 101 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đại V từ 03 (năm) đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 264; điểm i, s khoản 1, Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Phát Đại t 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng

Xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Đại V, đại diện là Nguyễn Phát Đ có đơn không yêu cầu người bào chữa cho bị cáo V.

Bị cáo Nguyễn Phát Đ khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và con của bị cáo là bị cáo V.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dụng vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt của đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử nên chấp nhận xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Phát ĐNguyễn Đại V tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà phù hợp với lời khai của người làm chứng, bản ảnh xác định hiện trường vụ tai nạn giao thông, tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, có đủ cơ sở xác định: Ngày 15/4/2022, Nguyễn Đại V chưa có giấy phép lái xe theo quy định điều khiển xe mô tô biển số 59N1-012.00 chở phía sau Trần Bảo T lưu thông trên đường Q, phường T, Quận A, hướng từ đường T đi cầu vượt N. Do không làm chủ được tốc độ và tay lái nên V đã để phương tiện đụng vào đầu dãy phân cách bằng bê tông phân chia giữa làn đường ô tô và làn đường hỗn hợp của đường Q, làm Trần Bảo T ngã sang làn đường ô tô bị thương tích 86%, vi phạm điểm e khoản 3 Điều 30 và điểm b khoản 1 Điều 60 Luật Giao thông đường bộ. Hành vi của Nguyễn Đại V đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015.

Nguyễn Phát Đ biết Nguyễn Đại V chưa đủ tuổi điều khiển xe mô tô có dung tích xi-lanh từ 50 cm³ trở lên nhưng vẫn giao xe mô tô biển số 59N1-012.22 cho V điều khiển tham gia giao thông, dẫn đến tai nạn gây thương tích cho người khác, vi phạm khoản 10 Điều 8 Luật Giao thông đường bộ. Hành vi của Nguyễn Phát Đ đã phạm vào tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định điểm b khoản 1 Điều 264 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Nguyễn Văn L điều khiển xe ô tô tải biển số 29C-069.58 lưu thông đúng quy định nên không có lỗi.

[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Đối với bị cáo Nguyễn Đại V, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây thiệt hại đến sức khỏe của người khác cần xét xử nghiêm cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cần xem xét cho bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, khả năng nhận thức còn hạn chế, bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại, nên cần áp dụng các quy định về người dưới 18 tuổi phạm tội, theo các Điều 90, 91 và khoản 2 Điều 101 của Bộ luật hình sự, và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Đối với bị cáo Nguyễn Phát Đ có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy xử phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ răn đe giáo dục bị cáo.

[5] Xử lý vật chứng:

  • Giao cho cơ quan thi hành án tiếp tục đăng báo trong thời gian 03 tháng đối với 01 xe mô tô hiệu Suzuki biển số 59N1-012.22. Sau thời gian 03 tháng kể từ ngày đăng thông báo mà không có cá nhân, tổ chức nào đến nhận là chủ sở hữu thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Ghi nhận cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q đã trả lại 01 xe ô tô tải biển số 29C-069.58 cho Nguyễn Văn L (bút lục 201).

[6] Trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Phát Đ cha của bị cáo Nguyễn Đại V đã bồi thường cho Trần Bảo T số tiền 100.000.000 đồng, gia đình T yêu cầu bồi thường thêm 200.000.000 đồng nhưng ông Đ không có khả năng bồi thường. Tại bản tự khai ngày 02 tháng 01 năm 2024 Trần Bảo T và gia đình không yêu cầu bị cáo Đ phải bồi thường thêm số tiền 200.000.000 đồng.

[7] Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh kinh tế của các bị cáo khó khăn nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về án phí hình sự sơ thẩm các bị cáo phải nộp theo quy định của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, Điều 51; Điều 56, Điều 38, 90, 91, 101 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đại V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Tổng hợp hình phạt của bản án số 24/2024/HS-ST ngày 18 tháng 01 năm 2024 cảu Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức xử phạt Nguyễn Đại V 05 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Buộc bị cáo Nguyễn Đại V phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 08(tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/4/2023.

[2] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 264; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phát Đ: 20.000.000 (hai mươi triệu đồng) về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.

[3] Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

Giao cho cơ quan thi hành án tiếp tục đăng báo trong thời gian 03 tháng đối với 01 xe mô tô hiệu Suzuki biển số 59N1-012.22. Sau thời gian 03 tháng kể từ ngày đăng thông báo mà không có cá nhân, tổ chức nào đến nhận là chủ sở hữu thì tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Theo Quyết định chuyển vật chứng số 36/QĐ-VKS, ngày 14/02/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

[4] Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

Án phí hình sự sơ thẩm mỗi bị cáo phải nộp là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

[5] Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND TPHCM (1b);
  • - VKSND TPHCM (1b);
  • - VKSND Quận 12 (1b);
  • - Phòng PC53 CА ТР. НСМ;
  • - Cơ quan CSĐT CA Quận 12 (1b);
  • - Cơ quan THAHS Quận 12 (1b);
  • - Sở Tư pháp TPHCM (1b);
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo, đại diện bị hại (2b);
  • - Bộ phận THA hình sự (4b);
  • - Lưu (vt, hs) (8b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Triệu Thị Thùy Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 205/2024/HS-ST ngày 15/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 205/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ và Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger