Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG THÀNH

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 205/2024/HS-ST.

Ngày: 06-9-2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Phan Văn Trường

+ Bà Nguyễn Thị Ngọc Đẹp

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Linh Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Huyền – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 179/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 202/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Huỳnh Thị T; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nữ; Sinh ngày 01 tháng 01 năm 1950 tại Đồng Nai; Nơi thường trú và nơi sinh sống hiện nay: tổ F, ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 02/12; Họ và tên cha: Huỳnh Văn S, sinh năm không rõ (đã chết); H và tên mẹ: Trương Thị T1, sinh năm không rõ (đã chết); Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Họ và tên chồng: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1957; Bị cáo có 10 người con, lớn nhất sinh năm 1968, nhỏ nhất sinh năm 1991.

Tiền án, tiền sự : Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

- Bị hại: Anh Lê Nguyễn Tuấn A, sinh năm 2000.

Người đại diện theo ủy quyền của bị hại: bà Nguyễn Thị Hồng H1, sinh năm 1973

Cùng địa chỉ: Tổ G, Ấp L, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

(Bị cáo, bị hại và đại diện theo ủy quyền của bị hại có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 07 giờ 00 ngày 07/6/2020, tại lối mở sang đường thuộc km 34+600, Quốc lộ E, xã P, huyện L, Huỳnh Thị T điều khiển xe gắn máy biển số 50AC-8841 (loại xe 02 bánh dung tích xi lanh 49cm3) lưu thông ngược chiều trên làn đường số 4 đường Q hướng Vũng Tàu đi B rồi chuyển hướng sang phải để sang đường, đến làn đường số 2 (làn đường dành cho xe ô tô) thì va chạm với xe mô tô biển số 60C1-735.33 do anh Lê Nguyễn Tuấn A điều khiển lưu thông từ lề phải hướng B - Vũng Tàu chuyển hướng sang đường để đi quay về hướng Vũng Tàu - B (đã lưu thông đến làn số 2 của hướng B). Sau tai nạn, Lê Nguyễn Tuấn A và Huỳnh Thị T đều té ngã xuống đường bị thương tích được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện Chợ Rẫy Thành phố H.

- Tại Sơ đồ hiện trường và biên bản khám nghiệm hiện trường tai nạn giao thông thể hiện:

- Đoạn đương nơi xảy ra tai nạn là đương thẳng, trải nhưa phẳng, có 02 chiều lưu thông, có dải phân cách cưng ở giưa phân chia chiều đương.

- Chiều đương nơi xảy ra tai nạn là chiều hương Vũng Tàu đi B, có 04 làn đương được đánh dấu theo thư tư tư 01 đến 04, mặt đương rộng lần lượt là 3,50m, 3,50m, 3,50m, 4,00m. Đoạn đường trải nhựa phẳng.

Ghi nhận việc đánh số thư tư theo số tư nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:

  • - (1) Xe gắn máy biển số 50AC-8841
  • - (2) Vết cày xe mô tô biển số 60C1-735.33
  • - (3) Xe mô tô biển số 60C1-735.33
  • - (4) Vết máu nạn nhân

- Lấy mép đương bên phải theo hương lưu thông Vũng Tàu đi B làm mép đương chuẩn.

- Lấy trụ điện số T30/17 nằm ở giữa dải phân cách cứng làm điểm mốc cố định.

Mô tả theo số thư tư vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết: Sau tai nạn tại hiện trương còn để lại dấu vết, vị trí phương tiện như sau:

- (1) Xe gắn máy biển số 50AC-8841. Sau tai nạn xe nằm ngã sang phải, đầu xe hướng về Vũng Tàu, đuôi xe hướng về B. Đo từ tâm trục bánh trước đến mép đường chuẩn là 8,80m. Đo từ tâm trục bánh sau đến mép đường chuẩn là 9,40m. Đo từ điểm mốc cố định đến tâm trục bánh trước xe số (1) theo hướng Vũng Tàu đi B là 13,50m. Đo từ tâm trục bánh sau đến tâm trục bánh sau xe số (3) là 2,60m.

- (2) Vết cày xe mô tô biển số 60C1-735.33: Sau tai nạn để lại vết cày trên mặt đường theo hướng Vũng Tàu đi B. Đo từ điểm đầu vết cày đến tâm trục bánh sau xe số (3) là 1,90m. Đo từ điểm đầu vết cày tới mép đường chuẩn là 8,00m. Đo tư điêm đầu vết cày đến mép đương chuẩn là 4,40m.

- (3) Xe mô tô biển số 60C1-735.33: Sau tai nạn xe nằm ngã sang phải, đầu xe hướng về B, đuôi xe hướng về Vũng Tàu. Đo từ tâm trục bánh trước đến mép đường chuẩn là 9,70m. Đo từ tâm trục bánh sau đến mép đường chuẩn là 9,30m.

- (4) Vết máu nạn nhân: Sau tai nạn để lại vết máu trên mặt đường tại làn số 2. Đo từ tâm vết máu đến mép đường chuẩn là 8,00m (Các bút lục số 13-15, 45-47).

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0907/TgT/2020 ngày 19/10/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, đối với thương tích của Lê Nguyễn Tuấn A, kết luận:

- Dấu hiệu chính qua giám định:

  • + Tổn thương dập não thái dương phải kích thước 03cm x 7,3cm (áp dụng Chương 1, mục III.3). Tỷ lệ: 31%.
  • + Tổn thương khuyết sọ đáy chắc bán cầu phải kích thước 9,5cm x 12cm (áp dụng Chương 1, mục I.5.3). Tỷ lệ: 35%
  • + Tổn thương máu tụ dưới màng cứng vùng bán cầu phải đã điều trị hiện không còn máu tụ (áp dụng Chương 1, mục III phần ghi chú). Tỷ lệ: 08%.
  • + Tổn thương nứt sọ đỉnh phải 03cm điện não đồ có ổ tổn thương vùng đỉnh phải tương ứng (áp dụng Chương 1, mục I.2.3). Tỷ lệ: 16%.
  • + Sẹo mổ bán cầu phải kích thước 28cm x 0,3cm (áp dụng Chương 8, mục I.2). Tỷ lệ: 02%
  • + Sẹo mổ dẫn lưu vùng đỉnh kích thước 01cm x 0,6cm (áp dụng Chương 8, mục I.2). Tỷ lệ: 02%.
  • + Sẹo mu bàn chân trái kích thước 06cm x 0,4cm (áp dụng Chương 8, mục I.2. Tỷ lệ: 02%.

- Kết luận:

Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019, của Bộ trưởng Bộ Y Quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định Pháp y, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Lê Nguyễn Tuấn A – 2000 áp dụng theo phương pháp cộng tại thông tư là: 67% (Sáu mươi bảy phần trăm).

- Kết luận khác:

+ Vật gây thương tích: Vật tày (Bút lục số 54-56)

Tại Bản kết luận giám định số 499/C09B ngày 21/01/2021 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

1. Dấu vết trượt, xước gãy vỡ, biến dạng các chi tiết phía trước bên trái xe gắn máy biển số 50AC-8841 (đèn chuyển hướng, để chân trước và ốp lốc máy) có chiều từ trước về sau phù hợp dấu vết trượt xước, gãy vỡ các chi tiết phía trước bên trái xe mô tô biển số 60C1-735.33 (ốp đầu xe, bánh xe trước và phía dưới giảm xóc trước) có chiều từ trước về sau, dấu vết trên bánh xe có chiều từ mặt lăn vào tâm bánh.

2. Trên cơ sở cơ chế hình thành dấu vết và các tài liệu kèm theo xác định:

2.1. Phía trước bên trái xe gắn máy biển số 50AC-8841 và phía trước bên trái xe mô tô biển số 60C1-735.33 là vị trí va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện.

2.2. Khi va chạm xe mô tô biển số 60C1-735.33 lưu thông trên Quốc lộ E hướng Vũng Tàu đi B, xe gắn máy biển số 50AC-8841 lưu thông theo chiều ngược lại.

3. Ngoài các dấu vết trên, không phát hiện thấy dấu vết va chạm giữa xe gắn máy biển số 50AC-8841 và xe mô tô biển số 60C1-735.33 với các phương tiện khác.

Đối với thương tích của bị cáo Huỳnh Thị T trong vụ tai nạn giao thông trên: Sau tai nạn Huỳnh Thị T bị ngã xuống đường, bị tổn thương dập não và tụ máu dưới màng cứng vùng thái dương chẩm phải, tụ máu dọc liềm đại não và lều tiểu não, nứt xương đỉnh hai bên, gãy đốt xa ngón 1 bàn tay trái. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tách ra để kiểm tra, xác minh bằng một vụ việc riêng (Theo Quyết định tách hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự số: 0452/QĐ – ĐTTH ngày 17/6/2024). Hiện Cơ quan điều tra đã ra quyết định trưng cầu giám định đối với Huỳnh Thị T để làm căn cứ xử lý giải quyết. Hiện đã có kết quả giám định.

Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 0452/KLTTCT-TTPYĐN ngày 02/8/2024 của Trung tâm P, đối với thương tích của bị cáo Huỳnh Thị T, kết luận:

  • - Tụ máu ngoài màng cứng đã điều trị không còn hình ảnh máu tụ. Tỷ lệ: 05%.
  • - Tụ máu dưới màng cứng đã điều trị hiện không còn hình ảnh máu tụ. Tỷ lệ: 08%.
  • - Tổn thương não vùng thái dương phải kích thước 1,2x5,6cm và chẩm phải kích thước 1,6x1,6cm. Tỷ lệ: 26%.
  • - Gãy thành xoang hàm phải không di lệch. Tỷ lệ: 07%
  • - Gãy xương gò má trái không ảnh hưởng chức năng. Tỷ lệ 08%
  • - Tổn thương dập phổi hai bên đã điều trị nội khoa: Tỷ lệ 10%
  • - Gãy đốt 2 ngón I bàn tay trái. Tỷ lệ 02%.

Căn cứ thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019, của Bộ trưởng Bộ Y Quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Huỳnh Thị T – 1950 tại thời điểm giám định là: 51% (Năm mươi mốt phần trăm).

Kết luận khác:

- Vật gây thương tích: Đa chấn thương do tai nạn giao thông.

Về việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

- 01 xe mô tô biển số 50AC-8841 tạm giữ của bị cáo Huỳnh Thị T. Theo lời khai bị cáo T khai mua xe mô tô trên tại 01 cửa hàng mua bán phế liệu ở phường M, thị xã P, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu (không rõ tên cửa hàng) vào khoảng năm 2014. Qúa trình xác minh xác định xe mô tô trên do ông Lê Thanh T2 ngụ tại 3 N, phường Đ, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh là chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành xác minh nhưng không có người tên Lê Thanh T2 đăng ký thường trú tại địa chỉ trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiếp tục tạm giữ, xác minh xử lý sau.

- 01 xe mô tô biển số 60C1-735.33 tạm giữ của Lê Nguyễn Tuấn A do bà Nguyễn Thị Hồng H1 (mẹ ruột Tuấn A) là chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại cho bà H1.

Tại bản cáo trạng số 180/CT-VKSLT ngày 12/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Huỳnh Thị T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Huỳnh Thị T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo tại điểm b, o, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Thị T mức án từ 14 (mười bốn) đến 16 (mười sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 28 đến 32 tháng.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị buộc bị cáo T bồi thường theo quy định pháp luật.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Huỳnh Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ vụ tai nạn giao thông, dấu vết các phương tiện liên quan cùng các tài liệu đã thu thập được tại hồ sơ vụ án như phần nội dung tóm tắt vụ án đã nêu. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có cơ sở kết luận: Vào lúc 07 giờ 00 ngày 07/6/2020, tại lối mở sang đường thuộc km 34+600, Quốc lộ E, xã P, huyện L, bị cáo Huỳnh Thị T điều khiển xe gắn máy biển số 50AC-8841 (loại xe 02 bánh dung tích xi lanh 49cm3) lưu thông ngược chiều trên làn đường số 4 đường Q của hướng Vũng Tàu đi B rồi chuyển hướng sang phải để sang đường, đến làn đường số 2 (làn đường dành cho xe ô tô) thì va chạm với xe mô tô biển số 60C1-735.33 do Lê Nguyễn Tuấn A điều khiển lưu thông từ lề phải hướng B - Vũng Tàu chuyển hướng sang đường để đi về hướng Vũng Tàu - B (đã lưu thông đến làn số 2 hướng B). Hậu quả, Lê Nguyễn Tuấn A bị thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 67%. Hành vi của bị cáo Huỳnh Thị T đã vi phạm khoản 1 Điều 09 và khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ gây hậu quả tổn hại cho sức khoẻ của 01 người mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên. Vì vậy, hành vi của bị cáo Huỳnh Thị T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành truy tố bị cáo là có căn cứ.

[2] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi vô ý nhưng gây hậu quả nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội và xâm phạm trật tự an toàn công cộng, gây thiệt hại về sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng mức độ, hậu quả mà bị cáo đã gây ra. Tuy nhiên, xét bị hại Tuấn A khi tham gia giao thông trong vụ án này cũng có phần lỗi là chuyển hướng lưu thông không đúng làn đường quy định đã vi phạm khoản 1 Điều 09 Luật giao thông đường bộ, một phần gây ra hậu quả tổn hại cho sức khoẻ của chính mình và cả bị cáo. Mặt khác, xét bị cáo T sau tai nạn cũng bị thương tích nặng, theo Kết luận giám định số 0452/KLTTCT-TTPYĐN ngày 02 tháng 8 năm 2024 của Trung tâm Pháp y sở Y1 kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị cáo Tiếng là 51%. Ngoài ra bị cáo T có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, là người trên 70 tuổi, mặc dù bản thân bị cáo và gia đình thuộc diện có hoàn cảnh kinh tế khó khăn (có xác nhận của địa phương xã P) nhưng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, bị cáo đã vận động người thân hỗ trợ nộp số tiền khắc phục hậu quả cho bị hại là 40.000.000 đồng, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xử phạt bị cáo mức hình phạt tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo là tương xứng và phù hợp.

[3] Đối với hành vi của bị hại Tuấn A gây ra thương tích cho bị cáo, Cơ quan Điều tra có quyết định tách hồ sơ vụ án để điều tra, giải quyết bằng một vụ việc khác là phù hợp quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, o và s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại yêu cầu các khoản sau:

  • - Chi phi điều trị thương tích ban đầu: 40.338.000 đồng (làm tròn).
  • - Chi phí chăm sóc thời gian điều trị tại bệnh viện và tại nhà 04 năm x 12 x 1.800.000 đồng/ tháng = 86.400.000 đồng.
  • - Thiệt hại do tổn thất tinh thần 50 lần mức lương cơ sở: 50 x 1.800.000 đồng = 90.000.000 đồng.

Tổng cộng: 216.738.000 đồng. Ngoài ra sau khi Tòa xét xử yêu cầu bà T chu cấp mỗi tháng 1.800.000 đồng do không còn khả năng lao động.

Xét như phần nhận định trên của Hội đồng xét xử và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát. Trong vụ án này việc gây ra tổn hại thương tích cho bị hại cũng như bị cáo cũng có phần lỗi của bị hại. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử nhận định lỗi chính là do bị cáo nên Hội đồng xét xử đánh giá mức độ lỗi của bị cáo là 70%, lỗi của bị hại là 30% và căn cứ quy định tại Điều 584, 587 và Điều 590 Bộ luật dân sự để làm căn cứ xem xét trách nhiệm bồi thường theo quy định.

1/ Về mức yêu cầu bồi thường thương tích của bị hại đối với số tiền: 40.338.000 đồng. Xét phù hợp chứng từ hóa đơn điều trị nên chấp nhận.

2/ Về yêu cầu bồi thường chi phí chăm sóc thời gian điều trị tại bệnh viện và tại nhà 04 năm x 12 x 1.800.000 đồng/ tháng = 86.400.000 đồng. Xét theo kết quả xác minh tại Bệnh viện Đ1 căn cứ trên chứng từ thương tích của bị hại thì thời gian điều trị tại bệnh viện là 10 ngày và thời gian chăm sóc tại nhà là 80 ngày (tổng cộng là 90 ngày = 3 tháng) và phải có 01 người chăm sóc. Vì vậy, việc bị hại yêu cầu như trên là chưa phù hợp và cũng không cung cấp được mức thu nhập của người chăm sóc cho bị hại. Nên Hội đồng xét xử lấy mức thu nhập của một người chăm sóc theo mức lương của người không có thu nhập ổn định theo quy định pháp luật tại địa phương là 5.000.000 đồng/ tháng để làm căn cứ bồi thường như sau:

- Chi phí chăm sóc 3 tháng x 5.000.000 đồng = 15.000.000 đồng

3/ Về yêu cầu bồi thường thiệt hại do tổn thất tinh thần 50 lần mức lương cơ sở: 50 x 1.800.000 đồng = 90.000.000 đồng. Xét bị hại yêu cầu mức bồi thường tối đa theo quy định tại Điều 590 Bộ luật dân sự là chưa phù hợp. Vì vây, căn cứ tính chất, mức độ hậu quả thiệt hại của bị hại, Hội đồng xét xử chấp nhận mức bồi thường về tổ thất tinh thần cho bị hại là 30 lần mức lương cơ sở theo quy định hiện nay là 2.340.000 đồng là phù hợp. Cụ thể như sau:

- 30 tháng x 2.340.000 đồng = 70.200.000 đồng.

- Tổng yêu cầu bồi thường thiệt hại được Hội đồng xét xử chấp nhận là: 125.538.000 đồng (40.338.000 đ + 15.000.000 đồng + 70.200.000 đ). Tuy nhiên, như phân tích trên lỗi gây ra thiệt hại của bị cáo là 70% nên buộc bị cáo bồi thường thiệt hại theo mức độ lỗi là 70%/ tổng số tiền được bồi thường cụ thể: 125.538.000 đồng x 70% = 87.876.600 đồng.

Như vậy, buộc bị cáo Huỳnh Thị T phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại Lê Nguyễn Tuấn A tổng số tiền là: 87.876.600 đồng (T3 mươi bảy triệu tám trăm bảy mươi sáu ngàn sáu trăm đồng). Bị cáo đã nộp bồi thường số tiền 40.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành, bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường số tiền cho bị hại là: 47.876.600 đồng (Bốn mươi bảy triệu tám trăm bảy mươi sáu ngàn sáu trăm đồng).

[6] Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- 01 xe mô tô biển số 50AC-8841 tạm giữ của Huỳnh Thị T, Cơ quan điều tra đã xác minh nhưng chưa có thông tin chủ sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiếp tục tạm giữ, xác minh xử lý sau.

- 01 xe mô tô biển số 60C1-735.33 tạm giữ của Lê Nguyễn Tuấn A Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã trả lại cho bà H1 (mẹ bị hại) là hợp pháp nên không xem xét.

[7] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều hợp pháp, đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuy nhiên, thời hạn điều tra còn kéo dài đề nghị rút kinh nghiệm. Tại phiên Tòa, bị cáo, bị hại không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo, do bị cáo là người cao tuổi và có đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, o, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65 và Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 9, 15 Luật giao thông đường bộ; Điều 584, 587, 590 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự,

Nghị quyết số 02/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

1/ Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị T 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tính kể từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Huỳnh Thị T về Ủy ban nhân dân xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2/ Về xử lý vật chứng:

- 01 xe mô tô biển số 50AC-8841 tạm giữ của Huỳnh Thị T do chưa tìm được thông tin của chủ sở hữu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiếp tục tạm giữ, xác minh xử lý sau.

3/ Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Huỳnh Thị T phải bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại Lê Nguyễn Tuấn A tổng số tiền là: 87.876.600 đồng (T3 mươi bảy triệu tám trăm bảy mươi sáu ngàn sáu trăm đồng). Bị cáo đã nộp bồi thường số tiền 40.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành theo biên lai số: 0006545 ngày 22/8/2024, bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường số tiền cho bị hại là: 47.876.600 đồng (Bốn mươi bảy triệu tám trăm bảy mươi sáu ngàn sáu trăm đồng).

Kể từ ngày người được yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải chịu mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4/ Về án phí: Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo, do bị cáo là người cao tuổi và có đơn.

5/ Bị cáo Huỳnh Thị T, bị hại Lê Nguyễn Tuấn A có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai (1);
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai (1);
  • - VKSND H. Long Thành (1);
  • - Công an H. Long Thành (2);
  • - Chi cục THADS H. Long Thành (1);
  • - Bị cáo (1); Bị hại (01);
  • - UBND xã Phước Thái, H. Long Thành (1);
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, Văn phòng (6).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Hà

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 205/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 205/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Thị Tiếng - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger