Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 205/2024/DS-ST

Ngày: 05 – 9 – 2024

V/v: “Tranh chấp hụi”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Như.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Minh Út.

Ông Vũ Minh Hoàng.

– Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Tú là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

– Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Võ Thuý Nhị - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 14 tháng 8 và ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 188/2024/TLST-DS ngày 06 tháng 5 năm 2024 về: “Tranh chấp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 307/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

– Nguyên đơn: Ông Hồng Hoàng E, Sinh năm: 1963.

Người đại diện theo uỷ quyền của ông Hồng Hoàng E là: Ông Hồng Minh N, sinh năm 1992. (Có mặt) (Văn bản uỷ quyền ngày 12/8/2024)

Cùng địa chỉ: Ấp H, xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau.

– Bị đơn:

  1. Ông Hồng Minh B, sinh năm 1970.
  2. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975.

Người đại diện theo uỷ quyền của ông Hồng Minh B là: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975. (Có mặt) (Văn bản uỷ quyền ngày 31/5/2024)

Cùng địa chỉ: Ấp H, xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau.

  1. Ông Trần Quốc L, sinh năm 1995.
  2. Bà Hồng Thị N1, sinh năm 1992.

Người đại diện theo uỷ quyền của ông Trần Quốc L là: Bà Hồng Thị N1, sinh năm 1992.(Vắng mặt khi tuyên án) (Văn bản uỷ quyền ngày 12/6/2024)

Cùng địa chỉ: Ấp B, xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 06/5/2024 và Biên bản hoà giải ngày 12/6/2024 nguyên đơn ông Hồng Hoàng E trình bày: Ông có tham gia hụi do ông Hồng Minh B và bà Nguyễn Thị H làm chủ cụ thể như sau:

  • Hụi 3.000.000 đồng, mở ngày 30/7/2021 âm lịch, tháng khui 02 lần vào ngày 15 và 30 hàng tháng, gồm có 45 chân, ông tham gia 01 phần (đứng tên hụi viên là 2 Em, tại số thứ tự 20). Đến ngày 15/11/2021 âm lịch, ông Minh B và bà H bán cho ông thêm 01 phần hụi trong dây hụi này. Mua với giá 94.400.000 đồng. Phần hụi mua, ông trúng thăm hốt hụi vào ngày 15/4/2023 âm lịch với số tiền được lĩnh là 131.370.000 đồng. Phần hụi tham gia, ông hốt hụi vào ngày 30/4/2023 âm lịch với số tiền được lĩnh 127.800.000 đồng.
  • Hụi 1.000.000 đồng, mở ngày 15/11/2021 âm lịch, tháng khui 02 lần vào ngày 15 và 30 hàng tháng, gồm 44 chân, ông tham gia 01 phần (đứng tên hụi viên là 2 Em, tại số thứ tự 34). Đến ngày 15/11/2021 âm lịch, ông B và bà H bán cho ông thêm 01 phần hụi trong dây hụi này. Mua với giá 34.170.000 đồng. Phần hụi mua ông trúng thăm hốt hụi vào ngày 30/5/2023 âm lịch với số tiền được lĩnh là 41.680.000 đồng. Phần hụi tham gia, ông trúng thăm hốt hụi vào ngày 15/6/2023 âm lịch với số tiền được lĩnh là 41.400.000 đồng.
  • Hụi 500.000 đồng, mở ngày 15/01/2022 âm lịch, hụi khui 02 lần vào ngày 15 và 30 hàng tháng, gồm 66 chân, ông tham gia 02 phần (đứng tên hụi viên là 2 Em, tại số T, 37). Đã đóng được 39 kỳ. Đến ngày 30/7/2023 âm lịch, thì ông Minh B và bà H tự ý tuyên bố đình không nói lý do. Dây hụi này thỏa thuận bỏ thăm để nhận tiền 02 phần hụi vào tháng 12/2023 âm lịch và tháng 3/2024 âm lịch, theo hụi mãn: 39 lần x 02 phần x 500.000 đồng = 39.000.000 đồng.

Qua đối trừ ông B và bà H còn nợ hụi ông như sau:

Dây hụi thứ nhất:

Phần hụi mua, số tiền ông được lĩnh là 131.370.000 đồng, đã qua phía ông Minh B và bà H đã giao cho ông được 100.000.000 đồng. Đối trừ số tiền ông chưa góp hụi sống của các dây hụi khác là 2.210.000 đồng. Vậy phần hụi này ông B và bà H còn nợ là 29.160.000 đồng. Phần hụi tham gia, ông được lĩnh 127.800.000 đồng, đã qua phía ông Minh B và bà H đối trừ số tiền ông chưa góp hụi sống của các dây hụi khác là 3.720.000 đồng, còn lại 124.080.000 đồng. Thế nhưng khoản tiền này phía ông B và bà H chưa giao tiền cho ông. Vậy phần hụi này còn nợ 124.080.000 đồng. Tổng cộng 02 phần hụi này, phía ông Minh B và bà H còn nợ 153.240.000 đồng.

Dây hụi thứ hai:

Phần hụi mua, ông được lĩnh 41.680.000 đồng. Đã qua phía ông Minh B và bà H đối trừ số tiền ông chưa góp hụi chết của các dây hụi khác 3.710.000 đồng, còn lại 37.970.000 đồng. Nhưng khoản tiền này phía ông Minh B và bà H chưa giao tiền cho ông. Phần hụi tham gia, ông được lĩnh 41.400.000 đồng. Đã qua phía ông Minh B và bà H đối trừ số tiền ông chưa góp hụi chết của các dây hụi khác là 2.000.000 đồng, còn lại 39.400.000 đồng. Nhưng khoản tiền này phía ông Minh B và bà H chưa giao tiền cho ông. Tổng cộng 02 phần hụi này, phía ông Minh B và bà H còn nợ lại 77.370.000 đồng.

Dây hụi thứ ba:

Phía ông Minh B và bà H còn nợ số tiền 39.000.000 đồng.

Tổng cộng 05 phần hụi này, phía ông Minh B và bà H còn nợ 269.610.000 đồng. Đã qua thì bà N1 và ông L đã trả được 45.000.000 đồng.

Khi chuẩn bị khui hụi thì do bà H trực tiếp đến rủ vợ chồng ông tham gia hụi nên ông mới tham gia chứ nếu vợ chồng bà N1 rủ thì ông đã không tham gia. Quá trình chơi hụi thời gian đầu khui hụi tại nhà bà H và do bà H đứng ra tổ chức việc khui hụi, thời gian sau vợ chồng bà N1 không còn ở chung nhà với bà H nên mới tổ chức khui hụi tại nhà bà N1 do bà N1 chủ trì việc khui hụi. Từ khi khui hụi đến khi đình hụi đều do vợ chồng bà N1 đi gom hụi chứ vợ chồng ông M Ba không đi gom hụi. Sau khi đình hụi ông có đến nhà gặp thì vợ chồng ông M Ba nhưng vợ chồng ông M Ba cố tình tránh mặt, không ra chốt hụi mà giao cho vợ chồng bà N1 đứng ra chịu trách nhiệm nợ tiền hụi nên tại giấy “thiếu tiền hụi ngày 16/3/2024” thì bà N1 và ông L tự đến nhà ông và ghi nội dung chốt hụi và số tiền hụi. Khi đó, do bức xúc vì vợ chồng ông M Ba không trả tiền nên khi vợ chồng bà N1 đến nhà và ghi số tiền hụi còn nợ nên ông đồng ý vì nghĩ là do trong gia đình ông M Ba thoả thuận với nhau. Các lần hốt hụi thì đều do vợ chồng bà N1 giao hụi, vợ chồng ông Minh B không giao hụi lần nào. Khi giao hụi có khi giao tiền trực tiếp cũng có khi là chuyển khoản vào số tài khoản con ông tên Hồng Minh N. Khi hốt hụi thì không giao giấy hốt hụi cho ông mà có chụp hình gửi qua điện thoại cho ông N và có khi trong giấy hốt hụi ghi tên chủ hụi là chủ hụi bà Hồng Thị N1, cũng có giấy hốt hụi chỉ tính toán số tiền chứ không ghi tên chủ hụi. Ông Minh B và bà H biết bà N1 và ông L không có tài sản gì nên cố tình đùn đẩy trách nhiệm để trốn tránh nghĩa vụ trả nợ. Do quá trình chơi hụi thì trong danh sách hụi là do ông Hồng Minh B làm chủ và thời gian sau thì do vợ chồng bà N1 đứng ra khui hụi, gom hụi, giao hụi và chốt hụi.

Do sai sót trong quá trình tính nên trong giấy chốt hụi ngày 16/3/2024 xác định số tiền hụi còn nợ là 245.000.000 đồng nhưng thực tế thời điểm đó chỉ còn nợ 224.610.000 đồng. Đã qua, phía bà N1, ông L có trả 3.000.000 đồng. Nay yêu cầu buộc ông B, bà H và ông L, bà N1 liên đới trả số tiền hụi còn nợ 221.610.000 đồng.

Biên bản hoà giải ngày 12/6/2024 bị đơn ông Hồng Minh B và bà Nguyễn Thị H trình bày:

  • Hụi 3.000.000 đồng, mở ngày 30/7/2021 âm lịch, tháng khui 02 lần vào ngày 15 và 30 hàng tháng, gồm có 45 chân, vợ chồng bà tham gia 02 phần (đứng tên hụi viên là Minh B, tại số T, 22).
  • Hụi 1.000.000 đồng, mở ngày 15/11/2021 âm lịch, tháng khui 02 lần vào ngày 15 và 30 hàng tháng, gồm 44 chân, vợ chồng bà tham gia 01 phần (đứng tên hụi viên là Minh B, tại số T).
  • Hụi 500.000 đồng, mở ngày 15/01/2022 âm lịch, hụi khui 02 lần vào ngày 15 và 30 hàng tháng, gồm 66 chân, vợ chồng bà tham gia 03 phần (đứng tên hụi viên là Minh B, tại số T, 62, 63).

Việc chơi hụi là do bà N1 và ông L làm chủ hụi chứ vợ chồng bà không làm chủ hụi. Do là con trong gia đình nên khi bà tham gia hụi của N1 làm chủ thì bà cũng không nhận danh sách hụi. Trong danh sách có ghi tên chủ hụi là Hồng Minh B, số điện thoại ghi trong danh sách hụi là của bà N1. Tuy nhiên, việc khui hụi, gom hụi, mua bán hụi đều do bà N1 và ông L thực hiện. Ông M Ba không biết trong danh sách hụi ghi tên ông Minh B và cũng không được sự đồng ý của ông M Ba đến khi bà N1 đình hụi các hụi viên đến yêu cầu thanh toán tiền thì ông M Ba mới biết trong danh sách hụi ghi tên ông Minh B. Nhưng khi đó thì ông Minh B cũng không có ý kiến gì nhưng ông M Ba có hỏi bà N1 về việc ghi tên ông Minh B trong danh sách hụi thì bà N1 nói rằng nếu ghi tên bà N1 thì rủ các hụi viên sẽ không tham gia nên ghi tên ông Minh B. Khi đó, ông M Ba có nói với các hụi viên để vợ chồng N1 lo tiền để trả cho các hụi viên. Ông Hoàng E cho rằng vợ chồng bà rủ vợ chồng ông và các hụi viên khác chơi hụi và thời gian đầu do bà H chủ trì việc khui hụi là không có. Do vợ chồng bà N1 trước đây đi làm ở Bình Dương đến năm 2015 thì vợ chồng bà N1 về sống chung với bà đến năm 2022 thì vợ chồng bà N1 mới ra sống riêng. Trong thời gian sống chung thời gian đầu thì bà N1 tổ chức khui hụi tại nhà nhưng vợ chồng bà không đứng ra tổ chức khui hụi mà do bà N1 thực hiện việc khui hụi. Ông M Ba không làm chủ hụi không đứng ra khui hụi cũng như gom hụi lần nào. Sau khi đình hụi thì ông Hoàng E cũng chốt hụi với bà N1, ông L nên xác định ông Hoàng E tham gia giao dịch hụi với bà N1 và ông L. Do đó, bà N1 và ông L có trách nhiệm thanh toán tiền hụi còn nợ cho ông Hoàng E không liên quan đến vợ chồng bà. Vợ chồng bà không đồng ý thanh toán số tiền 221.610.000 đồng cho ông Hoàng E.

Tại Biên bản hoà giải ngày 12/6/2024 bị đơn bà Hồng Thị N1 trình bày: Bà thống nhất với lời trình bày của ông Hoàng E về thời gian mở các dây hụi, số chân hụi và thời gian mua bán hụi. Hụi là do vợ chồng bà làm chủ hụi, khi chuẩn bị mở hụi thì do vợ chồng bà đi rủ các hụi viên tham gia nhưng do lúc đó vợ chồng bà đi làm ở Bình Dương mới về nếu ghi tên vợ chồng bà trong danh sách hụi thì sợ mọi người sẽ không tham gia nên bà mới để tên ông Hồng Minh B trong danh sách hụi. Khi đó, bà cũng không hỏi ý kiến của ông ông M Ba chỉ nghĩ là đề tên cha cho các hụi viên an tâm chứ toàn bộ giao dịch về hụi như khui hụi, gom hụi và giao hụi, mua bán hụi đều do vợ chồng bà thực hiện. Ông Minh B và bà H không đi gom hụi và khui hụi lần nào. Thời gian đầu do là sống chung nhà với cha mẹ nên việc khui hụi là tại nhà cha mẹ và do bà chủ trì việc khui hụi. Thời gian sau vợ chồng có nhà riêng nên khui hụi tại nhà bà. Khi các hụi viên không đóng hụi bà không có khả năng tràn hụi nên ngày 30/7/2023 âm lịch bà tuyên đình hụi. Sau khi đình hụi thì vợ chồng có mời các hụi viên lại chốt hụi và cũng đã làm giấy chốt hụi với ông Hoàng E. Tuy nhiên, do sai sót trong quá trình tính nên trong giấy chốt hụi ngày 16/3/2024 xác định số tiền hụi còn nợ là 245.000.000 đồng nhưng thực tế thời điểm đó chỉ còn nợ 224.610.000 đồng, đã qua bà đã trả 3.000.000 đồng nên nay đồng ý thanh toán cho ông Hoàng E số tiền 221.610.000 đồng.

Tại Biên bản hoà giải ngày 12/6/2024 bị đơn ông Trần Quốc L trình bày: Thống nhất với lời trình bày của bà Hồng Thị N1. Đồng ý thanh toán cho ông Hoàng E số tiền 221.610.000 đồng.

Tại các Biên bản làm việc cùng ngày 12/7/2024 ông Hồng Văn T, bà Nguyễn Thị P, ông Đặng Văn T1, ông Đoàn Văn Đ, ông Nguyễn Văn H1, bà Lưu Thị Q trình bày: Các ông bà đều có tham gia hụi 3.000.000 đồng, mở ngày 30/7/2021 âm lịch, hụi 1.000.000 đồng, mở ngày 15/11/2021, hụi 500.000 đồng, mở ngày 15/01/2022. Các dây hụi trên đều do ông B và bà H làm chủ, khi mở hụi thì do ông Minh B và bà H đến nhà rủ các ông bà tham gia. Thời gian đầu tổ chức khui hụi thì ông Minh B và bà H, bà H trực tiếp mở thăm khi các hụi viên bỏ thăm và ông Minh B có chứng kiến. Thời gian sau mới tổ chức khui hụi tại nhà bà N1. Quá trình giao dịch hụi các ông bà có khi đóng hụi cho ông M Ba cũng có khi đóng hụi cho bà N1 và bà N1 cũng là người giao hụi.

Tại biên bản làm việc ngày 12/7/2024 ông Nguyễn Minh N2 trình bày: Ông có tham gia hụi 3.000.000 đồng, mở ngày 30/7/2021 âm lịch, hụi 1.000.000 đồng, mở ngày 15/11/2021, hụi 500.000 đồng, mở ngày 15/01/2022. Đối với hụi 3.000.000 đồng thì bà H là người đứng ra rủ ông tham gia và tổ chức khui hụi tại nhà bà H được một thời gian, thời gian sau thì khui hụi tại nhà bà N1. Đối với hụi 1.000.000 đồng và hụi 500.000 đồng đều do bà N1 rủ ông tham gia và do bà N1 tổ chức khui hụi, gom hụi, giao hụi. Trong danh sách hụi thể hiện ông M Ba là chủ hụi, tuy nhiên giữa ông và bà N1, ông M Ba không phát sinh tranh chấp nên ông không có ý kiến.

Tại biên bản làm việc ngày 12/7/2024 ông Nguyễn Văn B1 trình bày: Ông có tham gia hụi 1.000.000 đồng, mở ngày 15/11/2021, hụi 500.000 đồng, mở ngày 15/01/2022. Đối với các dây hụi trên thì bà H là người đứng tổ chức khui hụi tại nhà bà H được một thời gian, thời gian sau thì khui hụi tại nhà bà N1. Bà N1 là người giao hụi và tuyên bố đình hụi. Số tiền hụi giữa ông và bà N1, ông M Ba không phát sinh tranh chấp nên ông không có ý kiến.

Tại biên bản xác minh ngày 12/7/2024 Trưởng BND ấp H3 xác định: Ông Hồng Thạch U với ông Hồng Minh B có mối quan hệ cha con.

Tại biên bản xác minh ngày 12/7/2024 Trưởng BND ấp B xác định: Bà Hồng Thị H2 là chị ruột ông Hồng Minh B, ông Võ Văn T2 là cháu gọi ông M Ba là cậu.

Tại biên bản làm việc ngày 16/8/2024 Trưởng BND ấp Bào Chấu và ấp M T3 nơi sinh sống của bà Hồng Thị H2 và bà Đinh Thị T4 xác định: Hiện bà H2 đi làm ăn xa không rõ đi đâu, bà T4 không có mặt tại thời điểm xác minh. Do đó, Toà án không làm việc được với bà H2 và bà T4.

Tại biên bản làm việc ngày 21/8/2024 bà Nguyễn Thị Â trình bày: Quá trình ông Hoàng E tham gia hụi có mua bán với chủ hụi loại hụi 3.000.000 đồng mở ngày 30/7/2021 có mua 01 chân giá 94.400.000 đồng mua ở kỳ thứ 06, hụi 1.000.000 đồng mở ngày 15/11/2021 mua 01 chân giá 34.170.000 đồng mua ở kỳ thứ 01. Khi mua hụi thì do bà đến nhà và đưa tiền cho bà H trực tiếp nhận. Khi đưa tiền thì hai bên không làm biên nhận.

Tại phiên tòa:

  • Người đại theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày: Vẫn giữ quan điểm khởi kiện yêu cầu buộc ông Minh B, bà H và ông L, bà N1 liên đới trả số tiền hụi còn nợ 221.610.000 đồng.
  • Bà H trình bày: Bà và ông M Ba không làm chủ các dây hụi mà ông Hoàng E khởi kiện, việc ghi tên ông M Ba làm chủ hụi là do bà N1 tự ghi không được sự đồng ý của ông Minh B. Việc mở hụi, khui hụi, gom hụi là do bà N1 và ông L thực hiện nên bà N1 và ông L có trách nhiệm thanh toán tiền hụi cho hụi viên. Việc mở hụi không liên quan đến ông bà nên bà và ông M Ba không đồng ý thanh toán.
  • Bà N1 trình bày: Bà và ông L đồng ý thanh toán cho ông Hoàng E số tiền hụi 221.610.000 đồng. Việc mở hụi là do vợ chồng bà làm chủ, khi mở hụi do vợ chồng bà trực tiếp giao dịch với hụi viên không liên quan đến ông Minh B và bà H nên ông Minh B và bà H không có trách nhiệm thanh toán nợ.
  • Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Về thủ tục tố tụng trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký và đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hồng Hoàng E buộc ông Hồng Minh B, bà Nguyễn Thị H, ông Trần Quốc L và bà Hồng Thị N1 liên đới nghĩa vụ thanh toán cho ông Hồng Minh B số tiền hụi 221.610.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Ông Hồng Hoàng E khởi kiện ông Hồng Minh B, bà Nguyễn Thị H, ông Trần Quốc L và bà Hồng Thị N1 về tranh chấp hụi nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Hồng Minh B, bà Nguyễn Thị H, ông Trần Quốc L và bà Hồng Thị Ngọc cư t tại xã V, huyện P, tỉnh Cà Mau nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Đối với bà Hồng Thị H2 và bà Đinh Thị T4, Toà án đã tiến hành làm việc trực tiếp tuy nhiên không làm việc được. Xét thấy, việc mua bán hụi giữa bà H2 và bà T4 đã kết thúc nên không cần thiết đưa vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2] Về nội dung: Tại giấy “thiếu tiền hụi ngày 16/3/2024” thể hiện ông Trần Quốc L và bà Hồng Thị Ngọc n ông Hồng Hoàng E số tiền 245.000.000 đồng. Tuy nhiên, ông Hoàng E xác định tại thời điểm chốt hụi thì chủ hụi chỉ còn nợ số tiền 224.610.000 đồng. Đã qua, phía ông L và bà N1 trả 3.000.000 đồng. Nay yêu cầu buộc ông Minh B, bà H và ông L, bà N1 liên đới trả số tiền hụi còn nợ 221.610.000 đồng. Ông L, bà N1 đồng ý thanh toán số tiền 221.610.000 đồng cho ông Hoàng E. Đối với ông Minh B, bà H không đồng ý thanh toán với lý do ông bà không làm chủ các dây hụi mà ông Hoàng E yêu cầu, việc khui hụi, gom hụi và thanh toán tiền hụi đều do ông L và bà N1 thực hiện, không liên quan đến ông bà. Do đó, các đương sự đã thống nhất với nhau về số tiền hụi nhưng không thống nhất về nghĩa vụ thanh toán. Tuy nhiên, theo các danh sách loại hụi 3.000.000 đồng, mở ngày 30/7/2021, hụi 1.000.000 đồng, mở ngày 15/11/2021, hụi 500.000 đồng, mở ngày 15/01/2022 đều ghi chủ hụi tên “Hồng Minh B”. Ông Hoàng E xác định khi mở hụi thì do ông Minh B và bà H rủ các hụi viên tham gia, quá trình chơi hụi thời gian đầu khui hụi tại nhà bà H và do bà H đứng ra tổ chức việc khui hụi, thời gian sau vợ chồng bà N1 không còn ở chung nhà với bà H nên mới tổ chức khui hụi tại nhà bà N1 do bà N1 chủ trì việc khui hụi, các lần hốt hụi đều do bà N1 giao hụi. Sau khi đình hụi bà N1 mời các hụi viên chốt hụi. Lời trình bày của ông Hoàng E phù hợp với lời trình bày của ông Hồng Văn T, bà Nguyễn Thị P, ông Đặng Văn T1, ông Đoàn Văn Đ, ông Nguyễn Văn H1, bà Lưu Thị Q là các hụi viên có tham gia trong các dây hụi trên. Các hụi viên xác định: “Các dây hụi trên đều do ông Minh B và bà H làm chủ, khi mở hụi thì do ông Minh B và bà H đến nhà rủ các ông bà tham gia. Thời gian đầu tổ chức khui hụi tại nhà ông Minh B và bà H, bà H trực tiếp mở thăm khi các hụi viên bỏ thăm và ông Minh B có chứng kiến. Thời gian sau mới tổ chức khui hụi tại nhà bà NI”. Đối với ông Hồng Thạch U, ông Võ Văn T2 với ông Hồng Minh B có mối quan hệ huyết thống nên không tiến hành ghi lời khai để đảm bảo tính khách quan. Các hụi viên được ghi lời khai không có mối quan hệ huyết thống với ông Hoàng E, không mâu thuẫn với ông Minh B, bà H nên không có lý do trình bày bất lợi cho ông Minh B, bà H. Tại đơn xin xác nhận ngày 16/8/2024 do bà H cung cấp có nhiều hụi viên xác định việc mở các dây hụi là do ông L và bà N1 làm chủ, ông Minh B và bà H không làm chủ các dây hụi, tuy nhiên nội dung trong đơn xác nhận không xác nhận bà N1 làm chủ các dây hụi 3.000.000 đồng, mở ngày 30/7/2021 âm lịch, hụi 1.000.000 đồng, mở ngày 15/11/2021, hụi 500.000 đồng, mở ngày 15/01/2022 nên không có căn cứ chấp nhận lời trình bày của ông Minh B và bà H.

Mặc khác, phía ông Hoàng E và các hụi viên đều xác định nếu bà N1 rủ thì các hụi viên sẽ không tham gia vì ông Minh B và bà H đã làm hụi ở địa phương nhiều năm nay và có uy tín nhất định còn bà N1 tại thời điểm mở hụi vợ chồng bà N1 đi làm ở Bình Dương mới về nên nhiều người chưa biết, chưa có uy tín tại địa phương và không có tài sản đảm bảo. Hơn nữa, các danh sách hụi đứng tên chủ hụi là ông Minh B, ông Minh B cho rằng khi bà N1 ghi tên ông làm chủ trong các danh sách hụi ông không biết, đến khi đình hụi thì ông mới biết nhưng ông cũng không có ý kiến. Lời trình bày của ông Minh B là không có cơ sở bởi theo hồ sơ thể hiện khi các dây hụi được mở từ tháng 7/2021 đến khi đình hụi tháng 7/2023 là trong thời gian 02 năm. Đồng thời, trong các dây hụi ông Hoàng E khởi kiện bà H tham gia 06 chân đều ghi tên Minh B là hụi viên và trong danh sách hụi ghi tên Hồng Minh B làm chủ nhưng ông Minh B, bà H không có ý kiến hay thắc mắc cũng như không thông báo cho các hụi viên biết ông Minh B, bà H không làm chủ các dây hụi nêu trên. Do đó, có cơ sở xác định ông Minh B, bà H làm chủ các dây hụi nêu trên là có căn cứ.

Ông Minh B và bà H làm chủ hụi của các dây hụi tranh chấp và giao dịch hụi với các hụi viên, sau đó chuyển giao quyền và nghĩa vụ cho ông L, bà N1. Tuy nhiên, khi chuyển giao ông Minh B và bà H không thông báo cho các hụi viên và cũng chưa được sự đồng ý của các hụi viên. Khi đình hụi ông L, bà N1 đã tự nguyện đứng ra chốt hụi với các hụi viên. Nên có căn cứ xác định ông Minh B, bà H, ông L và bà N1 cùng làm chủ các dây hụi nên phải có trách nhiệm liên đới thanh toán số tiền hụi 221.610.000 đồng cho ông Hoàng E là có cơ sở. Đối với 02 phần hụi mua của hụi 3.000.000 đồng và hụi 1.000.000 đồng chủ hụi đã nhận tiền mua hụi của hụi viên nên phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền được lĩnh hụi khi mãn hụi. Đối với bà T4 và bà H2 là người mua bán tuy nhiên Toà án không làm việc được. Trường hợp có tranh chấp giữa chủ hụi với bà T4, bà H2 thì đương sự có quyền khởi kiện thành vụ án khác khi có yêu cầu.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của ông Hoàng E buộc ông Minh B, bà H, ông L và bà N1 liên đới nghĩa vụ thanh toán cho ông Hoàng E số tiền hụi còn nợ 221.610.000 đồng.

[3] Trường hợp ông Minh B, bà H, ông L và bà N1 chậm thanh toán số tiền nêu trên, thì còn phải chịu tiền lãi theo quy định của pháp luật.

[4] Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên là có cơ ở nên được chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Hoàng E thuộc trường hợp người cao tuổi được miễn nộp tạm ứng án phí. Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng E được Toà án chấp nhận nên ông Minh B, bà H, ông L và bà N1 phải chịu án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

[6] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 471, Điều 468 Bộ luật Dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ quy định về họ, hụi, biêu, phường.

Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Hồng Hoàng E.

Buộc ông Hồng Minh B, bà Nguyễn Thị H, ông Trần Quốc L và bà Hồng Thị N1 liên đới nghĩa vụ thanh toán cho ông Hồng Hoàng E số tiền hụi 221.610.000 đồng (Hai trăm hai mươi mốt triệu sáu trăm mười ngàn đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

  • Ông Hồng Minh B, bà Nguyễn Thị H, ông Trần Quốc L và bà Hồng Thị N1 liên đới chịu số tiền 11.080.500 đồng.
  • Ông Hồng Hoàng E thuộc trường hợp người cao tuổi được miễn nộp tạm ứng án phí nên không đặt ra xem xét.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Phú Tân;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Tân;
  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - Lưu hồ sơ, văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Như

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 205/2024/DS-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hụi

  • Số bản án: 205/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông E yêu cầu buộc ông B, bà H và ông L, bà N1 liên đới trả số tiền hụi còn nợ 221.610.000 đồng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger