Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 205/2025/HS-ST

Ngày: 26-12-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

– Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tô Đông Đức

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/Bà Nguyễn Thị Trúc Phương
  • 2/Ông Lưu Bình Minh ongofGHq

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Dương – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Phương - Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 12 năm 205 tại Phòng xử trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3- Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 212/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 11năm 20 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 275/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 205 đối với bị cáo:

Nguyễn Thanh G; sinh năm 19 tại Sóc Trăng (nay là thành phố Cần Thơ); nơi đăng ký thường trú: Ấp X, xã H, thành phô Cần Thơ, chỗ ở: không có nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 6/12dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Khôngquốc tịch: Việt Namcon ông Nguyễn Văn S và bà Huỳnh Kim H; Hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ, con; tiền án: Ngày 10/8/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 17/01/2025 chấp hành xong hình phạt. Theo kết quả xác minh của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 6, thành phố Cần Thơ thì Nguyễn Thanh G đã chấp hành đóng án phí số tiền 200.000 đồng theo Quyết định số 857 ngày 19/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng; tiền sự: Ngày 29/7/2021, Toà án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 24 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy Số 2;

Nhân thân: Ngày 08/12/2016, bị Toà án nhân dân Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy P.

Ngày 14/8/2019, bị Toà án nhân dân Quận 2, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 18 tháng tại Cơ sở cai nghiện ma túy Đ1.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/5/2025; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bị hại:

Bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm: 1991; địa chỉ thường trú: 5 Hậu Giang, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm:1988, chỗ ở: B T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 00 phút, ngày 11/4/2025, Nguyễn Thanh G từ nhà của Nguyễn Văn K tại địa chỉ số A đường Đ, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh) đi xe buýt đến đường P, Phường A Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh để nhậu một mình ở quán vỉa hè. Đến khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, G đi lang thang với mục đích tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khoảng 03 giờ 30 phút, ngày 12/4/2025, G đi lên Lầu 2 chung cư trên đường P, Phường A, Quận E và nhìn thấy nhà số E có cửa đang khép hờ, không có người bên trong nên G lẻn vào nhà trộm 01 máy tính bảng hiệu ipad của chị Nguyễn Thị Kim T để trên giường bên ngoài phòng khách và cầm trên tay, khi quay ra để tẩu thoát thì G tiếp tục phát hiện 01 điện thoại hiệu Iphone 12 ProMax để trên bàn gần cửa chính của chị T nên G tiếp tục lấy trộm và bỏ vào túi quần bên phải sau đó tẩu thoát khỏi nhà bằng cửa chính và đi khỏi chung cư bằng hướng cầu thang bộ.

Sau đó, G tiếp tục đột nhập vào chung cư khác trên đường Đ, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường C, Thành phố Hồ Chí Minh) tìm tài sản sở hở để trộm cắp và do thấy thấy ipad lớn quá, cầm bất tiện nên khi tới Lầu 1 của chung cư G đã để ipad trên lang cang hành lang gần cầu thang bộ và tiếp tục đi xung quanh tìm nhà nào sơ hở để tiếp tục trộm cắp tài sản. Khi lên tới Lầu 2 thì G gặp một người phụ nữ nên G tẩu thoát khỏi chung cư bỏ lại ipad và bắt xe ôm công nghệ B (không dùng app) để đi thẳng về nhà trọ của Nguyễn Văn K tại địa A đường Đ, phường T, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh) và nhờ Kỷ bán điện thoại Iphone 12 ProMax mà G mới vừa trộm được để có tiền đóng tiền nhà. Nghe vậy, K lấy điện thoại ra liên lạc cho một người đàn ông tên Nguyễn Văn Đ để trao đổi về việc bán điện thoại, K có gửi hình ảnh điện thoại qua Zalo cho Đ. Khoảng 30 phút sau, K lấy xe mô tô Honda Wave biển số 59V3-105.43 chở G đến Công viên trên đường T và đứng ở bên ngoài Công viên trên đường T đợi, K bán điện thoại cho Đ và lấy 3.500.000 đồng. Sau đó, K chở G về lại nhà, G đưa cho K 2.000.000 đồng (đóng tiền nhà trọ cho K 1.300.000 đồng và trả tiền G mượn Kỷ 700.000 đồng). Khi giới thiệu và mua điện thoại của G, cả K và Đ đều không biết điện thoại trên do phạm tội mà có. Sau khi bị mất tài sản, đến 13 giờ 30 phút, ngày 12/4/2025, chị Nguyễn Thị Kim T đến

Công an P1, Quận E (nay là Công an phường C) trình báo, vụ việc được chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H thụ lý theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ của Nguyễn Thanh G:

  • - 01 (một) điện thoại Iphone 12 ProMax 256GB màu xám đã qua sử dụng, đang hoạt động, số IMEI: 351330882090653; 01 (một) máy tính bảng Ipad mini 6 màu xám (dán màu cam), số sê-ri: DX4N7C64K7 đã qua sử dụng, đang hoạt động, tại bản Kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐGTS ngày 07/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự-Ủy ban nhân Q có trị giá là 9.500.000 đồng.
  • - 01 (một) máy tính bảng Ipad mini 6 màu xám (dán màu cam), số sê-ri: DX4N7C64K7 đã qua sử dụng, đang hoạt động theo Kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐGTS ngày 07/5/2025 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự Quận E-Ủy ban nhân Q có trị giá là 4.500.000 đồng.

Ngày 04/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an Thành phố H ban hành Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số C8330/QĐ-CSHS về việc trả lại điện thoại Iphone 12 ProMax 256GB và máy tính bảng Ipad mini 6 cho chị Nguyễn Thị Kim T.

  • - 01 (một) áo sơ mi caro sọc xanh; 01 (một) quần tây màu đen; 01 (một) đôi dép đế đen, sọc trắng.
  • - 01 (một) điện thoại hiệu Benco màu đen, số IMEI: 356300393383512; 01 (một) điện thoại hiệu Oppo màu đen, số IMEI: 860619074053618 là tài sản cá nhân của G.

Số vật chứng trên của vụ án đã được chuyển đến kho của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3, Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định.

Vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn Đ:

  • - 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy S22 màu hồng, số IMEI: 358104480404845 là tài sản cá nhân của Đ nên ngày 04/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an Thành phố H ban hành Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số C8332/QĐ-CSHS về việc trả lại điện thoại trên cho Đ.

Vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn K:

  • - 01 (một) điện thoại Samsung Galaxy A04 màu đen, số IMEI: 351890412514357 là tài sản cá nhân của Kỷ nên ngày 04/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an Thành phố H ban hành Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số C8331/QĐ-CSHS về việc trả lại điện thoại trên cho K.
  • - 01 (một) mô tô Honda Wave biển số 59V3-105.43, số máy: JA39E0920451, số khung: 3916KY064207 (số khung số máy nguyên thủy), có chủ sở hữu là ông Đặng Phước T1, ông T1 bán xe mô tô trên cho cửa hàng xe máy D (C H, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh) và ngày 12/10/2024, Nguyễn Văn K mua lại chiếc xe mô tô trên từ cửa hàng có giấy tờ mua bán nhưng K chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ. Ngày 04/8/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra-Công an Thành phố H ban hành Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số C8331/QĐ-CSHS về việc trả lại xe mô tô trên cho K.

Trách nhiệm dân sự: Người bị hại Nguyễn Thị Kim T đã nhận lại tài sản nên không có yêu cầu khác và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền đã mua điện thoại của bị cáo trộm cắp.

Bản cáo trạng số 33/CT-VKS ngày 18 tháng 11 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Thanh G tội danh “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

  • - Bị cáo có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
  • - Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội, giữ quan điểm như truy tố, nêu các tình tiết giảm nhẹ và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thanh G mức án từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, đồng thời đề nghị hướng xử lý vật chứng, tài sản đã thu giữ:
  • + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh G 01 (một) điện thoại hiệu Benco màu đen (đã cũ).
  • + Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) áo sơ mi caro sọc xanh; 01 (một) quần tây màu đen; 01 (một) đôi dép đế đen, sọc trắng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Thanh G đã khai nhận hành vi “Trộm cắp tài sản” như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với bản kết luận điều tra của Công an Thành phố H, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Thành phố Hồ Chí Minh, tang vật thu giữ phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Đối chiếu với các điều luật tương ứng của Bộ luật hình sự quy định, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh G đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật và Nhà nước bảo hộ, gây mất trật tự trị án xã hội và tác động xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Lợi dụng sự sơ hở mất cảnh giác của người khác, bị cáo đã thực hiện hành vi rất táo bạo, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà không phải thông qua lao động chân chính, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội bất chấp hậu quả xảy ra và bất chấp cả sự trừng trị của pháp luật.

[4] Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Nguyễn Thanh G có hành vi “Trộm cắp tài sản”, tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị tương đương 14.000.000 đồng. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo theo quy định khoản 1, Điều 173 của Bộ luật hình sự là có cơ sở và đúng quy định pháp luật.

Bị cáo có nhân thân xấu và là đối tượng nghiện ma túy, đã có tiền án, tiền sự chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo. Tài sản đã được thu hồi trả cho người bị hại, tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử xét tính chất của vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên miễn phạt bổ sung.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, nhưng căn cứ vào hồ sơ vụ án xét thấy bà Nguyễn Thị Kim T đã nhận lại số tiền bị chiếm đoạt và ông Nguyễn Văn Đ không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền mua điện thoại, không có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử xét thấy không có gì phải giải quyết.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • + Đối với 01 (một) điện thoại hiệu Benco màu đen (đã cũ), là tài sản riêng của bị cáo G không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh G.
  • +Đối với 01 (một) áo sơ mi caro sọc xanh; 01 (một) quần tây màu đen; 01 (một) đôi dép đế đen, sọc trắng là trang phục bị cáo mặc lúc phạm tội, không có giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy.

Đối với Nguyễn Văn K (người được G nhờ để bán giúp chiếc điện thoại) và Nguyễn Văn Đ (người mua điện thoại của G) không biết chiếc điện thoại trên là do G phạm tôi mà có được. Do đó, không có đủ căn cứ để để xử lý đối với Nguyễn Văn K, Nguyễn Văn Đ về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Điều 323 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh G phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng Điều 50; khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt:

Nguyễn Thanh G 02 (hai) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 07/5/2025.

Căn cứ vào điểm a,b,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

  • + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thanh G 01 (một) điện thoại hiệu Benco màu đen (đã cũ).
  • +Tịch thu và tiêu hủy 01 (một) quần tây màu đen; 01 (một) đôi dép đế đen, sọc trắng.

(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số C3332/LNK-CSHS ngày 02/5/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án dân sự năm 2008.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Nơi nhận:

  • - TAND - VKSND TPHCM;
  • - Sở Tư pháp TPHCM;
  • - PV06 - CA TPHCM;
  • - VKSND khu vực 3-TPHCM;
  • - Công an TPHCM;
  • - Phòng THADS khu vực 3-TPHCM;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hô sơ vụ án.

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Bùi Tô Đông Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 205/2025/HS-ST ngày 26/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 205/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt: Nguyễn Thanh Giang 02 (hai) năm tù.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger