Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 205/2025/HS-ST

Ngày 27-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân Mai

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Hữu Tường
  2. Bà Lâm Thị Nga

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Ngọc Thành – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên tòa: Ông Cao Hoàng Minh - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Quận 12.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 244/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Bình A, sinh ngày 22/3/2006 tại Thành phố Hồ Chí Minh, giới tính: Nam; nghề nghiệp: Không; Nơi đăng ký thường trú: 4/62/1B1, khu phố H, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú hiện nay: 453/70/13/31 đường L, Tổ E, khu phố E, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L và bà Phan Lương H; có 02 anh chị em ruột, bị cáo con lớn nhất; vợ, con: Không có; tiền án, tiền sự: Không. Về nhân thân:

Ngày 07/8/2023, bị Công an phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh phạt tiền 750.000 (bảy trăm năm mươi ngàn) đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0010182/QĐ-XPHC. Đã chấp hành xong (Bút lục số 295, 297-299).

Ngày 23/9/2023, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 (sáu) tháng tù vê tội “Hủy hoại tài sản” theo Bản án hình sự phúc thẩm số 335/2023/HS-PT (không bị xem là án tích theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật hình sự). Chưa đi chấp hành án (Bút lục số 173-186).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam từ ngày 26/7/2024 đến nay, bị cáo được trích xuất, có mặt tại phiên tòa.

Những người tham gia tố tụng khác:

  • - Bị hại: Bùi Quang H1, sinh ngày 10/4/2005; nơi cư trú: I đường T, khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  1. Nguyễn Văn M, sinh ngày 24/9/1999; nơi cư trú: B N, khu phố A, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  2. Đinh Văn Q, sinh ngày 27/01/2003; nơi cư trú: B N, khu phố A, phường H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  3. Huỳnh Chí T, sinh ngày 14/12/2005; nơi cư trú: 507/4 HT17 khu phố C, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
  4. Lê Nguyễn Duy A1, sinh ngày 12/01/2008; nơi cư trú: 5 B, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (Người giám hộ: Lê Thanh T1) (vắng mặt).
  5. Nguyễn Anh T2, sinh ngày 23/02/2007; nơi cư trú: C, ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  6. Bà Phan Lương H, sinh ngày 06/3/1978; nơi cư trú: 453/70/12/31 khu phố D, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
  7. Ông Vương Trọng C, sinh ngày 24/8/1993; nơi cư trú: 389/48/7 khu phố C, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt);
  8. Đặng Thị Xuân M1, sinh ngày 03/02/2004; nơi cư trú: I đường T, khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
  9. Ông Bùi Quang Đ, sinh ngày 02/8/1980 ; nơi cư trú: 140/7 ấp C (ấp T 3 cũ), xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Bình A và Bùi Quang H1 có quan hệ bạn bè với nhau. Khoảng 16 giờ ngày 11/5/2024 sau khi H1 và A chuộc xe mô tô hiệu Honda Vario 125 màu đen, biển số 98G1-082.59 của H1 từ Cửa hàng dịch vụ cầm đồ, H1 điều khiển xe mô tô biển số 51M4-7373 chở vợ là Đặng Thị Xuân M1 dùng chân đẩy xe mô tô biển số 98G1-082.59 đi đổ xăng rồi đến cửa hàng sửa xe “Ú RACING”, địa chỉ số C, khu phố C, phường H, Quận A để sửa. Tại đây, A hỏi H1 cho mượn xe mô tô biển số 98G1-082.59 để đi chơi với bạn và hứa trả lại vào ngày 12/5/2024 hoặc ngày 13/5/2024 thì H1 đồng ý. Sau đó, A điều khiển xe mô tô biển số 98G1-082.59 đi về nhà và nảy sinh ý định mang xe mô tô nói trên đi cầm cố để lấy tiền tiêu xài. A điều khiển xe mô tô biển số 98G1-082.59 đến cửa hàng sửa xe “Ú RACING” nhờ nhân viên tên Lê Nguyễn Duy A1 đi theo A đến cửa hàng dịch vụ cầm đồ để chở A về (A không nói cụ thể nhờ Duy A1 chở đi đâu). A điều khiển xe mô tô biển số 98G1-082.59 chạy trước, Duy A1 điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 51X2-8359 chạy theo sau. Sau đó, cả hai đến cửa hàng dịch vụ cầm đồ “Thắng Phát” địa chỉ số B đường N, khu phố A, phường H, Quận A, do Nguyễn Văn M là chủ cửa hàng và Đinh Văn Q là nhân viên. A đi vào trong và nói với Q xe mô tô biển số 98G1-082.59 là xe của H1 (Q có quen biết H1 từ trước) và muốn cầm xe, giấy đăng ký xe do vợ H1 giữ, vài ngày nữa A mang giấy đăng ký xe ra nên Q đồng ý cầm cố xe mô tô biển số 98G1-082.59 với số tiền 8.000.000 đồng. Sau đó, A để lại thẻ căn cước công dân của mình rồi nhờ Duy A1 chở mình về nhà. A không nói cho H1 biết việc đã cầm cố xe mô tô. Khi H1 nhắn tin qua ứng dụng messenger yêu cầu A trả xe thì A không trả lời và không liên lạc lại.

Đến ngày 16/5/2024, H1 tìm gặp được A thì mới được A cho biết việc đã cầm cố xe. Lúc này, để H1 tin tưởng đưa giấy đăng ký xe mô tô biển số 98G1-082.59 cho mình, A nói dối là sẽ đưa giấy đăng ký xe mô tô nói trên cho gia đình xem và cho A tiền mua xe của H1 để sử dụng số tiền đó chuộc xe cho H1 thì H1 đồng ý giao giấy đăng ký xe cho A. Khoảng 19 giờ ngày 16/5/2024, A nhờ bạn là Huỳnh Chí T chở mình đến nhà H1 lấy giấy đăng ký xe mô tô biển số 98G1-082.59 rồi tiếp tục nhờ T chở đến cửa hàng dịch vụ cầm đồ “Thắng Phát” (T không biết A vào trong cửa hàng dịch vụ cầm đồ để làm gì). A đi vào cửa hàng gặp Q đưa giấy đăng ký xe mô tô biển số 98G1-082.59 cho Q để cầm cố thêm số tiền 8.000.000 đồng.

Ngày 18/5/2024, A đưa H1 đến cửa hàng dịch vụ cầm đồ “Thắng Phát”. Tại đây, A hứa với H1 ngày 20/5/2024 sẽ trả xe. Tuy nhiên, do A không thực hiện nên ngày 21/7/2024, H1 đến Công an phường H trình báo sự việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1, Nguyễn Bình A đã khai nhận toàn bộ hành vi nêu trên.

Tại Kết luận định giá tài sản số 255/KL-HĐĐGTS ngày 18/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A: Xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vario 125 màu đen, biển số 98G1-082.59, số máy JM51E1754496, số khung MH1JM511XMK756453 trị giá 20.000.000 đồng.

* Vật chứng vụ án:

  • - 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Vario 125 màu đen, biển số 98G1-082.59, số máy JM51E1754496, số khung MH1JM511XMK756453 cùng giấy đăng ký xe mô tô nói trên (là tài sản bị chiếm đoạt, do Đinh Văn Q giao nộp). Qua xác minh do ông Bùi Quang Đ đứng tên đăng ký. Ông Đ khai mua chiếc xe trên vào tháng 5/2021 và cho con trai mình là Bùi Quang H1 làm phương tiện đi lại. Do là cha con và ở chung nhà nên ông Đ chưa làm thủ tục sang tên cho H1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 đã xác minh làm rõ và ra Quyết định xử lý vật chứng trả cho người bị hại (Bút lục số 207, 249).
  • - 01 thẻ Căn cước công dân số [...], mang tên Nguyễn Bình A (A sử dụng đưa cho Đinh Văn Q để làm tin khi cầm cố xe mô tô biển số 98G1-082.59 cho Đinh Văn Q, do Q giao nộp).

Vật chứng nêu trên được tạm giữ theo Lệnh nhập kho vật chứng số 2217/LNK-ĐTTH ngày 19/9/2024 và Phiếu nhập kho vật chứng số 328/24 ngày 19/9/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 (Bút lục số 187, 188).

* Tài liệu tạm giữ:

  • - 01 hợp đồng cầm đồ bản viết tay và 01 hợp đồng cầm đồ bản in (do Đinh Văn Q giao nộp), cùng nội dung Nguyễn Bình A cầm cố xe mô tô biển số 98G1-082.59 từ ngày 16/5/2024 đến ngày 21/6/2024, với số tiền 16.000.000 đồng (Bút lục số 59-60).

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Bùi Quang H1 không yêu cầu Nguyễn Bình A bồi thường (Bút lục số 241).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Bùi Quang Đ, Nguyễn Văn M không yêu cầu Nguyễn Bình A bồi thường (Bút lục số 64-65, 236).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Đinh Văn Q đã được cha ruột của Nguyễn Bình A là ông Nguyễn Văn L bồi thường số tiền 16.000.000 đồng vào ngày 08/12/2024 nên không yêu cầu Nguyễn Bình A bồi thường (Bút lục số 242-243).

Bản Cáo trạng số 222/CT-VKSQ12 ngày 16/6/2025 Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân Quận 12 để xét xử Nguyễn Bình A về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Bình A đã thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu thể hiện tại hồ sơ vụ án, hành vi của bị cáo Nguyễn Bình A có đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố.

Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Bình A phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” và đề nghị:

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 175, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Bình A mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù. Đề nghị tổng hợp hình phạt với bản án phúc thẩm số 335/2023/HS-PT của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Về xử lý vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử lý theo quy định.

Bị cáo Nguyễn Bình A không có ý kiến gì đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định truy tố của Cơ quan điều tra Công an Q1, Cơ quan điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minhnh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.[2] Về chứng cứ phạm tội: Trên cơ sở kết quả điều tra cũng như lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Bình A tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định: Khoảng 16 giờ ngày 11/5/2024, tại cửa hàng sửa xe “Ú RACING”, địa chỉ số C, Khu phố C, phường H, Quận A, Nguyễn Bình A đã lợi dụng lòng tin để bạn là Bùi Quang H1 giao cho bị cáo mượn 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario 125 màu đen, biển số 98G1-082.59, sau đó bị cáo A sử dụng tài sản này để cầm cố lấy tiền tiêu xài dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản. Tại Bản kết luận định giá tài sản số 255/KL-HĐĐGTS ngày 18/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận A (Bút lục 200-201): 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vario 125 màu đen, biển số 98G1-082.59 trị giá 20.000.000 đồng (hai mươi triệu) đồng. Như vậy, đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Bình A đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. [3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ nên bị cáo phải chịu hình phạt trước pháp luật. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng cân nhắc xem xét xem xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để có mức án tương xứng với tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.[4] Xét về nhân thân bị cáo Nguyễn Bình A:

  • - Ngày 07/8/2023, bị Công an phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh phạt tiền 750.000 (bảy trăm năm mươi ngàn) đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0010182/QĐ-XPHC. Đã chấp hành xong.
  • - Ngày 23/9/2023, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 06 (sáu) tháng tù vê tội “Hủy hoại tài sản” theo Bản án hình sự phúc thẩm số 335/2023/HS-PT (không bị xem là án tích theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 107 Bộ luật hình sự). Chưa đi chấp hành án (Bút lục số 173-186).

Tình tiết tăng nặng: không.

Tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả theo điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về dân sự: Do không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 hợp đồng cầm đồ bản viết tay và 01 hợp đồng cầm đồ bản in, xét cần lưu hồ sơ vụ án.
  • - Đối với 01 thẻ Căn cước công dân số [...], mang tên Nguyễn Bình A xét cần trả lại cho bị cáo Nguyễn Bình A.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Đối với Lê Nguyễn Duy A1, là người đi cùng Nguyễn Bình A đến cửa hàng dịch vụ cầm đồ “Thắng Phát” để cầm cố xe mô tô biển số 98G1-082.59 và chở A về vào các ngày 11/5/2024, Duy A1 không biết việc A cầm cố chiếc xe mô tô trên mà không có sự đồng ý của bị hại Bùi Quang H1. Đối với Huỳnh Chí T, là người chở Nguyễn Bình A đến cửa hàng dịch vụ cầm đồ “Thắng Phát” để cầm cố giấy đăng ký xe mô tô biển số 98G1-082.59 và chở A về vào ngày 16/5/2024, T không biết việc A cầm cố giấy đăng ký xe trên mà không có sự đồng ý của bị hại Bùi Quang H1. Đối với Nguyễn Văn M, là chủ cửa hàng dịch vụ cầm đồ “Thắng Phát” và Đinh Văn Q, là nhân viên cửa hàng cầm đồ không biết xe mô tô trên do phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q1 không xử lý.

Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Bình A mức án từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù là có cơ sở chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Bình A phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản".

    Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 175, điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 38, khoản 2 Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Bình A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt với Bản án hình sự phúc thẩm số 335/2023/HS-PT ngày 23/9/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt bị cáo Nguyễn Bình A 06 (sáu) tháng tù vê tội “Hủy hoại tài sản”. Như vậy, hình phạt bị cáo Nguyễn Bình A phải chấp hành chung là 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/7/2024.

  2. Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015;

    Trả lại cho bị cáo Nguyễn Bình A 01 căn cước công dân số [...].

    Theo Quyết định chuyển vật chứng số 60/QĐ-VKS ngày 11/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận 12.

  3. Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Bị cáo Nguyễn Bình A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền 200.000 (hai trăm ngàn) đồng. Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  4. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND Tp. HCM;
  • - VKSND Quận 12;
  • - Chi Cục THADS Quận 12;
  • - Trại tạm giam Chí Hòa;
  • - Cơ quan THAHS Công an Tp.HCM;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: VP, HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

LÊ THỊ XUÂN MAI

6

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 205/2025/HS-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 205/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Bình An phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger