|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 205/2025/HS-ST Ngày: 15-4-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Phạm Văn Tâm
- Ông Nguyễn Hồng Phúc.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Bà Lữ Ngọc Mai – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 128/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 187/2025/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Minh T, sinh ngày: 05/10/1994 tại tỉnh Trà Vinh; Hộ khẩu thường trú: 213/12 đường T, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Không; con ông Trần Minh Q, năm sinh: 1971 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Thu T1, sinh năm: 1971; vợ: Nguyễn Thị Thúy A, sinh năm: 1999; có 03 người con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm: 2022 Tiền án: Ngày 19/11/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 03 tháng tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 478/2021/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/8/2022 và đã đóng án phí hình sự sơ thẩm ngày 24/3/2022; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 30/11/2023, bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 498/2023/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 02/02/2025; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 02/02/2025; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
1. Ông Đặng Thanh T2, sinh năm: 1986; vắng mặt.
Địa chỉ: Số F, khu phố T, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
2. Ông Nguyễn Xuân L, sinh năm: 1986; vắng mặt.
Địa chỉ thường trú: Ấp E, N, huyện T, tỉnh Long An.
Địa chỉ liên lạc: 168 đường B, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Nguyên đơn dân sự: Dịch vụ cầm đồ Gia Bảo I, địa chỉ: B, khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Người đại diện hộ kinh doanh: Ông Võ Văn T3.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị M (Văn bản ủy quyền ngày 02/8/2023); vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Doanh nghiệp tư nhân B, địa chỉ: A Đường Đ, khu phố T, phường A, thành phố T, Bình Dương; Chủ doanh nghiệp là bà Trần Thị Hồng Đ; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Thành H, sinh năm: 1996; Địa chỉ: ấp R, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Bà Bùi Thị Mỹ P, sinh năm: 1987; vắng mặt.
- Ông Đoàn Văn S, sinh năm: 1993; vắng mặt.
- Cùng địa chỉ: 4 khu phố B, phường Đ, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Bà Trần Thị Thanh T4, địa chỉ: 2 Miếu G, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Văn T5, địa chỉ: B, phương T, thị xã T, Bình Dương; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do không có tiền tiêu xài nên Trần Minh T nảy sinh ý định lén lút lấy trộm tài sản của người khác để bán lấy tiền nên T đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thành phố T, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 25/7/2023, Trần Minh T đi xe buýt từ đường T, phường L, thành phố T đến khu vực siêu thị C, chung cư S, đường A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh tìm kiếm tài sản lấy trộm bán lấy tiền tiêu xài. Khi đi đến bên hông Coopmart, chung cư S, T phát hiện 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đen đỏ, biển số 61E1-329.14 của anh Đặng Thanh T2 (sinh năm 1986) đang dựng, có chìa khóa cắm sẵn trên xe, không có người trông coi nên T đi lại nổ máy xe và tẩu thoát. Sau đó, T kiểm tra dưới cốp xe mô tô biển số 61E1-329.14 có 01 cái bóp bên trong có 01 giấy cầm vàng trị giá 5.000.000 đồng của Doanh nghiệp tư nhân B, địa chỉ số A đường Đ, khu phố T, phường A, thị xã T, tỉnh Bình Dương do Trần Thị Hồng Đ làm chủ và 01 giấy cầm giấy đăng ký xe mô tô biển số 61E1 - 329.14 giá 300.000 đồng của Dịch vụ Cầm đồ Gia Bảo I, địa chỉ B, khu phố B, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương do Nguyễn Thị M làm chủ. T mang giấy cầm vàng đến Doanh nghiệp tư nhân B Chợ Búng bán vàng được 6.280.000 đồng, trừ tiền cầm 5.000.000 đồng, còn lại T nhận 1.280.000 đồng. Trực tiếp tục mang giấy cầm giấy đăng ký xe mô tô biển số 61E1- 329.14 cùng xe mô tô biển số 61E1 - 329.14 đã lấy trộm trước đó đến Dịch vụ Cầm đồ Gia Bảo I, cầm cố được 5.000.000 đồng, trừ tiền cầm giấy đăng ký xe là 810.000 đồng, còn lại T nhận 4.190.000 đồng. Số tiền trên T đã tiêu xài cá nhân hết.
Vụ thứ hai: Khoảng 11 giờ 50 phút ngày 01/8/2023, T đón xe ôm G đi từ đường số D, phường T đến khu vực siêu thị C, chung cư S, đường A, khu phố D, phường T để tìm tài sản lấy trộm. Khi đến nơi, T phát hiện 01 xe mô tô hiệu Sirius, biển số 54N5-7202 của anh Nguyễn Xuân L (sinh năm 1974) để bên hông Coopmart, chung cư S, chìa khóa cắm ở ổ khóa mở yên xe, không có ai trông coi nên T đã đi lại lấy chìa khóa cắm vào ổ khóa nổ máy xe rồi lén lút lấy trộm xe mô tô trên và tẩu thoát. Sau khi lấy trộm xe, T chạy về tiệm internet ở phường L để đăng tin bán xe mô tô vừa lấy trộm được thông qua mạng xã hội Facebook. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, thông qua bài đăng trên Facebook, Nguyễn Thành H sử dụng số điện thoại 0398.942.xxx gọi cho T để thỏa thuận mua xe mô tô hiệu Sirius, biển số 54N5-7202 mà T đã lấy trộm của anh L. T và H thỏa thuận mua bán với giá 3.400.000 đồng. Đến khoảng 14 giờ 45 phút cùng ngày, T và H gặp nhau tại trước địa chỉ A N, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương để thực hiện việc mua bán xe mô tô trên.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Trần Minh T khai nhận hành vi phạm tội như trên.
Qua làm việc, bà Nguyễn Thị M là người trực tiếp kinh doanh tại tiệm Dịch vụ cầm đồ Gia Bảo I do người đại diện theo pháp luật ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 02/8/2023) cho biết: Ngày 25/7/2023, có cầm 01 xe mô tô biển số 61E1-32914 với giá 5.000.000 đồng, bà M không biết xe mô tô trên do trộm cắp mà có và đã tự nguyện giao nộp xe trên cho Cơ quan điều tra.
Qua làm việc, bà Trần Thị Hồng Đ là chủ tiệm V cho biết: Ngày 25/7/2023, bà Đ có mua lại chiếc nhẫn trơn loại 24K trọng lượng 02 chỉ với giá 6.280.000 đồng, không biết tài sản trên do Trực trộm cắp mà có, hiện nay đã nấu tái chế lại vàng nên không thu hồi được.
Nguyễn Thành H là người mua xe mô tô hiệu Sirius, biển số 54N5-7202 do T trộm cắp khai nhận sự việc như trên. Sau khi mua xe của T, ngày 02/8/2023, H tiếp tục đăng bán xe mô tô vừa mua được trên mạng Facebook và bán cho vợ chồng Bùi Thị Mỹ P và Đoàn Văn S với giá 4.000.000 đồng. Khi mua xe, T nói với H xe bị mất giấy tờ, H cũng không hỏi nguồn gốc và T cũng không nói nguồn gốc xe mô tô trên do H biết.
Đoàn Văn S và Bùi Thị Mỹ P khai nhận sự việc như lời khai của Nguyễn Thanh H1. Sau khi mua xe từ H1, S tiếp tục bán lại cho một người đàn ông không rõ lai lịch sử dụng số điện thoại liên lạc là 0911.191.xxx. S và P không biết rõ nguồn gốc tài sản do T phạm tội mà có.
Kết luận định giá tài sản số 14-KV3/KL-HĐĐGTS ngày 04/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ đen, biển số 61E1-329.14 trị giá 5.667.000 đồng; 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 54N5-7202 trị giá 4.333.000 đồng. Tổng trị giá 02 xe mô tô 10.000.000 đồng (Bút lục số 143).
Kết luận định giá tài sản số 18-KV3/KL-HĐĐGTS ngày 27/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 chiếc nhẫn vàng 24K, trọng lượng 02 chỉ trị giá 13.648.000 đồng (Bút lục số 226).
Vật chứng vụ án:
- 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 61E1-329.14 và 01 giấy đăng ký xe mô tô do Nguyễn Thị M (tiệm Dịch vụ cầm đồ Gia Bảo I giao nộp. Qua xác minh xe mô tô biển số 61E1-329.14 do anh Nguyễn Văn T5 đứng tên chủ sở hữu. Anh Đặng Thanh T2 cho biết xe mô tô trên do anh T2 mua lại của anh T5 nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Ngày 05/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho anh T2 xe mô tô trên (Bút lục số 155; 227-228);
- 01 điện thoại di động Mobell thu giữ của Trần Minh T.
- 01 quần jean dài màu đen, 01 đôi dép lê màu đen có quai hoa văn màu trắng trên quai dép có chữ Adidas (trang phục Trần Minh T mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp vào ngày 01/8/2023).
Về trách nhiệm dân sự:
- Anh Nguyễn Xuân L yêu cầu Trần Minh T bồi thường giá trị của 01 xe mô tô hiệu Sirius, biển số 54N5-7202 là 5.000.000 đồng.
- Anh Đặng Thanh T2 đã nhận lại xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đen đỏ, biển số 61E1-329.14 nên không yêu cầu gì đối với xe mô tô, anh T2 yêu cầu Trần Minh T bồi thường giá trị 01 chiếc nhẫn vàng 24K, trọng lượng 02 chỉ tương đương số tiền 12.000.000 đồng.
- Tiệm Dịch vụ cầm đồ Gia Bảo I (do bà Nguyễn Thị M là người đại diện theo ủy quyền) yêu cầu Trần Minh T bồi thường số tiền giao dịch cầm cố chiếc xe Yamaha Sirius màu đen đỏ, biển số 61E1-329.14 là 4.190.000 đồng.
Cáo trạng số 146/CT-VKSTPTĐ ngày 05/3/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Trần Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo Trần Minh T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Về tích nhiệm ân sự: Buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Xuân L giá trị 01 xe mô tô hiệu Sirius, biển số 54N5-7202 là 5.000.000 đồng; bồi thường cho anh Đặng Thanh T2 giá trị 01 chiếc nhẫn vàng 24K, trọng lượng 02 chỉ là 12.000.000 đồng; bồi thường cho T6 cầm đồ Gia Bảo I số tiền 4.190.000 đồng mà tiệm cầm đồ đã cầm cố chiếc xe Yamaha Sirius màu đen đỏ, biển số 61E1-329.14; Xử lý vật chứng: Tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Mobell thu giữ của bị cáo T; tịch thu, tiêu hủy: 01 quần jean dài màu đen, 01 đôi dép lê màu đen có quai hoa văn màu trắng trên quai dép có chữ Adidas; Đối với xe mô tô hiệu Sirius, biển số 54N5-7202 không thu hồi được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành đăng báo tìm vật chứng của vụ án nhưng chưa có kết quả, khi nào truy tìm được sẽ xử lý sau; Về án phí: Bị cáo T phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.
- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố T (nay là Công an Thành phố H), của Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức trong quá trình điều tra truy tố là thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình tố tụng, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về thủ tục tố tụng: Bị hại, nguyên đơn dân sự; người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Xét việc vắng mặt của bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án về quyền lợi của họ nên Tòa án vẫn tiến hành mở phiên vắng mặt bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Xét, quá trình tố tụng, bị cáo Trần Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo đều thống nhất với nhau trong các Bản tự khai, Bản tường trình; Biên bản ghi lời khai; Biên bản hỏi cung bị can và phù hợp với: Biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm ngày 02/8/2023 của Công an phường T; Kết luận định giá tài sản; Lời khai nhận tội của bị cáo Trần Minh T phù hợp với lời khai của bị hại, nguyên đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đã có đủ căn cứ kết luận:
Do không có tiền tiêu xài nên Trần Minh T đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt của anh Đặng Thanh T2 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đen đỏ, biển số 61E1-329.14 trị giá trị giá 5.667.000 đồng, 01 chiếc nhẫn vàng 24K, trọng lượng 02 chỉ trị giá 13.648.000 đồng vào ngày 25/7/2023 và 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 54N5-7202 của anh Nguyễn Xuân L trị giá 4.333.000 đồng vào ngày 01/8/2023 trên địa bàn thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, tổng giá trị các tài sản bị cáo T đã chiếm đoạt là 23.648.000 đồng. Hành vi trên của Trần Minh T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3] Lời khai của bị cáo đã thống nhất với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội đối với bị cáo. Như vậy, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố Trần Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Đánh giá tính chất vụ án: Bị cáo là thanh niên tuổi đời còn rất trẻ, có sức khỏe, biết rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là sai trái và bị pháp luật trừng trị nhưng do tham lam, muốn có tiền để tiêu xài, coi thường pháp luật nên bị cáo đã bất chấp cố ý lén lút chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu. Bản thân bị cáo là người có nhiều tiền án xấu: Trước khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 25/7/2023 và 01/8/2023 thì vào ngày 13/10/2022, bị cáo đã thực hiện hành vi “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” và đã bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù theo Bản án số 498/2023/HS-ST ngày 30/11/2023. Ngoài ra, bị cáo có tiền án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nhưng không lấy làm bài học sửa sai mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Điều này, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo rất kém. Hành vi trộm cắp tài sản do bị cáo Trần Minh T thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tài sản hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ và ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ để trừng trị, giáo dục, cải tạo bị cáo thành người tốt có ích cho bản thân, gia đình và xã hội đồng thời góp phần răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, cũng xét quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, để xem xét giảm cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự mà lẽ ra bị cáo phải chịu.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Đối với bà Nguyễn Thị M là nhân viên tiệm Dịch vụ cầm đồ Gia Bảo I cho biết ngày 25/7/2023 có cầm 01 xe mô tô biển số 61E1-32914 với giá 5.000.000 đồng, bà M không biết xe mô tô trên do trộm cắp mà có và tự nguyện giao nộp xe trên nên không có căn cứ để xử lý hình sự đối với bà M.
Đối với bà Trần Thị Hồng Đ là chủ tiệm V cho biết: Ngày 25/7/2023, Đ có mua lại chiếc nhẫn trơn loại 24K trọng lượng 02 chỉ với giá 6.280.000 đồng, không biết tài sản trên do T trộm cắp mà có nên không có căn cứ để xử lý hình sự đối với bà Đ.
Đối với anh Nguyễn Thành H là người mua xe mô tô của T nhưng không biết tài sản trên do T trộm cắp mà có, T nói với H xe bị mất giấy tờ, H cũng không hỏi nguồn gốc và T cũng không nói nguồn gốc xe mô tô trên do H biết nên không có căn cứ để xử lý hình sự đối với H. Sau khi mua xe của T, ngày 02/8/2023, H tiếp tục bán xe mô tô cho vợ chồng Bùi Thị Mỹ P và Đoàn Văn S với giá 4.000.000 đồng.
Đối với Đoàn Văn S và Bùi Thị Mỹ P xác nhận sự việc như Nguyễn Thanh H1 đã khai. Sau khi mua xe từ H1, S tiếp tục bán lại cho một người đàn ông không rõ lai lịch sử dụng số điện thoại liên lạc là 0911.191.xxx. S và P không biết rõ nguồn gốc tài sản do T phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý hình sự đối với S và P.
Đối với xe mô tô hiệu Sirius, biển số 54N5-7202: Qua xác minh, chị Trần Thị Thanh T4 đứng tên chủ sở hữu, chị T4 cho anh L mượn xe sử dụng, chị T4 không yêu cầu gì trong vụ án này.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại anh Nguyễn Xuân L yêu cầu bị cáo T bồi thường giá trị 01 xe mô tô hiệu Sirius, biển số 54N5-7202 là 5.000.000 đồng.
- Anh Đặng Thanh T2 đã nhận lại xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đen đỏ, biển số 61E1-329.14 nên không yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên, anh T2 yêu cầu T bồi thường 12.000.000 đồng đối với 01 chiếc nhẫn vàng 24K, trọng lượng 02 chỉ.
- Dịch vụ cầm đồ Gia Bảo I do bà Nguyễn Thị M là người đại diện theo ủy quyền, yêu cầu T bồi thường số tiền giao dịch cầm cố chiếc xe Yamaha Sirius màu đen đỏ, biển số 61E1-329.14 là 4.190.000 đồng.
Tại phiên toà, bị cáo đồng ý bồi thường theo Đơn yêu cầu của T6 cầm đồ Gia Bảo I và các bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo T.
[6] Vật chứng vụ án:
- 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, biển số 61E1-329.14 và 01 giấy đăng ký xe mô tô thu giữ của bà Nguyễn Thị M là chủ tiệm cầm đồ Gia Bảo I. Qua xác minh xe mô tô biển số 61E1-329.14 do anh Nguyễn Văn T5 đứng tên chủ sở hữu. Anh Đặng Thanh T2 cho biết xe mô tô trên do anh T2 mua lại của anh T5 nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Ngày 05/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại cho anh T2 xe mô tô trên là có căn cứ;
- 01 điện thoại di động Mobell thu giữ của bị cáo T, bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước;
- 01 quần jean dài màu đen, 01 đôi dép lê màu đen có quai hoa văn màu trắng trên quai dép có chữ Adidas (trang phục Trần Minh T mặc khi thực hiện hành vi trộm cắp vào ngày 01/8/2023); là đồ dùng cá nhân, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
- Đối với xe mô tô hiệu Sirius, biển số 54N5-7202 không thu hồi được. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã tiến hành đăng báo tìm vật chứng của vụ án nhưng chưa có kết quả, khi nào truy tìm được sẽ xử lý sau.
[7] Về án phí: Bị cáo Trần Minh T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng; Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải bồi thường số tiền là 12.000.000 đồng + 5.000.000 đồng + 4.190.000 đồng = 21.190.000 đồng nên bị cáo phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.059.500 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Trần Minh T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/02/2025.
- Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2021; các Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015, buộc bị cáo T phải:
- Bồi thường cho anh Nguyễn Xuân L số tiền 5.000.000 (Năm triệu) đồng.
- Bồi thường cho anh Đặng Thanh T2 số tiền 12.000.000 (Mười hai triệu) đồng.
- Bồi thường cho tiệm D (người đại diện hợp pháp là bà Nguyễn Thị M) số tiền 4.190.000 (Bốn triệu một trăm chín mươi nghìn) đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Căn cứ Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội:
Buộc bị cáo Trần Minh T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng; án phí dân sự sơ thẩm 1.059.500 đồng, nộp tại Cơ quan thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021:
- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động Mobell.
- Tịch thu, tiêu hủy: 01 quần jean dài màu đen, 01 đôi dép lê màu đen có quai hoa văn màu trắng trên quai dép có chữ Adidas.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 65/QĐ-VKS ngày 10/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Biên bản giao nhận tang tài vật ngày 13/01/2025 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức).
- Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021:
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo; bị hại, nguyên đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được thực hiện quyền kháng cáo bản án. Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền tự thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tăng Thị Nguyệt |
Bản án số 205/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 205/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: phạt tù
