|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HOÁ Bản án số: 205/2025/HS-ST Ngày: 15/4/2025. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hương
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Cát Tưởng
2. Bà Nguyễn Hồng Vân
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa:
Bà Trần Minh Phương - Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quang - Kiểm sát viên.
Ngày 15/ 4/ 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 96/2025/ HSST ngày 15/01/ 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 123/2025/QĐXXST- HS ngày 14/ 02/ 2025 đối với bị cáo:
Trần Tuyết L, Sinh ngày 11 tháng 5 năm 1987; Nơi đăng ký thường trú: F N, phường. Lào Cai, thành phố L, tỉnh Lào Cai; Nơi ở hiện tại: SN A H, Phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai ; Thẻ CCCD: [...]; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Trần Thanh H (Đã chết); Con bà: Trần Thị L1, sinh năm 1963; Chồng: Nguyễn Văn H1, sinh năm 1982 và có 04 con (Con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2024); Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 16/12/2024 đến nay.
Bị hại :
- Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1989;
Địa chỉ: SN A T, phường N, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; - Chị Lê Thùy T, sinh năm 1992;
Địa chỉ: Tổ dân phố T, Thị Trấn T, huyện T, Tỉnh Thanh Hóa. - Chị Phạm Thị D, sinh năm 1985;
Địa chỉ: SN A T, phường A, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Người làm chứng:
Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1984;
Địa chỉ: Số B LK A, Khu Đ ( 108 B), Phường A, Thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên tòa có mặt bị cáo, vắng mặt bị hại và người làm chứng
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Tuyết L không có nghề nghiệp ổn định, không kinh doanh buôn bán hoa, nhưng vẫn sử dụng tài khoản Facebook đăng ảnh hoa để bán trên mạng xã hội. Ngày 17/01/2020, chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1989 trú tại số nhà A T, phường N, thành phố T sử dụng tài khoản “ Vân Long N1” để đặt hàng mua hoa với Trần Tuyết L với tài khoản Facebook “ Trần Thùy”. Chị V đặt mua của Trần Tuyết L với tổng số tiền 40.000.000đ. Trần Tuyết L yêu cầu chị V phải đặt cọc trước số tiền 30.000.000đ cho Trần Tuyết L, hai bên thoả thuận đến ngày 20/01/2020, L sẽ gửi hoa cho chị V thông qua nhà xe Q (chạy tuyến Thanh Hóa - thành phố L). Sau khi nhận được hoa thì chị V sẽ trả số tiền 10.000.000đ còn lại cho Trần Tuyết L. Từ ngày 17/01/2020 đến ngày 19/01/2020, chị V đã chuyển cho Trần Tuyết L số tiền 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng) vào số tài khoản 37510000219686 mở tại ngân hàng B1 mang tên Trần Tuyết L. Sau khi chuyển tiền, đến ngày nhận hoa như thoả thuận, nhưng chị V không nhận được hoa như L đã hứa, nên chị V đã nhiều lần nhắn tin và gọi điện cho L nhiều lần, nhưng sau đó L vẫn không trả lại tiền.
Tại Cơ quan CSĐT, Trần Tuyết L khai nhận: Trần Tuyết L sử dụng tài khoản Facebook “Trần Thùy” là tên của em trai, sử dụng tài khoản ngân hàng 37510000219686 mang tên mình và 02 số điện thoại dùng để liên lạc với khách là: 0856.113.xxx và 0888.086.380 có đăng kí tên em trai và mẹ của Tuyết L. Sau khi nhận tiền nhưng do Tuyết L đặt hàng của một người tên là A. B ở Trung Quốc nhưng chưa nhận được hàng, nên không lấy được hàng để gửi cho V. Sau đó, L có ra chợ C, Phố M thành phố Lào Cai mua hoa để gửi qua nhà xe Quang D1 nhưng vào thời điểm đó nhà xe không nhận hàng. Đến nay, Trần Tuyết L vẫn chưa trả lại số tiền 30.000.000đ cho chị Nguyễn Thị V.
Xác minh tại nhà xe Q có địa chỉ tại E P, P. L, TP L không xác định được Tuyết L có đến gửi hoa hay không. Tuy nhiên nhà xe cung cấp không có việc nhà xe từ chối khách hàng, kể cả thời điểm giáp Tết nguyên đán.
Cơ quan CSĐT đã tiến hành xác minh tại khu vực chợ C, phố M thành phố L, kết quả: Theo báo cáo của Ban quản lý chợ C thì Trần Tuyết L không đăng ký bán hàng hoặc có quầy hàng ở chợ C.
Mặt khác kết quả thu thập chứng cứ trong giai đoạn điều tra thể hiện: Trước đây vào khoảng năm 2017 Trần Tuyết L bị vỡ nợ, gia đình thường xuyên bị xã hội đen đến đe dọa để đòi nợ và không ai thấy Trần Tuyết L có kinh doanh bán hoa.
Xác minh một số giao dịch chuyển tiền từ tài khoản của L sau khi nhận được tiền của V thì L đã sử dụng để trả nợ cho bà Vũ Bích N2, SN 1958 trú tại thôn H, xã Đ, TP L có số tài khoản là: 0951004198432 với số tiền 20.000.000 đ ( Hai mươi triệu đồng). Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã tiến hành làm việc với bà Vũ Bích N2, kết quả: Bà N2 khai nhận năm 2019, Trần Tuyết L vay nợ của bà N2 số tiền 40.000.000đ; từ thời gian từ ngày 16/01/2020 đến ngày 20/01/2020, Trần Tuyết L nhiều lần chuyển tài khoản từ 2.000.000đ đến 5.000.000đ vào tài khoản để trả nợ cho bà N2.
Đối với Người tên là A. B mà Trần Tuyết L khai báo là người mà Tuyết L đặt mua hoa, do Trần Tuyết L không cung cấp được địa chỉ và thông tin về nhân thân, nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố T không có căn cứ để xác minh, làm rõ.
Đấu tranh mở rộng vụ án, Cơ quan điều tra xác định, cùng với thủ đoạn như trên, Trần Tuyết L cũng đã chiếm đoạt tiền của một số người khác, cụ thể:
Ngày 12/01/2020, chị Lê Thủy T1, sinh năm 1992, trú tại tổ dân phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa thoả thuận mua hoa ly với Trần Tuyết L thông qua tài khoản Facebook “Trần T2” với giá trị tiền hàng 7.700.000 đồng. Do tin tưởng nên chị Thủy T1 đã chuyển cho Tuyết L 3.500.000 đồng thông qua số tài khoản 37510000219686 mở tại ngân hàng B1 mang tên Trần Tuyết L để đặt cọc. Tuyết Lan hẹn ngày 21/01/2020 sẽ chuyển hoa cho chị Thủy T1, tuy nhiên đến ngày hẹn, Tuyết Lan không chuyển hoa, chị Lê Thủy T1 liên lạc cho Tuyết L để hỏi vì sao chưa gửi hoa cho chị nhưng Tuyết L không nghe điện thoại. Sau khi liên lạc được với Tuyết L chị Thủy T1 yêu cầu trả tiền, nhưng Tuyết L không trả lại tiền đồng thời chặn liên lạc với chị Lê Thủy T1.
Ngày 15/01/2020, chị Phạm Thị D, sinh năm 1985, trú tại A T, P. A, TP T chuyển cho L 7.800.000 đồng cho L thông qua số tài khoản 37510000219686 mở tại ngân hàng B1 mang tên Trần Tuyết L để đặt cọc tiền hoa. Tuy nhiên đến hẹn, Tuyết L cũng không chuyển hoa và chặn liên lạc với chị D, chị D nghĩ mình bị lừa đảo rồi, nên chị D đã đăng lên nhiều group của người Lào Cai thì thấy có nhiều người cũng bị Tuyết L lừa như vậy. Sau khi chị D đăng lên nhiều group của người Lào Cai thì thấy Tuyết L liên hệ lại với chị D nói do thời gian này hàng bị cấm nên không về được và hứa sẽ thu xếp trả lại tiền, nhưng cho đến nay vẫn chưa trả số tiền này cho chị D.
Về dân sự: Chị Nguyễn Thị V, Phạm Thị D, Lê Thủy T1 yêu cầu Trần Tuyết L phải trả lại số tiền họ đã chuyển cho Tuyết L để đặt cọc mua hoa.
Quá trình điều tra, Trần Tuyết L thừa nhận có nhận tiền đọc cọc mua hoa của chị Nguyễn Thị V, Phạm Thị D, Lê Thủy T1, nhưng không thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại bản cáo trạng số 30/CTr-VKS ngày 13/01/2025 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, đã truy tố bị cáo Trần Tuyết L về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự .
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản cáo trạng và đề nghị HĐXX:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 174; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Đ a, c Khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên:
Quá trình điều tra, truy tố Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi quyết định của người tiến hành tố tụng.
[2]. Về hành vi phạm tội:
Tuy quá trình điều tra, xét xử bị cáo chỉ thừa nhận có nhận tiền đặt cọc mua hoa của chị Nguyễn Thị V, Phạm Thị D, Lê Thủy T1, nhưng không thừa nhận hành vi phạm tội.
Nhưng căn cứ vào tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra thể hiện:Trần Tuyết L không có nghề nghiệp ổn định, không kinh doanh buôn bán hoa nhưng vào khoảng tháng 01 năm 2020, thông qua mạng xã hội Facebook Trần Tuyết L đã đưa ra các thông tin gian dối về việc có kinh doanh bán hoa để chị Nguyễn Thị V tin tưởng đặt mua hoa để bán vào dịp tết và chị V đã chuyển 30.000.000 đồng tiền đặt tiền cọc mua hoa vào tài khoản của Trần Tuyết L, Nhưng đến hẹn Trần Tuyết L không gửi hoa cho chị V như đã thỏa thuận và chiếm đoạt số tiền này không trả lại cho chị V. Ngoài ra, cũng với thủ đoạn như trên Trần Tuyết L đã chiếm đoạt số tiền đặt cọc mua hoa của chị Phạm Thị D là 7.800.000 đồng và của chị Lê Thủy T1 là 3.500.000đ. Tổng số tiền Trần Tuyết L chiếm đoạt được của chị Nguyễn Thị V, Phạm Thị D, Lê Thủy T1 là 41.300.000 đồng.
Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo Trần Tuyết L có đủ dấu hiệu cấu thành tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 174 của bộ luật hình sự.
Vì vậy VKSND thành phố Thanh Hóa truy tố bị cáo Trần Tuyết L về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Do mục đích để có tiền chi tiêu cá nhân và trả nợ, bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu. Hành vi của bị cáo thể hiện tính liều lĩnh, xem thường pháp luật và đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Do đó hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nên cần được xử lý nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính chất phòng ngừa chung.
[4]. Đánh giá về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo 03 lần thực hiện hành vi phạm tội, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tuy quá trình điều tra, xét xử bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội, nhưng bị cáo thừa nhận có nhận tiền đặt mua hoa của chị Nguyễn Thị V, Phạm Thị D, Lê Thủy T1, nay chưa có tiền trả . Do đó cũng cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[5]. Về hình phạt: Căn cứ vào nhân thân và tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ hình phạt thì cần giành cho bị cáo mức án nghiêm khắc và cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian, mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và có tính chất phòng ngừa chung.
[6] .Về trách nhiệm dân sự:
Xét yêu cầu của chị Nguyễn Thị V, Phạm Thị D, Lê Thủy T1 về việc yêu cầu bị cáo phải trả lại khoản tiền đã chuyển để đặt cọc mua hoa cho bị cáo là hoàn toàn chính đáng và phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự, nên chấp nhận buộc bị cáo phải có trách nhiệm trả lại lại số tiền đặt cọc mua hoa cho chị Nguyễn Thị V số tiền 30.000.000đ; Trả cho chị Phạm Thị Duyên S tiền 7.800.000đ; Trả cho chị Lê Thủy T1 số tiền 3.500.000₫.
[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm là 2.065.000 đ, theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Đ a, c khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 174; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 38; Khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự.
Khoản 2 Điều 136: Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự và Đ a, c khoản 1 Điều 23 NQ 326/2016/UBTVQH14.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Tuyết L phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Xử phạt: Trần Tuyết L 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo phải có trách nhiệm trả lại số tiền đặt cọc mua hoa cho chị Nguyễn Thị V số tiền 30.000.000đ; Trả cho chị Phạm Thị Duyên S tiền 7.800.000đ; Trả cho chị Lê Thủy T1 số tiền 3.500.000₫.
Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bị cáo không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ thì phải chịu thêm lãi suất đối với số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí HSST và 2.065.000 đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a 9 luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Hương |
Bản án số 205/2025/HS-ST ngày 15/04/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HOÁ về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 205/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Tuyết L
