TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 205/2025/DS-ST Ngày 06-6-2025 V/v tranh chấp Đòi lại tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Việt Thắng
- Ông Nguyễn Trường Hận
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Hường - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 227/2025/TLST-DS ngày 21 tháng 4 năm 2025 về việc tranh chấp Đòi lại tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 213/2025/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Diễm T, sinh năm:1983 (có mặt)
Địa chỉ cư trú: Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.
- Bị đơn: Bà Phạm Ngọc T1, sinh năm: 1993 (xin vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: Khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện ngày 18/4/2025 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Diễm T trình bày: Vào năm 2024, bà Phạm Ngọc T1 có nhận làm thủ tục để cho bà đi xuất khẩu lao động tại nước Hàn Quốc, bà T1 nói với bà làm xong thủ tục số tiền khoảng 75.000.000 đồng, chỉ thỏa thuận miệng không có làm hợp đồng bằng văn bản. Bà đã giao đủ số tiền cho bà T1. Sau đó bà T1 kêu bà đưa thêm tiền và bà cũng đã thực hiện theo yêu cầu của bà T1, tổng số tiền trên 100 triệu đồng nhưng bà T1 không làm được thủ tục nên bà không đi được. Sau khi làm thủ tục không được bà T1 có trả lại tiền cho bà. Tuy nhiên, số tiền còn lại 24.800.000 đồng bà T1 không trả.
Nay bà yêu cầu bà Phạm Thị T2 trả lại cho bà số tiền 24.800.000 đồng.
- Tại bản ý kiến trình bày và đơn xin xét xử vắng mặt ngày 27/5/2025, bị đơn bà Phạm Ngọc T1 trình bày: Bà T1 thừa nhận vào năm 2024, bà có nhận làm hồ sơ bảo lãnh cho bà Nguyễn Diễm T đi xuất khẩu lao động tại nước Hàn Quốc. Hai bên chỉ thỏa thuận miệng không có làm văn bản. Với tổng số tiền 5.000 USD (đô la Mỹ). Trong đó 2.000 USD là chi phí cho Công ty M; 2.000 USD chi phí làm thủ tục; 1.000 USD chi phí tạm ứng đặc cọc chủ vườn (chủ vườn đi làm thủ tục tiếp nhận lao động). Khi nhận lời bà đã làm thủ tục đầy đủ hồ sơ cho bà T. Đến ngày 27/7/2024, Công ty M đã thông báo và bà đã thông báo lại cho bà T. Nội dung “Trong vòng 29 ngày tiếp theo phải nộp 3.000 USD để làm thủ tục xuất cảnh nhưng bà T không có tiền nộp xuất cảnh”. Đến ngày 01/9/2024, bà T mới nộp. Do trễ hạn nộp tiền nên phía chủ vườn đã thuê nhân công khác và đã hủy hợp đồng. Đồng thời chủ vườn cũng không hoàn lại số tiền 1.000 USD mà bà đã chuyển đặt cọc trước đó.
Sau khi không thực hiện được hợp đồng đưa bà T đi xuất khẩu lao động thì bà đã chuyển trả lại cho bà T số tiền 99.880.000 đồng (tương đương 4.000 USD). Số tiền còn lại 1.000 USD (tương đương 24.800.000 đồng) chủ vườn không trả cọc nên bà không trả được cho bà T. Từ đó bà T khởi kiện bà trả lại số tiền trên là không phù hợp, do bà T đã vi phạm trong việc chuyển tiền trễ nên đã bị chủ vườn hủy hợp đồng nên bà không đồng ý khởi kiện của bà T.
Tại phiên tòa nguyên đơn thay đổi một phần khởi kiện. Trong vụ việc này bà T1 cũng đã bỏ chi phí ra đi làm hồ sơ nên chỉ yêu cầu bà T1 trả một nữa số tiền 12.400.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền: Do bị đơn bà Phạm Ngọc T1 có nơi cư trú tại khóm A, thị trấn S, huyện T, tỉnh Cà Mau; nội dung tranh chấp: Đòi lại tài sản nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo khoản 2 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về tố tụng: Bà T1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt theo quy định.
- Tại phiên tòa nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiên, chỉ yêu cầu buộc bị đơn trả số tiền 12.400.000 đồng. Xét thấy đây là sự tự nguyện của nguyên. Căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng đân sự, chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.
[2] Về nội dung tranh chấp:
Theo nguyên đơn bà Nguyễn Diễm T có thỏa thuận miệng với bị đơn bà Phạm Ngọc Thu N làm thủ tục bảo lãnh cho nguyên đơn đi xuất khẩu lao động tại nước Hàn Quốc, tổng chi phí 5.000 USD (tương đương 124.680.000 đồng). Bị đơn đã nhận được số tiền trên xong. Tuy nhiên, không làm được thủ tục cho nguyên đơn xuất cảnh và bị đơn đã trả lại cho nguyên đơn số tiền 4.000 USD (tương đương 99.880.000 đồng), số tiền còn lại 1.000 USD (tương đương 24.800.000 đồng) Nguyên đơn không đồng ý trả.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Diễm T thay đổi một phần khởi kiện, chỉ yêu cầu bị đơn trả một nữa số tiền 12.400.000 đồng. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình; trong giai đoạn xét xử nguyên đơn có cung cấp cho Tòa án giấy nộp tiền, sao kê chuyển tiền, biên bản hòa giải ngày 12/02/2025 tại Công an thị trấn S có thể hiện nội dung bị đơn thừa nhận đã nhận 03 lần, số tiền 124.680.000 đồng (tương đương 5.000 USD) vào các ngày 15/01/2024, ngày 16/4/2024 và ngày 01/9/2024 trong thời gian làm hồ sơ. Sau khi không làm được đã chuyển trả lại cho nguyên đơn số tiền tương đương 4.000USD. Tại đơn trình bày ý kiến của bị đơn ngày 27/5/2025, bị đơn thừa nhận có nhận số tiền 124.680.000 đồng (tương đương 5.000USD) và đã trả lại 99.880.000 đồng (tương đương 4.000USD). Đây là tình tiết sự kiện có thật không cần phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự;
Đối với số tiền 24.800.000 đồng (tương đương 1.000 USD) bị đơn cho rằng đây là khoản tiền đặc cọc với nhà vườn để nguyên đơn xuất khẩu lao động đến làm việc tại nhà vườn nhưng do nguyên đơn nộp tiền trễ dẫn đến bị đơn nộp trễ nên vi phạm hợp đồng bị hủy bỏ, nhà vườn không trả lại số tiền trên.
Qua xem xét tài liệu, chứng cứ các tin nhắn qua Zalo của bị đơn cung cấp có thể hiện nội dung bị đơn thông tin cho nguyên đơn biết “Bên Cty họ bảo trừ phí hồ sơ và tiền nộp phí còn lại họ sẽ thanh toán lại. Chị chuyển tổng số tiền 48.300.000 đồng, trừ phí 1.000=24.800, còn lại 23.500. Em lấy tiền em gửi cho chế tới 15 họ tính hết em chuyển cho” (BL 103). Như vậy, bị đơn cho rằng số tiền 1.000 USD là tiền vi phạm hợp đồng đặc cọc nhà vườn không trả nhưng tại tin nhắn Z thì bị đơn cho rằng số tiền 1.000 USD là chi phí hồ sơ Công ty môi giới trừ chi phí. Trong khi bị đơn không thực hiện được thủ tục hồ sơ mà đã nhận đủ số tiền. Do đó, có cơ sở chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn.
[4] Về án phí:
Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên Nguyên đơn không phải chịu án phí. Bị đơn phải chịu án phí trên số tiền buộc trả cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 5, khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 điều 147, khoản 2 Điều 92, Điều 244; Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Các Điều 3, Điều 105, 166 của Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Diễm T. Buộc bị đơn bà Phạm Ngọc T1 trả cho bà Nguyễn Diễm T số tiền 12.400.000 đồng (Mười hai triệu bốn trăm nghìn đồng).
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Ngọc T1 phải chịu 620.000 đồng (Sáu trăm hai mươi nghìn đồng). Bà Nguyễn Diễm T không phải chịu án phí. Ngày 21/4/2025 bà T có dự nộp 620.000 đồng theo lai thu số 0005504 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời được nhận lại.
- Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
Kể từ ngày bà Nguyễn Diễm T có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Phạm Ngọc T1 không thi hành xong khoản tiền trên, bà Phạm Ngọc T1 còn phải chịu thêm khoản tiền lãi phát sinh theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.
Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Chí Công |
Bản án số 205/2025/DS-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về đòi lại tài sản
- Số bản án: 205/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đòi lại tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận khởi kiện
