Hệ thống pháp luật

1

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ

Bản án số: 205/2024/HS-ST.

Ngày: 18-11-2024.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Đại Long.
Thẩm phán: Ông Phạm Trường Du
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Như Hạnh
Bà Nguyễn Thị Mai Hoa.
Ông Nguyễn Quốc Nông

Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Hằng Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 207/2024/TLST-HS ngày 24/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 221/2024/QĐXXST-HS ngày 04/11/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đức D, tên gọi khác: Không - Sinh năm 1989; CCCD số: [...] cấp ngày 14/8/2021; Nơi sinh: Quảng Xương T.

Nơi thường trú và nơi ở hiện nay: Đ, phố T, phường Q, thành phố T; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Con ông: Nguyễn Đức P, sinh năm 1960 và bà: Nguyễn Thị N, sinh năm: 1962; Vợ: Phạm Thị T, sinh năm 1989; Có 02 con lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2018; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.

Tiền án: Không; Tiền sự: Không .

Bị tạm giữ từ ngày 08/7/2023; tạm giam từ ngày 13/7/2023 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Nguyễn Văn H Văn phòng L2, (Địa chỉ số B đường V, H, thành phố Hà Nội).

* Bị hại:

  1. Bà Dương Thị H1, Sinh năm 1965 (Có mặt)

2

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

  1. Anh Nguyễn Văn H2, Sinh năm 1972 (Có mặt)

Địa chỉ: Phố I, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

  1. Anh Trịnh Văn T1, Sinh năm 1987 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn Hảo Nam, xã Hoằng Quý, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa

  1. Công ty TNHH T7

Người được ủy quyền: Bà Lê Thị M sinh năm 1960 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Lô A+18+19 MBQH F phường Q, thành phố T.

  1. Chị Lê Thị T2, Sinh năm 1992 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn A, T, Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Bùi Anh V, Sinh năm 1993 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số A Q, Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

  1. Anh Nguyễn Bá Đ, Sinh năm 1993 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Phố T, Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

  1. Anh Vũ Ngọc A, Sinh năm 1995 (Có mặt)

Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

* Người làm chứng:

  • - Anh Lê Thiên Q, sinh năm 1994 (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn D, thị trấn T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa.
  • - Anh Nguyễn Bá Nguyên S năm (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
  • - Chị Đàm Thị T3, sinh năm 1981 (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Xóm F, xã P, huyện M, thành phố Hà Nội.
  • - Anh Trịnh Văn T4, sinh năm (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Đức D là Giám đốc công ty B (công ty B), do cần tiền chi tiêu cá nhân nên D đã giới thiệu bản thân có nhiều mối quan hệ nên có khả năng “chạy án” và là nhà phân phối mặt bằng của một số dự án để nhận tiền của nhiều bị hại, thuê xe ôtô đem đi cầm cố, sau đó chiếm đoạt, đến ngày 08/7/2023 thì đầu thú cụ thể như sau:

  1. Chiếm đoạt số tiền 275.000.000đ của bà Dương Thị H1:

3

Khoảng tháng 10/2022, do con trai là Vũ Văn Q1, Vũ Ngọc T5 bị công an bắt tạm giam nên bà Dương Thị H1 đã gặp Nguyễn Đức D để nhờ giúp đỡ. Mặc dù không có chức năng nhiệm vụ, không có mối quan hệ với người có thẩm quyền nhưng do cần tiền nên D giới thiệu với bà H1 mình có khả năng “chạy án”. Đến ngày 04/01/2023, D trao đổi với bà H1 đã liên hệ được để lo cho Q1 án 4 năm 6 tháng, còn T5 sẽ được tại ngoại trước tết và yêu cầu bà H1 đưa số tiền 280.000.000đ, bà H1 đưa trước cho D 30.000.000đ. Ngày 05/01/2023, D tiếp tục yêu cầu bà H1 đưa đủ số tiền còn thiếu nên bà H1 đã đưa cho D 110.000.000₫ và đưa cho Vũ Ngọc A là con trai bà H1 chuyển khoản vào tài khoản của D (số tài khoản 0781000457106 ngân hàng V1) số tiền 135.000.000đ. Tổng số tiền Nguyễn Đức D nhận của bà H1 là 275.000.000đ. Sau đó, do không thấy D thực hiện cam kết, con trai không được tại ngoại nên ngày 21/01/2023 (tức 30 tết) bà H1 yêu cầu D phải viết giấy nhận số tiền 280.000.000đ (nhưng thực tế chỉ nhận 275.000.000₫). Do bị bà H1 đòi tiền nhiều lần nên ngày 24/3/2023, Nguyễn Đức D đã chuyển trả vào tài khoản của Vũ Ngọc A số tiền 50.000.000đ. Toàn bộ số tiền đã nhận của bà H1, D sử dụng vào mục đích chi tiêu cá nhân, không thực hiện các nội dung đã thỏa thuận với bà H1. Bà H1 yêu cầu D phải trả cho bà số tiền 225.000.000₫.

  1. Chiếm đoạt số tiền 180.000.000đ của anh Nguyễn Văn H2:

Tháng 02/2022, gia đình anh Nguyễn Văn H2 có em trai là Nguyễn Công T6 sắp bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa xét xử về hành vi “Đánh bạc” nên anh H2 gặp Nguyễn Đức D nhờ “chạy án” xin án treo cho T6. Mặc dù không có khả năng nhưng do cần tiền nên D đồng ý và nói với anh H2 đưa số tiền 100.000.000đ để lo chi phí, xong việc cảm ơn sau. Ngày 16/02/2022, anh H2 đưa cho D 100.000.000₫ và được D viết giấy biên nhận tiền. Sau đó, Tòa án xét xử Nguyễn Công T6 tù giam, anh H2 hỏi thì D nói làm đơn xin phúc thẩm và xin giấy lập công. D yêu cầu anh H2 đưa thêm 80.000.000đ để xin giấy lập công. Ngày 26/9/2022, anh H2 đưa cho D 30.000.000đ và được D viết nhận thêm vào giấy nhận tiền trước đó. Khoảng cuối tháng 10/2022 anh H2 đưa tiếp cho D 30.000.000đ; do tòa hoãn xử nên tháng 02/2023, D yêu cầu anh H2 chuyển thêm 20.000.000đ vào tài khoản Nguyễn Bá Đ (là lái xe của D), sau đó Đ chuyển 20.000.000đ vào tài khoản của D. Tổng số tiền D đã nhận của anh H2 là 180.000.000.000đ. Sau khi xét xử phúc thẩm, anh T6 vẫn không được án treo nên gia đình anh H2 đòi tiền nhưng D không trả. Toàn bộ số tiền đã nhận của anh H2, D sử dụng chi tiêu cá nhân, không liên hệ với ai để xin cho anh T6 hưởng án treo. Anh H2 yêu cầu D phải trả cho anh số tiền 180.000.000đ.

  1. Chiếm đoạt số tiền 900.000.000đ của anh Trịnh Văn T1:

Ngày 24/9/2024 Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa đã ra quyết định trả hồ sơ số: 06/2024/HSST-QĐ cho Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa về việc: Cần

4

là rõ có hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của D về số tiền 900.000.000₫ có hay không? khi chuyển khoản tiền vào Công ty B thì số tiền này được sử dụng như thế nào? Ai là người sử dụng số tiền này? Công ty B có ai liên quan không? việc trao đổi mua bán đất giữa anh T1 và bị cáo D có liên quan đến anh Nguyễn Bá N1 như thế nào?.

Dự án khu dân cư phía tây đường L, phường B, thành phố S do công ty cổ phần Đ1 là nhà đầu tư theo quyết định công nhận trúng đấu giá số 358/QĐ-UBND ngày 20/01/2022 của UBND tỉnh T .

Tháng 5/2022, anh Trịnh Văn T1 đến Công ty B để mua đất. Mặc dù công ty B và bản thân Nguyễn Đức D không được nhà đầu tư giao phân phối nhưng do cần tiền nên D giới thiệu Công ty B là nhà phân phối mặt bằng khu dân cư phía tây đường L, phường B, thành phố S (mặt bằng 3161). Trên giấy tờ thành lập doanh nghiệp Công ty cổ phần B gồm Đàm Thị T3 làm Chủ tịch hội đồng quản trị, Nguyễn Đức D là Giám đốc, Trần Việt Bình M1 là cổ đông của công ty. Tuy nhiên, mọi hoạt động củan công ty cổ phần B do Nguyễn Đức D điều hành, Đàm Thị T3 và Trần Viết Bình M2 không tham gia. Tin lời D nên anh T1 đã làm thủ tục đặt cọc 03 lô đất thuộc mặt bằng 3161 với D. Ngày 31/5/2022, tại công ty B, anh T1 làm thủ tục đặt cọc 02 lô đất LK 04-10 và L3, D báo giá đất và yêu cầu anh T1 đặt cọc mỗi lô 300.000.000đ, anh T1 đã đưa 50.000.000đ tiền mặt cho D và chuyển khoản số tiền 550.000.000đ vào tài khoản 102522888 mở tại Ngân hàng V1 của công ty cổ phần B để đặt cọc lô đất LK04-10 LK04-11. Ngày 12/6/2022, anh Trịnh Văn T1 sử dụng tài khoản 50110000905212 mờ tại ngân hàng B1 chuyển đến tài khoản 50110000660645 mờ tại Ngân hàng B1 của anh Trịnh Văn T4 (là anh trai của Trịnh Văn T1) để nhờ anh T4 đặt cọc lô đất LK04-9; ngày 13/6/2022, anh Trịnh Văn T4 đã sử dụng tài khoản B1 chuyển đến số tài khoản 1025222888 mở tại Ngân hàng V1 của công ty cổ phần B số tiền 50.000.000 đồng đề đặt cọc lô đất LK04-9; Ngày 03/8/2022, anh Trịnh Văn T1 sử dụng tài khoản 50110000905212 mở tại ngân hàng B1 chuyền đến tài khoản 1025222888 mở tại Ngân hàng V1 của công ty cổ phần B số tiền 200.000.000 đồng để đặt cọc lô đất LK04-9; Ngày 05/8/2022, anh Trịnh Văn T1 sử dụng tài khoản 50110000905212 mở tại ngân hàng B1 chuyển đến tài khoản 1025222888 mở tại Ngân hàng V1 của công ty cổ phần B Số tiền 50.000.000 đồng để đặt cọc lô đất LK04-9. D hẹn đến tháng 10/2022 chủ đầu tư sẽ triển khai dự án và ra sổ cho anh T1. Sau khi có tiền vào tài khoản của Công ty, Nguyễn Đức D đã chuyển toàn bộ số tiền trên đến tài khoản 0781000457106 mở tại Ngân hàng V1 của cá nhân Nguyễn Đức D.

Do thấy đã quá thời hạn D trao đổi về việc chủ đầu tư triển khai dự án nên ngày 21/12/2022 anh T1 gặp D và được D viết giấy nhận của anh T1 tổng số tiền 900.000.000đ, hẹn ngày 31/12/2022 sẽ hoàn trả toàn bộ tiền cho anh T1. Do bị

5

đòi nhiều lần nên D đã trả lại cho anh T1 180.000.000đ. D sử dụng tiền vào mục đích tiêu xài cả nhân không phục vụ cho hoạt động của công ty, không bảo lại cho các thành viên của công ty biết. Anh T1 yêu cầu D phải trả lại cho anh số tiền 720.000.000₫.

Quá trình giao dịch lô đất thuộc mặt bằng 3161 giữa Nguyễn Đức D và anh Trịnh Văn T1 không có sự tham gia của anh Nguyễn Bá N1 và anh N1 cũng không có hưởng lợi từ nguồn tiền mà D đã nhận của anh T1.

  1. Chiếm đoạt xe ôtô 36A-830.17 của công ty TNHH T7, theo Kết luận định giá tài sản số 74/KL-HĐĐGTS ngày 14/6/2023của hội đồng định giá tài sản trị giá là 459.000.000đ.

Do cần tiền nên Nguyễn Đức D nảy sinh ý định thuê xe ôtô cầm cố lấy tiền. Ngày 23/12/2022, D mượn giấy phép lái xe của Nguyễn Bá Đ (là lái xe của công ty) và nhờ Đ đi cùng đến Công ty TNHH T7 làm hợp đồng thuê xe ô tô 36A-830.17 thời hạn 01 tháng, Đ là người ký vào hợp đồng thuê xe phần người lái xe, D ký vào phần người thuê xe. Đến ngày 24/12/2022, D đem xe đến thế chấp cho anh Bùi Anh V để lấy số tiền 250.000.000đ và dùng tiêu xài cá nhân hết. Nguyễn Đức D và Bùi Anh V khai báo, do V yêu cầu nên D đã viết giấy bán xe cho V. Khi hết thời hạn thuê D xin gia hạn và được công ty đồng ý. Đến tháng 02/2023, công ty yêu cầu D đem xe đến thay dầu nên D đã yêu cầu Bùi Anh V đem xe đến công ty để Nguyễn Bá Đ đem xe xuống công ty T7, sau đó D tiếp tục hợp đồng thuê. Hàng tháng, D có trả tiền thuê xe cho công ty, đến tháng 4/2023 D không trả tiền thuê xe, công ty yêu cầu trả xe nhưng D không trả. Quá trình điều tra, anh Bùi Anh V đã tự nguyện giao nộp xe ôtô 36A-830.17 cho Cơ quan điều tra, sau đó chiếc xe đã được giao trả cho Công ty TNHH T7, hiện công ty không có yêu cầu gì về phần dân sự.

  1. Chiếm đoạt số tiền 200.000.000đ của chị Lê Thị Thu

Chị Lê Thị T2 có chồng là Nguyễn Hoàng L bị cơ quan điều tra bắt tạm giam về hành vi Giết người. Do được giới thiệu về việc Nguyễn Đức D có khả năng lo được việc tại ngoại nên khoảng tháng 4/2023, chị T2 đã đi cùng anh Lê Thiên Q (là bạn của chồng) đến gặp D, mặc dù không có khả năng nhưng D vẫn nói với chị T2 để lo tại ngoại cho L thì phải mất 200.000.000đ. Ngày 24/4/2023, chị T2 đi cùng anh Q đến gặp và đưa cho D 50.000.000đ, D hứa sau kỳ nghỉ lễ 30/4 thì chồng chị sẽ được về. Ngày 28/4/2023, D nhắn tin yêu cầu chị T2 đưa tiếp 100.000.000đ, đến 29/4/2023, chị T2 gặp D và Nguyễn Bá Đ, D yêu cầu chị T2 đưa tiền cho Đ. Sau khi cầm tiền, Đ chuyển tiền vào tài khoản của mình số tiền 100.000.000đ, sau đó Đ chuyển vào tài khoản 0781000457106 của Nguyễn Đức D số tiền 84.000.000đ, số tiền còn lại theo khai báo của D và Đ thì Đ sử dụng chi trả chi phí của công ty B theo chỉ đạo của D. Sau khi thấy chồng không được tại ngoại, ngày 31/5/2023, chị T2 lên công ty B gặp D và được D viết giấy

6

nhận số tiền 200.000.000đ (nhưng thực tế mới nhận 150.000.000₫), đồng thời D yêu cầu chị T2 còn 50.000.000₫ lo nốt để “đưa cho các bác” nên ngày 01/6/2023 chị T2 đã chuyển cho D số tiền 50.000.000đ, D hứa đến 05/6/2023 chồng chị T2 được tại ngoại. Sau đó, do chồng không được tại ngoại nên chị T2 nhiều lần đòi tiền nhưng D không trả. Nguyễn Đức D đã sử dụng toàn bộ số tiền đã nhận của chị T2 để chi tiêu cá nhân. Chị T2 yêu cầu D phải trả lại cho chị số tiền 200.000.000₫.

Tổng số tiền bị cáo Nguyễn Đức D chiếm đoạt của các bị hại là 2.014.000.000₫.

Sau khi nhận tiền và tài sản của các bị hại, Nguyễn Đức D đều sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân, cầm cố tài sản để lấy tiền, không liên hệ “Chạy án”, mua đất như thỏa thuận.

Kết luận giám định chữ ký, chữ viết trong 08 giấy biên nhận, giấy bán xe, phiếu đăng ký giữ chỗ đặt cọc là chữ ký, chữ viết của Nguyễn Đức D.

* Về hành vi của Nguyễn Bá Đ ký vào hợp đồng thuê xe, nhận số tiền 20.000.000đ của anh Nguyễn Văn H2, 100.000.000đ của chị Lê Thị T2.

Kết quả điều tra cho thấy Nguyễn Bá Đ là người làm thuê cho Nguyễn Đức D, không được bàn bạc, không biết mục đích, chỉ làm theo sự chỉ đạo của D và không được hưởng lợi gì nên không có căn cứ xử lý.

* Phần dân sự: D đã trả lại cho bà H1 50.000.000đ, trả cho anh T1 180.000.000đ. Các bị hại yêu cầu Nguyễn Đức D hoàn trả đầy đủ tiền chiếm đoạt: Bà Dương Thị H1 yêu cầu được trả lại 225.000.000đ, anh Nguyễn Văn H2 180.000.000₫, anh Trịnh Văn T1 720.000.000đ, chị Lê Thị Thu 2, tổng 1.325.000.000₫.

Ngày 13/8/2024 ông Nguyễn Đức K nộp thay cho Nguyễn Đức D số tiền 5.000.000đ để khắc phục một phần hậu quả theo biên lai số 0000299 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.

Ngày 14/11/2024 ông Nguyễn Đức K nộp thay cho Nguyễn Đức D số tiền 3.000.000đ để khắc phục một phần hậu quả theo biên lai số 0000521 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa bị cáo D đề nghị trả cho bà Dương Thị H1 số tiền 5.000.000₫ này nên bà H1 yêu cầu bị cáo trả tiếp 220.000.000đ.

Tại phiên tòa bị cáo D đề nghị trả cho anh Nguyễn Văn H2 số tiền 2.000.000đ và anh Trịnh Văn T1 số tiền 1.000.000₫ nên anh Nguyễn Văn H2 yêu cầu bị cáo trả tiếp 178.000.000đ. Anh Trịnh Văn T1 yêu cầu bị cáo trả tiếp số tiền 719.000.000₫

7

Qua quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, sau khi xét hỏi và tranh luận, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Cáo trạng số: 31/CTr-VKS-P3 ngày 09/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Nguyễn Đức D về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa đề nghị Hội đồng xét xử:

  • * Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
  • * Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo D từ 12 năm 6 tháng đến 13 năm 6 tháng tù; Thời gian chấp hành án được trừ thời hạn tạm giữ, tạm giam.
  • * Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có công ăn việc làm ổn định, tài sản riêng không có, không có khả năng thi hành án nên đề nghị không áp dụng.
  • * Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 BLHS, các Điều 584, 585, 586, 587 BLDS.

Buộc bị cáo Nguyễn Đức D phải trả lại cho bà Dương Thị H1 số tiền 220.000.000đ, anh Nguyễn Văn H2 số tiền 178.000.000đ, anh Trịnh Văn T1 số tiền 719.000.000đ, chị Lê Thị T2 số tiền 200.000.000đ.

  • * Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết 326 về mức thu án phí, lệ phí buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự có giá ngạch theo quy định của pháp luật.
  • * Luật sư bào chữa cho bị cáo có quan điểm: Về tội danh và luận tội đều thống nhất với quan điểm của Viện Kiểm sát không có tranh luận.

Đề nghị hội đồng xét xử xem xét bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đã bồi thường một phần thiệt hại, gia đình hoàn cảnh khó khăn, bố đẻ là người có công với cách mạng, sau khi phạm tội đã đầu thú nên cho bị cáo hưởng điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Áp dụng Điều 54 cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới khung hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, cải tạo tốt sớm trở về với gia đình và cộng đồng.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận, xin lỗi các bị hại về hành vi của mình và xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm được về hòa nhập với cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

8

[1].Về tố tụng: Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên. VKSND tỉnh Thanh Hóa, Kiểm sát viên, L1 sư trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, truy tố, của các bị hại; Các kết luận giám định, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Do cần tiền chi tiêu cá nhân nên Nguyễn Đức D mặc dù không có khả năng để thực hiện các công việc có liên quan đến xin tại ngoại, xin án treo, không được giao phân phối mặt bằng dự án đất nhưng vẫn đưa ra các thông tin gian dối, không có thật để nhận số tiền 275.000.000đ của bà Dương Thị H1, 180.000.000₫ của anh Nguyễn Văn H2, 200.000.000₫ của chị Lê Thị T2 với hứa hẹn “chạy án, xin án treo” cho người thân của bị hại, nhận số tiền 900.000.000đ đặt cọc mua 03 lô đất của anh Trịnh Văn T1 và thuê xe ôtô 36A.703.17 trị giá 459.000.000₫ của công ty T7 sau đó đem cầm cố lấy tiền và sử dụng toàn bộ số tiền chiếm đoạt để tiêu xài cá nhân, không thực hiện cam kết thỏa thuận khi nhận tiền và không trả lại tài sản. Tổng số tiền chiếm đoạt của các bị hại là 2.014.000.000₫ (Hai tỷ không trăm mười bốn triệu đồng).

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả do hành vi phạm tội của mình đã gây ra.

Bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối đưa ra những thông tin không có thật để nhận tiền, nhận tài sản sử dụng vào mục đích cá nhân là có ý thức lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn, xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ và gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Bị cáo có nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm vì tư lợi nên phạm tội do lỗi cố ý trực tiếp.

Động cơ và mục đích của bị cáo là muốn có tiền để chi tiêu, cá nhân nên đã phạm tội.

[3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

+ Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, không có tiền án, tiền sự.

9

+ Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.

+ Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo; trước khi bị bắt đã trả cho bà H1 50.000.000đ, trả cho anh T1 180.000.000đ, ngày 13/8/2024 và ngày 14/11/2024 gia đình đã nộp tổng 8.000.000đ để khắc phục một phần hậu quả; gia đình có bố là Bệnh binh hạng 2, bị cáo đã đầu thú nên được hưởng theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nên cần phải xử phạt tù để giáo dục, cải tạo và răn đe phòng ngừa chung.

Về hành vi của Nguyễn Bá Đ ký vào hợp đồng thuê xe, nhận số tiền 20.000.000đ của anh Nguyễn Văn H2, 100.000.000đ của chị Lê Thị T2. Kết quả điều tra cho thấy Nguyễn Bá Đ là người làm thuê cho Nguyễn Đức D, không được bàn bạc, không biết mục đích, chỉ làm theo sự chỉ đạo của D và không được hưởng lợi gì nên không có căn cứ xử lý như trong hồ sơ là phù hợp.

[4] Về hình phạt bổ sung: Bản thân bị cáo không có khả năng để đảm bảo thi hành án nên không áp dụng hình phạt tiền, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 BLHS, Điều 584, 585, 586, 587 BLDS.

Bà Dương Thị H1 được nhận số tiền 5.000.000₫ do ông Nguyễn Đức K nộp thay cho Nguyễn Đức D để khắc phục một phần hậu quả theo biên lai số 0000299, ngày 13/8/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.

Anh Nguyễn Văn H2 được nhận số tiền 2.000.000đ và anh Trịnh Văn T1 được nhận số tiền 1.000.000₫ do ông Nguyễn Đức K nộp thay cho Nguyễn Đức D để khắc phục một phần hậu quả theo biên lai số 0000521, ngày 14/11/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.

Buộc bị cáo Nguyễn Đức D phải tiếp tục trả lại cho bà Dương Thị H1 số tiền 220.000.000₫, anh Nguyễn Văn H2 số tiền 178.000.000đ, anh Trịnh Văn T1 số tiền 719.000.000đ, chị Lê Thị T2 số tiền 200.000.000đ là phù hợp.

[6] Về xử lý vật chứng: Vật chứng cơ quan điều tra thu giữ đã xử lý Hội đồng xét xử miễn xét.

[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu số tiền 51.510.000đ (Năm mươi một triệu năm trăm mười nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự.

Đề nghị về hình phạt và bồi thường của Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự .

*Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Đức D phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

*Xử phạt bị cáo: Nguyễn Đức D 13 (mười ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày 08 tháng 7 năm 2023.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo

*Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 BLHS, Điều 584, 585, 586 BLDS.

Buộc bị cáo Nguyễn Đức D phải tiếp tục trả lại cho bà Dương Thị H1 số tiền 220.000.000đ, anh Nguyễn Văn H2 số tiền 178.000.000đ, anh Trịnh Văn T1 số tiền 719.000.000đ, chị Lê Thị T2 số tiền 200.000.000₫.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày các bị hại có tên ở trên có đơn yêu cầu thi hành án, cho đến khi thi hành án xong số tiền ở trên bên phải thi hành án, còn phải chịu khoản tiền lãi suất của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bà Dương Thị H1 được nhận số tiền 5.000.000₫ ông Nguyễn Đức K nộp thay cho Nguyễn Đức D để khắc phục một phần hậu quả theo biên lai số0000299, ngày 13/8/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.

Anh Nguyễn Văn H2 được nhận số tiền 2.000.000đ và anh Trịnh Văn T1 được nhận số tiền 1.000.000₫ do ông Nguyễn Đức K nộp thay cho Nguyễn Đức D để khắc phục một phần hậu quả theo biên lai số 0000521, ngày 14/11/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.

*Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo: Nguyễn Đức D phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và phải chịu số tiền 51.510.000đ (Năm mươi một triệu năm trăm mười nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hình sự.

11

*Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 BLTTHS.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bị hại, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 18 tháng 11 năm 2024).

Bị hại, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - TAND, VKSND Cấp cao HN;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hoá;
  • - Công an tỉnh Thanh Hoá;
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hoá;
  • - UBND nơi bị cáo thường trú;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Vũ Đại Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 205/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 205/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger