Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 205/2024/HS-ST

Ngày: 18-9-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Triệu Văn Giản

Bà Trịnh Thị Kim Cúc

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Lam – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Trần Anh Đức - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 180/2024/TLST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 180/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Vũ Ngọc T, sinh năm 1960 tại tỉnh Nam Định; nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số A V, phường Q (địa chỉ cũ: Số A V, phường T), thành phố N, tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 10/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn T1 và bà Trần Thị M; có vợ là Trần Thị Thanh H và 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20-7-2024. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

- Bị hại:

  1. Chị Phùng Thị Thu H1, sinh năm 1979 (đã chết).

Những người đại diện hợp pháp của chị Phùng Thị Thu H1:

Ông Phùng Hữu H2, sinh năm 1954; Nơi cư trú: Số A B, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định.

Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1953; Nơi cư trú: Số A B, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định.

Anh Trần Văn T2, sinh năm 1975; Nơi cư trú: Số A Ô, phường Q, (địa chỉ cũ: Số A Ô, phường H), thành phố N, tỉnh Nam Định.

Anh Trần Việt H3, sinh năm 2002; Nơi cư trú: Số A Ô, phường Q, (địa chỉ cũ: Số A Ô, phường H), thành phố N, tỉnh Nam Định.

Cháu Trần Việt C1, sinh năm 2008; Nơi cư trú: Số A Ô, phường Q, (địa chỉ cũ: Số A Ô, phường H), thành phố N, tỉnh Nam Định.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Phùng Hữu H2, bà Nguyễn Thị C và cháu Trần Việt C1 là:

Anh Trần Văn T2, sinh năm 1975; Nơi cư trú: Số A Ô, phường Q, (địa chỉ cũ: Số A Ô, phường H), thành phố N, tỉnh Nam Định. (Có đơn đề nghị vắng mặt)

Anh Trần Việt H3, sinh năm 2002; Số 14H Ô19, phường Q, (địa chỉ cũ: Số A Ô, phường H), thành phố N, tỉnh Nam Định. (Vắng mặt)

  1. Anh Vũ Thanh T3, sinh năm 1978; Nơi cư trú: Số H N, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định.

Người đại diện theo ủy quyền của anh Vũ Thanh T3 là: Chị Mai Tuyết A, sinh năm 1979; Nơi cư trú: Số H N, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định. (Có đơn đề nghị vắng mặt)

  1. Chị Phạm Thị C2, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Xóm C, xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định. (Có đơn đề nghị vắng mặt)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Bà Trần Thị Thanh H, sinh năm 1965; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Số A V, phường Q (địa chỉ cũ phường T), thành phố N, tỉnh Nam Định. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 09/4/2024, Vũ Ngọc T (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển ô tô biển kiểm soát (BKS) 30E - 659.53 đi trên đường Đ hướng từ đường T về đường G, phường C, thành phố N trong điều kiện đường Đ là đường 2 chiều, mặt đường được trải nhựa bằng phẳng, ở giữa có vạch sơn màu vàng kẻ đứt đoạn để phân chia thành hai chiều đường riêng biệt, trời sáng, thời tiết có mưa nhỏ, mặt đường ướt, tầm nhìn không bị hạn chế, mật độ người và phương tiện tham gia giao thông đông. T điều khiển xe ô tô đi tại khu vực giữa đường, bánh xe bên trái xe ô tô đè lên vạch sơn kẻ đứt đoạn ở giữa đường, bánh xe bên phải cách mép đường bên phải khoảng 5m, với tốc độ khoảng 50km/h. Khi đến cách khu vực trước cửa nhà số A đường Đ khoảng 100m, T không tập trung quan sát phía trước mà chỉ quan sát bên trái để rẽ vào đường Đ. Lúc này bà Phùng Thị Thu H1, sinh năm 1979, trú tại 14H ô 19, phường H, thành phố N điều khiển xe máy điện nhãn hiệu Dibao BKS 18MĐ1- 129.97 đi theo chiều ngược lại đang chuyển hướng từ phải sang trái theo hướng bà H1 đi với tốc độ khoảng 10km/h. Khi xe máy điện đi qua vạch sơn vàng kẻ đứt đoạn ở giữa đường khoảng 0,5m cách xe ô tô của T khoảng 02m thì T mới phát hiện. Do khoảng cách quá gần, T không giữ được bình tĩnh nên đã đánh lái sang trái và đạp phanh nhưng nhầm sang chân ga khiến xe ô tô đột ngột tăng tốc độ lên khoảng 80km/h làm phần đầu bên phải xe ô tô xô vào phần đầu bên trái xe máy điện làm bà H1 bị ngã ra đường, xe máy điện bị hất văng lên vỉa hè bên phải đường Điện Biên theo hướng T đi. Trong quá trình văng lên vỉa hè phần má lốp sau bên phải xe máy điện đã va chạm với phần sau của chắn bùn bánh sau, biển kiểm soát bên phải xe mô tô BKS 18B1-075.69 do ông Trần Đại V, sinh năm 1958, trú tại A Điện Biên, phường C, thành phố N đang dựng trước cửa nhà. Sau khi xô vào xe máy điện túi khí phía trước trên vô lăng xe ô tô bị bung che hết mắt làm cho T không quan sát được phía trước, chân của T vẫn đạp ở chân ga nên xe ô tô tiếp tục lao về phía trước sang phần đường dành cho xe đi ngược chiều với vận tốc khoảng 80km/h làm phần ba đờ sốc trước, tai xe bên trái xe ô tô xô vào cánh yếm bên trái xe mô tô Honda Lead BKS 35B2- 234.46 do chị Phạm Thị C2, sinh năm 1992, trú tại xóm C V, xã N, thành phố N điều khiển theo hướng ngược lại cách mép đường bên phải theo hướng đi khoảng 6,5m với tốc độ khoảng 20km/h. Sau va chạm, xe mô tô và chị C2 bị hất văng về phía mép đường bên phải đường Đ theo hướng đi của chị C2, làm phần tay nắm yên xe mô tô va chạm với tai xe bên lái xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Lux A BKS 18A-324.58 của chị Trần Hoài L, sinh năm 1999, trú tại C P, phường L, thành phố N đang đỗ trước cửa nhà số G Điện Biên. Xe ô tô của T tiếp tục tiến về phía trước làm phần mặt ca lăng, ba đờ sốc trước xe ô tô va chạm với má lốp, vành xe, càng xe, bánh trước bên trái xe mô tô BKS 18P1-

3169 do ông Vũ Thanh T3, sinh năm 1978, trú tại H N, phường C, thành phố N điều khiển theo hướng ngược lại, đang đi cách mép đường bên phải theo hướng đi khoảng 02m với tốc độ 25km/h. Sau khi va chạm ông T3 bị ngã ra đường, xe mô tô bị hất văng về phía mép đường bên phải chiều đi làm phần chắn bùn phía sau bánh sau, biển kiểm soát, cụm đèn chiếu hậu, xi nhan sau xe mô tô va chạm với ba đờ sốc, cụm đèn chiếu sáng trước bên lái xe ô tô, nhãn hiệu Wigo BKS 18A-368.66 của anh Nguyễn Chung Q, sinh năm 1990, trú tại 22A khu quân nhân, tổ A, phường C, thành phố N đang đỗ trước cửa số nhà G Điện Biên. Ô tô do T điều khiển tiếp tục xô vào tường nhà bà Lương Thị B, sinh năm 1966, trú tại G Điện Biên, phường C, thành phố N làm hư hỏng tường nhà, cửa sắt xếp nhà bà B và biển quảng cáo của anh Trần Mạnh H4, sinh năm 1991, trú tại 3 T, phường M, thành phố N lắp trước cửa số nhà G Điện Biên, phường C, thành phố N. Sau đó xe ô tô do T điều khiển bị văng ra làm phần cánh cửa trước, cánh cửa sau bên phụ va chạm với biển kiểm soát, ba đờ sốc trước, ca lăng, cụm đèn chiếu sáng, nắp ca pô bên phụ xe ô tô của anh Nguyễn Chung Q. Hậu quả:

- Về tài sản:

  • + Xe máy điện nhãn hiệu Dibao BKS 18MĐ1 - 129.97 của bà Phùng Thị Thu H1 bị hư hỏng phần đầu xe, bánh xe, đèn pha và đèn xi nhan phía trước xe, hư hỏng phần khung xe.
  • + Xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade BKS 18B1 - 075.69 của ông Trần Đại V bị hư hỏng phần đuôi xe, đèn hậu phía sau xe.
  • + Xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead BKS 35B2 - 234.26 của chị Phạm Thị C2 bị vỡ toàn bộ phần vỏ xe; hư hỏng phần bánh xe, càng xe phía trước, đèn xe phía trước; khung xe bị cong gập.
  • + Xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Lux A2.0 BKS 18A-324.58 của chị Trần Hoài L bị trầy xước phần tai xe phía trước bên lái.
  • + Xe mô tô nhãn hiệu Honda Click BKS 18P1 - 3169 của ông Vũ Thanh T3 bị vỡ toàn bộ phần vỏ xe; hư hỏng phần càng xe, khung xe, bánh xe phía trước; đèn pha phía trước và phía sau xe; vỡ lốc máy.
  • + Xe ô tô nhãn hiệu Toyota Wigo BKS 18A - 368.66 của anh Nguyễn Chung Q bị hư hỏng phần đèn pha 2 bên phía trước xe, hư hỏng đầu xe, hư hỏng cánh cửa phía trước bên lái xe.
  • + Cửa sắt xếp nhà số G Điện Biên, phường C, thành phố N của bà Lương Thị B bị hư hỏng hoàn toàn.
  • + Biển quảng cáo lắp trước cửa số G Điện Biên, phường C, thành phố N của anh Trần Mạnh H4 bị hư hỏng hoàn toàn.

-Về người:

  • + Bà Phùng Thị Thu H1 bị thương tích gãy đầu dưới hai xương cẳng chân bên phải, gãy đầu dưới xương mác chân trái, gẫy gai ngang đốt sống thắt lưng L5, vỡ xương chậu, tràn dịch màng phổi hai bên; chấn thương sọ não: xuất huyết dưới nhện, đến ngày 19-4-2024, do thương tích nặng nên đã tử vong.
  • + Ông Vũ Thanh T3 bị thương tích: cụt 1/3 cẳng chân bên trái, gãy xương đùi trái, gãy hở xương cẳng chân bên trái, vết thương lóc da vùng đầu kích thước khoảng 15cm.
  • + Chị Phạm Thị C2 bị thương tích vết thương sây sát da mặt ngoài đùi trái, mu trái, rách da chảy máu vùng đỉnh đầu bên trái.
  • + Vũ Ngọc T bị gãy xương sườn số 2,3,4,5,6 bên trái.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, vẽ sơ đồ hiện trường. Kết quả như sau:

Đường Đ rộng 14m05 được trải nhựa bằng phẳng, trơn ướt, ở giữa có vạch sơn vàng kẻ đứt đoạn phân chia mặt đường thành hai phần xe chạy ngược chiều riêng biệt. Chiều đường xe đi từ phía đường T về phía đường G ở trên đường Đ rộng 7m35 và có vỉa hè rộng 3m. Vỉa hè bên phải theo chiều xe đi từ phía đường G về phía đường T ở trên đường Đ rộng 2m25.

  1. Vết nhựa vỡ thứ nhất: gồm các mảnh nhựa vỡ màu đen nằm trên mặt đường Đ tâm cách mép đường chuẩn (mép đường bên phải trên đường Đ theo chiều xe đi từ phía đường T về phía đường G) là 7m50.
  2. Vết nhựa vỡ thứ 2: gồm những mảnh nhựa vỡ màu trắng và màu đen nằm trên mặt đường Đ, tâm vết cách mép đường chuẩn là 6m90 và cách vết nhựa thứ nhất 15m10.
  3. Xe máy điện 18MĐ1- 129.97 đổ ngả trái ở trên vỉa hè bên phải trên đường Đ theo hướng xe đi từ đường T về phía đường G. Đầu xe hướng về phía đường G và xiên chéo về mép đường chuẩn, đuôi xe hướng về phía đường T và hơi xiên chéo. Trục bánh sau cách mép đường chuẩn 1m35 và cách tâm vết nhựa vỡ thứ 2 là 9m10. Trục bánh trước cách mép đường chuẩn 0,30m.
  4. Xe mô tô 18B1-075.69 dựng thẳng đứng ở trước cửa số nhà A đường Đ. Đầu xe hướng vào nhà số A Điện Biên, đuôi xe hướng ra phía đường Đ. Trục bánh sau cách mép đường chuẩn là 1m70 và cách trục bánh sau xe máy điện 18MĐ1- 129.97 là 0m50. Trục bánh trước cách mép đường chuẩn là 2m80.
  5. Xe ô tô 18A-324.58 dừng trên mặt đường Đ có chiều từ phía đường G về đường T, đuôi xe hướng về phía đường G. Trục bánh trước bên trái xe cách mép đường chuẩn là 11m85 và cách trục phía trước bánh trước xe máy điện

18MĐ1- 129.97 là 13m10. Trục bánh sau bên trái xe cách mép đường chuẩn là 11m90.

  1. Xe mô tô 35B2-234.26 đổ ngả trái trên mặt đường Đ. Đầu xe hướng về đường T và xiên chéo về bên mép đường theo hướng xe đi từ G về T. Đuôi xe hướng về phía đường G và xiên chéo về phía mép đường chuẩn. Trục bánh trước cách mép đường chuẩn 9m35 và cách trục bánh sau bên trái xe ô tô 18A- 324.58 là 5m90. Trục bánh sau cách mép đường chuẩn là 8m.
  2. Xe ô tô 30E-659.53 dừng xiên chéo xe, đầu xe ở trên vỉa hè theo chiều xe đi trên đường Đ từ phía đường G về T. Đuôi xe ở dưới mặt đường Điện Biên, trục bánh trước bên trái xe cách mép đường chuẩn 13m80 và cách trục bánh sau xe mô tô 35B2-234.26 là 17m30. Trục bánh sau bên trái xe cách mép đường chuẩn 11m80.
  3. Vị trí cánh cửa sắt rơi ở trên vỉa hè đường Đ theo chiều xe đi từ phía đường G về phía đường T. Cánh cửa sắt màu xanh bị bung ra khỏi vị trí ban đầu ở trên tường nhà số G đường Đ và đổ xuống vỉa hè. Cánh cửa sắt dài 2m15, rộng 0,30. Phần tường bắt giữ cánh cửa sắt của nhà số G đường Đ bị rơi cánh cửa sắt ra có kích thước dài 2m73 rộng 0m30. T4 vết cửa sắt rơi cách mép đường chuẩn 15m20 và cách trục bánh trước bên trái xe ô tô 30E-659.53 là 1m50.
  4. Vết máu ở trên mặt đường Đ, vết có kích thước dài 0m65 rộng 0m60. T4 vết máu cách mép đường chuẩn là 11m15 và cách trục bánh sau bên phải xe ô tô 30E-659.53 là 2m50.
  5. Xe ô tô 18A-368.66 dừng hẳn trên mặt đường Đ, đầu xe hướng về phía đường T, đuôi xe hướng về phía đường G. Trục bánh trước bên trái cách mép đường chuẩn là 12m05 và cách tâm vết máu là 1m70. Trục bánh sau bên trái xe cách mép đường chuẩn là 11m95.
  6. Xe mô tô 18P1-3169 đổ ngả trái ở trên mặt đường Đ, đầu xe hướng về phía đường T, đuôi xe hướng về phía đường G. Trục bánh sau cách mép đường chuẩn là 3m80 và cách trục bánh sau bên trái xe ô tô 18A-368.66 là 8m25.
  7. Vết cày thứ nhất nằm trên đường Đ, có chiều từ phía đường T về phía đường G và hơi xiên chéo từ bên mép đường chuẩn sang bên mép đường bên trái. Vết có kích thước dài 0m45 rộng 0m12. Điểm đầu vết cách mép đường chuẩn 9m15 và cách tâm vết nhựa vỡ thứ 2 là 4m58.
  8. Vết cày thứ 2 nằm trên đường Đ có chiều hướng như vết cày thứ nhất. Điểm đầu vết cày cách mép đường chuẩn 9m20 và cách điểm cuối vết cày thứ nhất là 0m12. Điểm cuối vết cách mép đường chuẩn 9m45 và cách trục bánh

trước bên trái xe ô tô 18A-324.58 là 4m65. Vết có kích thước dài 0m50 rộng 0m12.

  1. Vết cày thứ 3 nằm trên đường Đ có chiều từ phía đường T về phía đường G và xiên chéo từ mép đường bên trái về phía mép đường chuẩn. Điểm đầu vết cách mép đường chuẩn là 10m90 và cách trục bánh sau bên trái xe ô tô 18A-324.58 là 1m30. Điểm cuối vết cách mép đường chuẩn là 10m80.

Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã trích xuất và thu giữ 01 đoạn Video Clip từ Camera an ninh lắp đặt tại khu vực trước cửa số nhà H đường Đ (Ký hiệu A1); 01 đoạn Video Clip từ Camera ninh lắp đặt tại khu vực trước cửa số nhà G đường Đ (Ký hiệu A2) ; 01 đoạn Video Clip từ Camera an ninh lắp đặt tại khu vực trước cửa số nhà A đường Đ (Ký hiệu A3) ghi lại diễn biến nội dung vụ tai nạn giao thông nêu trên.

Kết luận giám định số 060/KLGĐĐC-TTPY; số 061/ KLGĐĐC TTPY ngày 26/4/2024 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh N, kết luận: Không tìm thấy nồng độ cồn trong máu của Vũ Ngọc T; Không tìm thấy các chất ma túy trong máu của Vũ Ngọc T.

Kết luận giám định số 46/24/TgT ngày 07/5/2024 của Trung tâm giám định Y khoa Pháp y tỉnh N, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại đối với chị Phạm Thị C2 là: 05% (Năm phần trăm). Cơ chế hình thành vết thương: Vết thương phần mềm do cơ thể va đập với vật cứng gây thương tích.

Kết luận giám định số 2747/KL-KTHS ngày 12/4/2024 của V1 - Bộ C3, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định đối với anh Vũ Thanh T3 là: 61% (Sáu mươi mốt phần trăm). Cơ chế hình thành vết thương: Tổn thương của anh Vũ Thanh T3 do vật tày gây ra.

Kết luận giám định số 2748/KL-KTHS ngày 12/4/2024 của V1 - Bộ C3, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định đối với chị Phùng Thị Thu H1 là: 31% (Ba mươi mốt phần trăm). Cơ chế hình thành vết thương: Tổn thương của chị Phùng Thị Thu H1 do vật tày gây ra.

Kết luận giám định bổ sung số 4598/KL-KTHS ngày 12/7/2024 của V1 - Bộ C3, kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể của anh Vũ Thanh T3 là 76% (Bảy mươi sáu phần trăm). Các tổn thương trên cơ thể của anh Vũ Thanh T3 do vật tày gây nên.

Kết luận giám định pháp y tử thi số 772/KLGĐTT-KTHS ngày 03/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận: Nạn nhân Phùng Thị Thu H1 chết do đa chấn thương điều trị không hồi phục. Cơ chế: Do va đập.

Kết luận giám định số 804/KL-KTHS ngày 18/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh N, kết luận:

  1. Không phát hiện thấy dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong toàn bộ mẫu cần giám định (Ký hiệu: A1, A2, A3).
  2. Không xác định được xe máy BKS 18B1 - 075.69; xe ô tô BKS 18A - 324.58 đang đi tại chiều đường, làn đường nào, với tốc độ ra sao trong mẫu cần giám định (Ký hiệu: A1, A2, A3).
  3. 3.1. Không xác định được xe máy điện BKS: 18MĐ1 - 129.97 đang đi tại chiều đường, làn đường nào, với tốc độ ra sao trong mẫu cần giám định (Ký hiệu: A1, A2).

    3.2. Tại thời điểm xảy ra vụ tai nạn giao thông trong mẫu cần giám định (Ký hiệu A3) xe máy điện BKS 18MĐ1 - 129.97 đang đi trên đường Đ theo hướng từ đường G về phía đường T, không xác định được xe máy điện BKS 18MĐ1 - 129.97 đang đi tại làn đường nào, tốc độ của xe máy điện BKS 18MĐ1 - 129.97 tại thời điểm 17h18’34” là 11,84Km/h (+0,48Km/h).

  4. 4.1. Không xác định được xe máy BKS 35B2 - 234.26 đang đi tại chiều, đường, làn đường nào, với tốc độ ra sao trong mẫu cần giám định (Ký hiệu : A1, A2).

    4.2. Tại thời điểm xảy ra vụ tai nạn giao thông trong mẫu cần giám định (Ký hiệu A3) xe máy BKS 35B2 - 234.26 đang đi trên đường Đ theo hướng từ đường G ra đường T, không đủ cơ sở xác định xe máy BKS 35B2 - 234.26 đang đi tại làn đường nào, tốc độ của xe máy BKS 35B2 - 234.26 tại thời điểm 17h18'35" là 22,61Km/h (+0.94Km/h).

  5. 5.1. Không xác định được xe máy BKS 18P1 - 3169 đang đi tại chiều đường, làn đường nào, với tốc độ ra sao trong mẫu cần giám định (Ký hiệu A1, A3).

    5.2. Tại thời điểm xảy ra vụ tai nạn giao thông trên thì xe máy BKS 18P - 3169 đang đi trên đường Đ tại làn đường bên phải (theo chiều chuyển động của xe), hướng từ đường G ra đường T, tốc độ của xe máy BKS 18P1 - 3169 tại thời điểm 17h18’36” là 23,81Km/h (+0,88Km/h) trong mẫu cần giám định (Ký hiệu: A2).

  6. 6.1. Không xác định được ô tô BKS: 18A - 368.66 đang đi tại chiều đường, làn đường nào, với tốc độ ra sao trong mẫu cần giám định (Ký hiệu : A1, A2).

    6.2. Tại thời điểm xảy ra vụ tai nạn giao thông trong mẫu cần giám định (Ký hiệu A3) xe ô tô BKS 18A - 368.66 đang dừng tại chiều đường bên phải

(theo chiều tiến của xe ô tô BKS 18A - 368.66), tốc độ của xe ô tô BKS 18A - 368.66 là 0Km/h.

  1. 7.1. Không xác định được tại thời điểm xảy ra vụ tai nạn giao thông xe ô tô Camry màu đen BKS 30E - 659.53 đang đi tại chiều đường, làn đường nào; tốc độ của xe ô tô BKS 30E 659.53 tại thời điểm 17h18'33” là 78,16 km/h (+2,89 km/h) trong mẫu cần giám định (Ký hiệu : A1).

    7.2. Xe ô tô Camry màu đen BKS 30E - 659.53 đang đi trên đường Đ theo hướng từ đường T ra đường G trong mẫu cần giám định (Ký hiệu A2), không đủ cơ sở xác định tại thời điểm xảy ra vụ tai nạn giao thông trên thì xe ô tô Camry màu đen BKS 30E - 659.53 đang đi tại làn đường nào, với tốc độ bao nhiêu trong mẫu cần giám định (Ký hiệu A2).

    7.3. Tại thời điểm xảy ra vụ tai nạn trong mẫu giám định (Ký hiệu A3), ô tô Camry màu đen BKS 30E - 659.53 đang đi trên đường Đ theo hướng từ đường T ra đường G, không đủ cơ sở xác định xe ô tô Camry màu đen BKS 30E - 659.53 đang đi tại làn đường nào, tốc độ của xe ô tô BKS 30E - 659.53 tại thời điểm 17h18'35' là 83,38Km/h (+3,47Km/h).

Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 25/KL-HĐĐGTS; 26/KL-HĐĐGTS; 27/KL-HĐĐGTS; 28/KL-HĐĐGTS; 29/KL-HĐĐGTS; 30/KL-HĐĐGTS; 31/KL-HĐĐGTS và 32/KL-HĐĐGTS ngày 03/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố N, kết luận:

Giá trị thiệt hại của các bộ phận hư hỏng của chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Click BKS: 18P1 - 3169 là 3.577.000 đồng (Ba triệu năm trăm bảy mươi bảy nghìn đồng).

Giá trị thiệt hại của các bộ phận hư hỏng của chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Lead BKS: 35B2 - 234.26 là 4.436.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm ba mươi sáu nghìn đồng).

Giá trị thiệt hại của các bộ phận hư hỏng của chiếc xe máy điện nhãn hiệu DIBAO, BKS: 18MĐ1 - 129.97 là 2.007.000 đồng (Hai triệu không trăm linh bảy nghìn đồng).

Giá trị thiệt hại của các bộ phận hư hỏng của chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Airblade, BKS: 18B1 - 075.69 là 494.000 đồng (Bốn trăm chín mươi tư nghìn đồng).

Giá trị thiệt hại của các bộ phận hư hỏng của chiếc xe ô tô nhãn hiệu Vinfast Lux A, BKS: 18A 324.58 là 1.050.000 đồng (Một triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).

Giá trị thiệt hại của các bộ phận hư hỏng của chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Wigo, BKS: 18A - 368.66 là 25.980.000 đồng (Hai mươi lăm triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng).

Giá trị thiệt hại của biển quảng cáo, kích thước 85x122cm, sử dụng từ năm 2016 là 96.000 đồng (Chín mươi sáu nghìn đồng).

Giá trị thiệt hại của các bộ phận hư hỏng của 01 (Một) cửa sắt xếp, kích thước (2,2 x 2,2) m là 871.200 đồng (T5 trăm bảy mươi mốt nghìn hai trăm đồng).

Tổng giá trị tài sản thiệt hại là: 37.640.000 đồng (Ba mươi bảy triệu sáu trăm bốn mươi nghìn đồng).

Tại Cơ quan điều tra, Vũ Ngọc T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Về vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xác minh, làm rõ, trả lại:

  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Click, BKS 18P1 – 3169 cho ông Vũ Thanh T3.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Lead, BKS 35B2 - 234.26 cho chị Phạm Thị C2.
  • - 01 xe máy điện nhãn hiệu DIBAO, BKS 18MĐ1 129.97 trả cho đại diện gia đình bà Phùng Thị Thu H1 là ông Trần Văn T2, sinh năm 1975, trú tại 14H Ô19, phường H, thành phố N (chồng bà H1).
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade, BKS 18B1 - 075.69 cho ông Trần Đại V.
  • - 01 xe ô tô nhãn hiệu Vinfast L, BKS 18A 324.58 cho chị Trần Hoài L.
  • - 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Wigo, BKS 18A - 368.66 cho anh Nguyễn Chung Q.
  • - Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Camry BKS 30E - 659.53 đã được nhập kho vật chứng để đảm bảo quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.

Bản Cáo trạng số 184/CT-VKS-TPNĐ ngày 14-8-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Vũ Ngọc T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo các điểm a, c khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo Vũ Ngọc T tại phiên tòa thể hiện hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Do đó

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • - Căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc T từ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách không quá 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 18-9-2024. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  • - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Vũ Ngọc T.
  • - Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 (Một) xe ô tô nhãn hiệu Toyota Camry màu sơn đen, BKS 30E-659.53, số khung RL4BF0FK3G6003550, số máy 2AR1512409 (đã cũ, đã qua sử dụng).
  • - Bị cáo Vũ Ngọc T là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo Vũ Ngọc T xin Hội đồng xét xử xem xét đến hoàn cảnh của bị cáo hiện nay sức khỏe yếu để cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vũ Ngọc T, những người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.

[2] Về người tham gia tố tụng:

Trong giai đoạn truy tố, ngày 25-7-2024 bị hại là anh Vũ Thanh T3 đã có đơn mời Luật sư Vũ Thị Sao M1, Luật sư thuộc Văn phòng L1, Đoàn Luật sư tỉnh N là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh, tuy nhiên trong giai đoạn chuẩn bị xét xử ngày 16-9-2024 anh Vũ Thanh T3 đã có đơn đề nghị rút yêu cầu, không mời Luật sư Vũ Thị Sao M1 là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh. Vì vậy Hội đồng xét xử không xác định bà Vũ Thị Sao M1 là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Vũ Thanh T3.

Đối với bà Trần Thị Thanh H là vợ của bị cáo Vũ Ngọc T, là người đã giao dịch thực hiện nghĩa vụ bồi thường cùng với bị cáo nên Hội đồng xét xử xác định bà Trần Thị Thanh H tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

[3] Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Ngọc T tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các chứng cứ khác như: Sơ đồ hiện trường ngày 09-4- 2024; Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 09-4-2024; Biên bản khám nghiệm phương tiện ngày 10-4-2024; Bản kết giám định pháp y tử thi số 772/KLGĐTT-KTHS ngày 03-6-2024 của Phòng K Công an tỉnh N; Bản kết luận giám định số 2747/KL-KTHS ngày 12-4-2024 và Bản kết luận giám định bổ sung số 4598/KL-KTHS ngày 12-7-2024 của V1 - Bộ C3; Bản kết luận giám định số 46/24/TgT ngày 07-5-2024 của Trung tâm giám định Y khoa Pháp y tỉnh N cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 17h15' ngày 09-4-2024 Vũ Ngọc T (có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe ô tô BKS 30E-659.53 đi trên đường Đ theo hướng từ đường T đến đường G. Khi T đi đến cách khu vực trước cửa số nhà A đường Đ khoảng 100m đã không chú ý quan sát, không đi bên phải theo chiều đi của mình, không giảm tốc độ khi đi trong điều kiện trời mưa, đường trơn trượt vi phạm quy định tại khoản 23 Điều 8, khoản 1 Điều 9 Luật Giao thông đường bộ, khoản 11 Điều 5 Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT ngày 29-8-2019 của Bộ G nên đã xô vào xe máy điện do chị Phùng Thị Thu H1 đi ngược chiều đang điều khiển sang đường rồi tiếp tục đi sang phần đường ngược chiều xô vào xe mô tô BKS 35B2-234.26 do chị Phạm Thị C2 điều khiển, xô vào xe mô tô BKS 18P1-3169 do anh Vũ Thanh T3 điều khiển, xô vào tường số nhà G đường Đ, xô vào ô tô BKS 18A-368.66 đang đỗ ven đường dừng lại. Hậu quả chị Phùng Thị Thu H1 bị thương nặng dẫn đến tử vong, anh Vũ Thanh T3 bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 76%, chị Phạm Thị C2 bị tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 05%.

Hành vi của bị cáo Vũ Ngọc T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có giấy phép lái xe hợp lệ và hiểu rõ các quy định của Luật Giao thông đường bộ nhưng khi tham gia giao thông đã không chấp hành đúng quy định, gây ra tai nạn có hậu quả làm một người chết và gây tổn tại cho sức khỏe của 02 người với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể là 81%. Vì vậy bị cáo Vũ Ngọc T đã phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

[4] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về các tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Vũ Ngọc T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; khi tai nạn xảy ra do túi khí của xe bung vào mặt gây choáng nên bị cáo không đưa được các nạn nhân đi cấp cứu, tuy nhiên sau khi tai nạn xảy ra bị cáo đã cùng gia đình khắc phục toàn bộ thiệt hại về tài sản và bồi thường thiệt hại cho những người bị hại, những người đại diện của bị hại đã nhận đủ số tiền bị cáo và gia đình đã bồi thường, không ai có yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm bất kỳ khoản tiền bồi thường nào khác, đồng thời những người đại diện cho bị hại chị Phùng Thị Thu H1, anh Vũ Thanh T3, chị Phạm Thị C2 đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Khi phạm tội bị cáo là người cao tuổi nên Vũ Ngọc T sẽ được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về các tình tiết tăng nặng: Bị cáo Vũ Ngọc T không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về hình phạt:

Hành vi phạm tội của bị cáo Vũ Ngọc T là nghiêm trọng, gây ra hậu quả làm chết 01 người và 02 người bị thương nên cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo. Tuy nhiên do bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên Hội đồng xét xử sẽ chỉ phạt bị cáo ở mức thấp của khung hình phạt mà bị cáo bị truy tố.

Xét thấy bị cáo Vũ Ngọc T có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo tại địa phương nên Hội đồng xét xử thấy rằng có thể cho bị cáo được miễn

chấp hành hình phạt tù có điều kiện theo quy định của Điều 65 Bộ luật Hình sự, đồng thời ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục theo quy định của pháp luật.

[6] Về hình phạt bổ sung:

Xét thấy bị cáo Vũ Ngọc T gây hậu quả không thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi sự việc xảy ra, bị cáo Vũ Ngọc T đã sửa chữa chiếc xe mô tô BKS 18B1 - 075.69 bị hư hỏngcủa ông Trần Đại V; bồi thường cho bà Lương Thị B số tiền 5.000.000 đồng để sửa chữa chiếc cửa sắt xếp; đã bồi thường cho chị Trần Hoài L chủ sở hữu chiếc xe ô tô BKS 18A – 324.58 số tiền 3.000.000 đồng; bồi thường cho ông Trần Mạnh H4 chủ sở hữu biển quảng cáo lắp trước cửa số nhà G Đ, phường C, thành phố N 1.000.000 đồng; khắc phục hậu quả mua lại chiếc xe ô tô BKS 18A - 368.66 của anh Nguyễn Chung Q.

Đối với bị hại chị Phùng Thị Thu H1: Trong giai đoạn điều tra, truy tố bị cáo Vũ Ngọc T đã bồi thường cho gia đình bị hại chị Phùng Thị Thu H1 số tiền 250.000.000 đồng. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử bị cáo đã bồi thường thêm số tiền 350.000.000 đồng. Tổng cộng là 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng). Những người đại diện theo ủy quyền của bị hại Phùng Thị Thu H1 đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường bất kỳ khoản tiền nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với bị hại anh Vũ Thanh T3: Trong giai đoạn điều tra, truy tố bị cáo Vũ Ngọc T đã bồi thường cho anh Vũ Thanh T3 số tiền 290.000.000 đồng. Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử bị cáo đã bồi thường thêm số tiền 510.000.000 đồng. Tổng cộng là 800.000.000 đồng (Tám trăm triệu đồng). Người đại diện theo ủy quyền của bị hại anh Vũ Thanh T3 đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường bất kỳ khoản tiền nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với bị hại chị Phạm Thị C2: Trong giai đoạn điều tra, truy tố chị C2 yêu cầu bị cáo Vũ Ngọc T phải bồi thường 100.000.000 đồng, tuy nhiên trong giai đoạn chuẩn bị xét xử chị C2 và bị cáo đã thống nhất bị cáo bồi thường cho chị Phạm Thị C2 số tiền 70.000.000 đồng (Bảy mươi triệu đồng), chị Phạm

Thị C2 đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường bất kỳ khoản tiền nào khác nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Camry màu sơn đen, BKS 30E- 659.53, số khung RL4BF0FK3G6003550, số máy 2AR1512409 (đã cũ, đã qua sử dụng) được niêm phong (xe đã bị hư hỏng hoàn toàn, không kiểm tra chất lượng xe) là tài sản của bị cáo cần trả lại cho bị cáo.

[9] Về án phí:

Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Vũ Ngọc T là người cao tuổi nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc T 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 18-9- 2024.

Giao bị cáo Vũ Ngọc T cho Ủy ban nhân dân phường Q (địa chỉ cũ là phường T), thành phố N, tỉnh Nam Định giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Vũ Ngọc T cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Vũ Ngọc T phải chấp hành hình phạt 03 (Ba) năm tù đã cho hưởng án treo.

  1. Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả lại cho bị cáo Vũ Ngọc T 01 (Một) xe ô tô nhãn hiệu Toyota Camry màu sơn đen, BKS 30E-659.53, số khung RL4BF0FK3G6003550, số máy

2AR1512409 (đã cũ, đã qua sử dụng) được niêm phong (xe đã bị hư hỏng hoàn toàn, không kiểm tra chất lượng xe). (Có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số: 268/YCN/2024, ngày 28-8-2024)

  1. Án phí:

Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Vũ Ngọc T.

  1. Quyền kháng cáo:

Bị cáo Vũ Ngọc T có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị Thanh H có quyền làm đơn kháng cáo (về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình) trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại (chị Phạm Thị C2), người đại diện theo ủy quyền của người đại diện hợp pháp của bị hại chị Phùng Thị Thu H1 (anh Trần Văn T2, anh Trần Việt H3), người đại diện theo ủy quyền của bị hại anh Vũ Thanh T3 (chị Mai Tuyết A) có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND TP. Nam Định;
  • - Chi cục THADS TP. Nam Định;
  • - Ủy ban nhân dân phường Quang Trung;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 205/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 205/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: .
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger