TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 205/2024/DSPT
Ngày: 21/5/2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng,
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử
dụng đất, hợp đồng thuê nhà ở”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trí Dũng
Các Thẩm phán: Bà Phan Thị Hồng Dung
Bà Hà Thị Phương Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Ban - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 66/2024/TLPT-DS ngày 18 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê nhà ở”.
Do dân sự sơ thẩm số: 06/2024/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 30/2024/QĐ-PT ngày 21 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP C2
Địa chỉ: Số A T, quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện ủy quyền của Ngân hàng:
- Ông Nguyễn Trung C – Phó giám đốc. (có mặt)
- Ông Đỗ Hồng T - Phó trưởng Văn phòng đại diện. (có mặt)
- Ông Lê Trung T1 - Trưởng phòng bán lẻ. (có mặt)
Địa chỉ liên hệ: số I P, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.
( Được ủy quyền theo văn bản uỷ quyền ngày 10/01/2024)
2
2. Bị đơn:
2.1. Bà Bùi Thị Cẩm T2, sinh năm: 1997 (có mặt)
Địa chỉ: Số D, L, phường B, quận B, thành phố Cần Thơ.
2.2. Ông Thái Phương T3, sinh năm: 1993 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số D Khu tái định cư T, phường C, quận N, thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ liên lạc: Số E đường E Khu dân cư E, phường P, quận C, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện ủy quyền cho ông T3 là ông ông Trần Thanh H, sinh năm: 1960(có mặt)
Địa chỉ: C, đường T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
(Được ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 26/4/2024)
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho ông T3 là Luật sư Vũ Ngọc C1 - Văn phòng luật sư Vũ N- Đoàn luật sư thành phố C. (có mặt)
Địa chỉ: A N, KDC I, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1 Bà Nguyễn Thị Cẩm T4, sinh năm: 1952
Địa chỉ: Số C, Khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (chết ngày 04/5/2024 có khai tử cùng ngày)
3.2. Văn phòng công chứng Đỗ Thị H1 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: Số B đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
4. Người kháng cáo: Bị đơn Bùi Thị Cẩm T2, Thái Phương T3.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo án sơ thẩm và các tài liệu có trong hồ sơ thì nội dung vụ án được thể hiện như sau:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ông Thái Phương T3, bà Bùi Thị Cẩm T2 có ký các hợp đồng vay với Ngân hàng TMCP C2 – Chi nhánh C3 như sau:- Hợp đồng cho vay số: 08/PBL/2023/HĐCV/NHCT820-BUI THI CAM TU ngày 10/3/2023, vay số tiền: 2.450.000.000 đồng (sau đây gọi là hợp đồng vay số 08), lãi suất 13%/năm, mục đích để thanh toán chi phí xây dựng nhà ở và tài sản gắn liền với đất theo giấy số DE171248. Hiện tại còn dư nợ: 2.395.600.000 đồng.
- Hợp đồng cho vay số: 09/PBL/2023/HĐCV/NHCT820-BUI THI CAM TU
3
ngày 10/3/2023 số tiền: 550.000.000 đồng (sau đây gọi là hợp đồng vay số 09), lãi suất 13%/năm, mục đích vay để thanh toán chi phí nhận chuyển nhượng QSDĐ QSH nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DE171248. Hiện tại còn dư nợ: 537.780.000 đồng.
- Hợp đồng cho vay số: 10/PBL/2023/HĐCV/NHCT820-BUI THI CAM TU ngày 13/3/2023, số tiền: 5.000.000.000 đồng (sau đây gọi là hợp đồng vay số 10), lãi suất 9%/năm, mục đích vay để bổ sung vốn lưu động mua bán lúa. Hiện còn dư nợ 5.000.000.000 đồng.
Để đảm bảo các khoản vay trên, ông T3, bà Bùi Thị Cẩm T2 có ký các hợp đồng thế chấp với Ngân hàng như sau:
- Hợp đồng số: 03/2023/HĐBĐ/NHCT820.PBL.BUI THI CAM TU ngày 09/3/2023 thế chấp quyền sử dụng đất tại thửa 149, tờ bản đồ số 55, giấy chứng nhận QSDĐ QSH nhà ở gắn liền với đất số: DE171249, số vào sổ cấp GCN số: CS25868 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 02/11/2022, chỉnh lý chuyển nhượng cho Thái Phương T3 ngày 26/12/2022 (gọi là Hợp đồng thế chấp số 03).
- Hợp đồng số: 04/2023/HĐBĐ/NHCT820.PBL.BUI THI CAM TU ngày 09/3/2023 thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa 146, tờ bản đồ số 55, giấy chứng nhận QSDĐ QSH nhà ở gắn liền với đất số DE171248, số vào sổ cấp GCN số: CS25867 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 02/11/2022, chỉnh lý chuyển nhượng cho Thái Phương T3 ngày 26/12/2022 (gọi là Hợp đồng thế chấp số 04).
Kể từ ngày 25/8/2023 ông Thái Phương T3và bà Bùi Thị Cẩm T2 không thanh toán gốc lãi đến hạn cho Ngân hàng dẫn đến khoản vay đã quá hạn. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán nợ gốc, lãi tạm tính đến ngày 09/01/2024 là 8.369.588.081 đồng, trong đó: Nợ gốc: 7.933.380.000 đồng; lãi trong hạn 367.644.410 đồng; lãi quá hạn: 68.563.671 đồng. Trường hợp bị đơn không thực hiện trả nợ thì Ngân hàng yêu cầu phát mại tài sản thế chấp theo quy định
Bị đơn Thái Phương T3 trình bày:
Ông và vợ Bùi Thị Cẩm T2(gọi tắt bà Bùi T2)có ký các hợp đồng vay như nguyên đơn trình bày và đồng ý trả nợ vay cho Ngân hàng nhưng đề nghị bà Nguyễn Thị Cẩm T4 (gọi tắt bà Nguyễn T4)phải trả cho ông số tiền đã vay 5.000.000.000 đồng cùng lãi suất 2%/tháng để ông và bà Bùi Thị Cẩm T2 cùng trả nợ cho Ngân hàng, giải chấp tài sản.Người đại diện ủy quyền của bị đơn Bùi Thị Cẩm T2 trình bày:
Bà Bùi Thị Cẩm T2 thống nhất cùng chồng Thái Phương T3 trả nợ cho Ngân hàng vì đây nợ chung trong thời kỳ hôn nhân, tuy nhiên bà Nguyễn Thị Cẩm T4 cũng phải có trách nhiệm cùng ông, bà trả4
nợ cho Ngân hàng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Cẩm T4 có yêu cầu độc lập trình bày:
Bà cầm cố cho ông Thái Phương T302 giấy chứng nhận QSDĐ số DE 171249, số vào sổ cấp GCN số CS 25868 và số DE 171248, số vào sổ cấp GCN số CS 25867 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp cùng ngày 02/11/2022 đứng tên Nguyễn Thị Cẩm T4để vay số tiền 5.000.000.000 đồng nhưng thực tế bà chỉ nhận chuyển khoản 4.400.000.000 đồng. Do không hiểu biết pháp luật nên bà ký hợp đồng chuyển nhượng thay vì ký hợp đồng cầm cố đất cho ông T3. Ngày 18/01/2023 bà và ông Thái Phương T3 có lập Tờ thỏa thuận tại Phòng C4 Công an thành phố C với nội dung bà phải đưa cho ông T3 số tiền 4.700.000.000 đồng, nếu chưa có tiền thì bà phải trả cho ông T3 47.000.000 đồng tiền lãi một tháng. Ông T3 đã lừa dối bà về việc thế chấp 02 thửa đất trên cho Ngân hàng. Nay bà khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết:- Hủy hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 16/12/2022 giữa bà Nguyễn Thị Cẩm T4 với ông Thái Phương T3 đối với thửa đất số 149, tờ bản đồ số 55, giấy số: DE 171249, số vào sổ cấp GCN số: CS 25868 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 02/11/2022 đứng tên Nguyễn Thị Cẩm T4 được công chứng tại Văn phòng công chứng Đỗ Thị H1.
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 16/12/2022 giữa bà Nguyễn Thị Cẩm T4 với ông Thái Phương T3 đối với thửa đất số 146, tờ bản đồ số 55, giấy số: DE 171248, số vào sổ cấp GCN số: CS 25867 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 02/11/2022 đứng tên Nguyễn Thị Cẩm T4 được công chứng tại Văn phòng công chứng Đỗ Thị H1.
- Hủy hợp đồng cho thuê nhà ở và đất ở giữa bà Nguyễn Thị Cẩm T4 với ông Thái Phương T3.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng công chứng Đỗ Thị H1 có văn bản ý kiến:
Các hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa bà Nguyễn Thị Cẩm T4 với ông Thái Phương T3 được thực hiện đúng quy định pháp luật về công chứng.Tại phiên toà sơ thẩm ngày 16/01/2024,
bà Nguyễn Thị Cẩm T4 đồng ý thay mặt ông Thái Phương T3, bà Bùi Thị Cẩm T2thanh toán các khoản nợ của Hợp đồng vay số:08, 09 và số: 10 cho Ngân hàng TMCP C2, để nhận lại 02 tài sản ông T3, bà Bùi Thị Cẩm T2 đã thế chấp. Đại diện nguyên đơn Ngân hàng và ông Thái Phương T3 thống nhất với đề nghị của bà Nguyễn Thị Cẩm T4. Ngoài ra, bà T4đề nghị Toà án căn cứ vào Tờ thoả thuận ngày 18/01/2023 giữa bà với ông T3 để giải quyết hậu quả của các hợp đồng bị huỷ. Ông T3 đồng ý thanh toán phần nghĩa vụ chênh lệch cho bà Nguyễn Thị Cẩm T4 sau khi khấu trừ số tiền bà T4 đã vay 5.000.000.000 đồng với lãi suất 2%/tháng; Đại diện nguyên đơn Ngân hàng đề nghị Toà án không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà T4, bởi lẽ,5
hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa các bên được công chứng đúng quy định pháp luật; các bên đã thực hiện xong hợp đồng, ông T3 đã được chỉnh lý sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên hợp đồng không thể huỷ.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 06/2024/DS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy đã tuyên xử như sau:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc ông Thái Phương T3, bà Bùi Thị Cẩm T2thanh toán cho Ngân hàng TMCP C2số tiền tạm tính đến ngày 09/01/2024 là 8.369.588.081 đồng. Ông T3, bà Bùi Thị Cẩm T2còn phải thanh toán tiếp tiền lãi kể từ ngày 10/01/2024 cho đến khi thanh toán hết các khoản nợ theo mức lãi suất thỏa thuận của hợp đồng tín dụng đã ký.
- Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị Cẩm T4 như sau:
- Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Cẩm T4 về việc thay mặt ông Thái Phương T3, bà Bùi Thị Cẩm T2 thanh toán toàn bộ các nghĩa vụ nêu trên cho Ngân hàng TMCP C2.
- Trường hợp ông Thái Phương T3, bà Bùi Thị Cẩm T2, bà Nguyễn Thị Cẩm T4 chậm thực hiện hoặc không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án phát mại tài sản thế chấp tại các Hợp đồng thế chấp số 03/2023/HĐBĐ/NHCT820.PBL.Bui Thi Cam T5 và 04/2023/HĐBĐ/ NHCT820.PBL.Bui Thi Cam T5 cùng ngày 09/3/2023.
- Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 16/12/2022 giữa bà Nguyễn Thị Cẩm T4 với ông Thái Phương T3 đối với thửa đất số 149, tờ bản đồ số 55, giấy số DE 171249, số vào sổ cấp GCN số CS 25868 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 02/11/2022.
- Vô hiệu hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 16/12/2022 giữa bà Nguyễn Thị Cẩm T4 với ông Thái Phương T3 đối với thửa đất số 146, tờ bản đồ số 55, giấy số DE 171248, số vào sổ cấp GCN số CS 25867 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C cấp ngày 02/11/2022.
- Hủy hợp đồng cho thuê nhà ở và đất ở giữa bà Nguyễn Thị Cẩm T4 với ông Thái Phương T3.
- Buộc bà Nguyễn Thị Cẩm T4phải trả cho ông Thái Phương T3 số tiền tạm tính đến ngày 16/01/2024 là 5.242.433.333 đồng. Trường hợp bà Nguyễn Thị Cẩm T4 thay mặt ông T3, bà Bùi Thị Cẩm T2 trả toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP C2 (tạm tính đến ngày 09/01/2024) thì ông Thái Phương T3, bà Bùi Thị Cẩm T2có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị Cẩm T4 số tiền chênh lệch: 3.127.154.748 đồng.
Trường hợp ông T3, bà Bùi Thị Cẩm T2 chậm thực hiện nghĩa vụ đối với bà Nguyễn
6
Thị Cẩm T4 thì ông bà phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm trả theo quy định tại Điều 357, 468 Bộ luật dân sự.
- Trường hợp ông Thái Phương T3, bà Bùi Thị Cẩm T2,bà Nguyễn Thị Cẩm T4thanh toán xong các khoản nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có nghĩa vụ giải chấp tài sản thế chấp theo quy định. Bà Nguyễn Thị Cẩm T4 có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để đăng ký sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các tài sản được giải chấp theo quy định.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí thẩm định, án phí và quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.
Ngày 31/01/2024 bị đơn Thái Phương T3 kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét không tuyên vô hiệu 02 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cùng ngày 16/12/2012 đối với thửa đất 149; 146 và hủy hợp đồng thuê nhà ở giữa bà Nguyễn Thị Cẩm T4với ông Thái Phương T3;ông T3nhận trả thay cho bà Bùi Thị Cẩm T2 số tiền chênh lệch 3.127.154.748 đồng cho bà Nguyễn Thị Cẩm T4;
Ngày 31/10/2024 bà Bùi Thị Cẩm T2 kháng cáo không tuyên vô hiệu 02 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cùng ngày 16/12/2012 đối với thửa đất 149; 146 giữa bà Nguyễn Thị Cẩm T4với ông Thái Phương T3và bà không có nghĩa vụ phải hoàn trả lại 3.127.154.748 đồng cho bà Nguyễn Thị Cẩm T4.
Ngày 04/5/2024 Bị đơn Thái Phương T3: Rút một phần yêu cầu kháng cáo là đồng ý với bản án sơ thẩm tuyên vô hiệu 02 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cùng ngày 16/12/2012 đối với thửa đất 149; 146 và hủy hợp đồng thuê nhà ở giữa bà Nguyễn Thị Cẩm T4với ông Thái Phương T3. Ông T3 vẫn giữ kháng cáo được trả thay cho bà Bùi Thị Cẩm T2 số tiền chênh lệch 3.127.154.748 đồng cho bà Nguyễn Thị Cẩm T4.
Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Bị đơn Bùi Thị Cẩm T2:
Vẫn giữ yêu cầu kháng cáo.Các đương sự còn lại vẫn giữ nguyên yêu cầu như đã trình bày.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
Về thủ tục tố tụng: Đương sự và Tòa án các cấp thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung giải quyết vụ án: Cấp sơ thẩm xác định hợp đồng chuyển nhượng là giả tạo là có căn cứ. Bà Bùi Thị Cẩm T2và ông Thái Phương T3kháng cáo là không có căn cứ chấp nhận.
7
Với những ý kiến nêu trên, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Văn phòng Công chứng Đỗ Thị H1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, không tham dự phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 01/4/2024. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành phiên tòa phúc thẩm xét xử vắng mặt đương sự trên theo quy định của pháp luật.
Nguyên đơn Ngân hàng TMCP C2 khởi kiện yêu cầu bị đơn Thái Phương T3, Bùi Thị Cẩm T2 thanh toán số tiền vay theo các hợp đồng cho vay mà hai bên đã ký kết; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Cẩm T4 yêu cầu độc lập tuyên bố vô hiệu 02 hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng và hủy hợp đồng thuê nhà ở nên cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê nhà ở” theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự là có căn cứ đúng pháp luật.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng buộc bị đơn thanh toán nợ gốc và nợ lãi
Theo các hợp đồng cho vay giữa Ngân hàng với ông Thái Phương T3, Bùi Thị Cẩm T2 ký kết thể hiện: Hợp đồng cho vay số: 08/PBL/2023/HĐCV/NHCT820-BUI THI CAM TU ngày 10/3/2023, vay số tiền: 2.450.000.000 đồng [BL 74-78]; Hợp đồng cho vay số: 09/PBL/2023/HĐCV/NHCT820-BUI THI CAM TU ngày 10/3/2023 vay số tiền: 550.000.000 đồng [BL 79-83]; Hợp đồng cho vay số: 10/PBL/2023/HĐCV/NHCT820-BUI THI CAM TU ngày 13/3/2023 vay số tiền: 5.000.000.000 đồng [BL 121-124].
Sau khi ký các hợp đồng tín dụng nêu trên Ngân hàng đã giải ngân đầy đủ tiền cho bị đơn thể hiện qua các giấy nhận nợ ngày 14/3/2023 [BL 119-120], giấy nhận nợ ngày 5/3/2023 [BL 112-113], giấy nhận nợ ngày 04/4/2023 [BL 104-105], giấy nhận nợ ngày 07/4/2023 [BL 99-100], giấy nhận nợ ngày 11/4/2023 [BL 93-94], giấy nhận nợ ngày 10/3/2023 [BL 67-69], giấy nhận nợ ngày 10/3/2023 [BL
8
63-65]. Đến ngày 25/8/2023 do vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng khởi kiện bị đơn thanh toán nợ gốc và lãi.
Căn cứ vào vào lời trình bày của ông Thái Phương T3 trong quá trình giải quyết vụ án, lời thừa nhận của người đại diện bị đơn ông Đỗ Thanh T6 tại phiên tòa sơ thẩm đã thừa nhận bị đơn có vay, thống nhất số tiền gốc, lãi chưa thanh toán cho Ngân hàng và đồng ý trả nợ cho Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng yêu cầu buộc bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán nợ gốc, nợ lãi theo các hợp đồng cho vay đã ký với tổng số tiền Thái Phương T3, Bùi Thị Cẩm T2 phải thanh toán cho Ngân hàng tạm tính đến ngày 09/01/2024 là 8.369.588.081 đồng, trong đó: Nợ gốc: 7.933.380.000 đồng; lãi trong hạn 367.644.410 đồng; lãi quá hạn: 68.563.671 đồng, là có căn cứ.
Đối với tài sản thế chấp được thực hiện bằng hai hợp đồng thế chấp số: 03 và 04 cùng ngày 09/3/2023, thửa đất 149, diện tích 81m²; thửa đất 146 diện tích 123,7m² có nguồn gốc thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Thị Cẩm T4, do bà Nguyễn T4 vay của ông T3 4.400.000.000 đồng nên hai bên có làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giả cách của hai thửa đất trên để bảo đảm cho số nợ vay. Do phát hiện quyền lợi bị xâm phạm từ hai hợp đồng trên nên bà Nguyễn T4 đã làm đơn tố cáo ông T3 tại Công an thành phố C. Theo công văn số:1013 của phòng C4 Công an thành phố C xác định: Ông T3 thừa nhận có cho bà T4 vay tiền và chuyển khoản cho bà Nguyễn T4 4.400.000.000 đồng, có làm hợp đồng chuyển nhượng hai thửa đất trên, việc vay tiền của bà T4 và T3 là giao dịch dân sự nên không thuộc thẩm quyền của Công an thành phố C.
Với các căn cứ trên đã chứng minh việc chuyển nhượng hai thửa đất trên từ bà Nguyễn Thị Cẩm T4 sang cho ông T3 là giao dịch giả tạo để nhằm che dấu hợp đồng vay tiền như án sơ thẩm nhận định và quyết định hợp đồng vô hiệu là có cơ sở.
[3] Đối với hai hợp đồng thế chấp số 03 và 04
được các bên thực hiện đúng các quy định về giao dịch bảo đảm, cán bộ Ngân hàng có đi thẩm định tài sản khi cho vay, bà Nguyễn T4 có biết và mở cửa nhà để cán bộ Ngân hàng thẩm định, bà vẫn có mặt tại nhà nhưng lánh mặt ở sân thượng, chính vì vậy các thủ tục đã hoàn tất nên Ngân hàng thực hiện tiếp thủ tục thế chấp cho vay. Căn cứ Công văn số 02/TANDTC-PC ngày 02/8/2021 của Tòa án nhân dân tối cao tại Phần III Dân sự hướng dẫn: Khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “ Trường hợp giao dịch vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu”9
Với căn cứ được thu thập và hướng dẫn trên thì hợp đồng thế chấp số 03, 04 thông qua một giao dịch ngay tình nên hợp đồng có hiệu lực. Án sơ thẩm tuyên nếu bị đơn không trả số nợ thì Ngân hàng được yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là có căn cứ.
[4] Tại phiên tòa sơ thẩm,
bà Nguyễn Thị Cẩm T4tự nguyện thanh toán số nợ Ngân hàng thay cho ông T3 và Bùi Thị Cẩm T2 để nhận lại tài sản thế chấp, ông T3 đồng ý trả thêm cho bà Nguyễn Thị Cẩm T4 số tiền chênh lệch 3.127.154.748 đồng, việc thỏa thuận được Ngân hàng và hai bên đồng ý. Do việc thỏa thuận không trái pháp luật nên án sơ thẩm ghi nhận sự thỏa thuận trên là có căn cứ.Sau khi xét xử sơ thẩm, Ngân hàng và và Nguyễn Thị Cẩm T4 thống nhất và không kháng cáo, chỉ có ông Thái Phương T3 và bà Bùi Thị Cẩm T2 kháng cáo bản án sơ thẩm. Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ đã có quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm ngày 07/5/2024, tuy nhiên thân nhân gia đình bà Nguyễn Thị Cẩm T4 thông báo bà Nguyến Thị Cẩm T7 đã chết ngày 04/5/2024, giấy chứng tử số: 256/TLKT-BS ngày 04/5/2024 do Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường A, quận N, thành phố Cần Thơ cấp.
Theo án sơ thẩm đã tuyên bà Nguyễn Thị Cẩm T4 có nghĩa vụ thanh toán nợ cho ông T3, nếu bà Nguyễn Thị Cẩm T4thanh toán nợ cho Ngân hàng thì ông T3 và bà Bùi Thị Cẩm T2 trả lại cho bà Nguyễn Thị Cẩm T4 số tiền chênh lệch 3.127.154.748 đồng, và bà Nguyễn Thị Cẩm T4 được nhận lại tài sản thế chấp. Do nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị Cẩm T4 đã được quyết định trong bản án sơ thẩm, nay bà Nguyễn Thị Cẩm T4 đã chết thì không ai thực hiện nghĩa vụ đó nên đã phát sinh người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng được quy định tại khoản 1 Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự và thực hiện thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật được quy định tại chương XXII, XXIII Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 615 thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại.
[5] Để bảo đảm giải quyết vụ án đúng pháp luật
cần thiết phải thu thập chứng cứ, xác định hàng thừa kế, tài sản của người chết để lại để làm căn cứ xác định quyền và nghĩa vụ của người được hưởng thừa kế mà thực hiện nghĩa vụ của bà Nguyễn Thị Cẩm T4 khi bà còn sống nhưng chưa thực hiện, theo quy định của Bộ luật Dân sự.Sự việc bà Nguyễn Thị Cẩm T4 chết mới phát sinh tại cấp phúc Thẩm nên chưa được thu thập các chứng cứ nêu trên. Để bảo đảm đúng nguyên tắc cơ bản được quy định tại chương II và Điều 17 quy định: Bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Do đó nghĩ cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm để
10
chuyển hồ sơ về cho cấp sơ thẩm thu thập chứng cứ xét xử lại theo thủ tục sơ thẩm, việc hủy án này là nguyên nhân khách quan không có lỗi chủ quan của cấp sơ thẩm.
[6] Án phí sơ thẩm và phúc thẩm:
Các đương sự chưa phải chịu theo quy định.Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ, Hội đồng xét xử ghi nhận nhưng với tình tiết phân tích ở trên cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm, để thu thập đầy đủ chứng cứ mới bảo đảm giải quyết lại vụ án đúng quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 3 Điều 308, Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
- Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Hủy bản án dân sự sơ thẩm số: 06/2024/DS-ST ngày 16/01/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
- Chuyển toàn bộ hồ sơ cho Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
- Về chi phí tố tụng: Các đương sự chưa phải chịu.
- Về án phí sơ thẩm và phúc thẩm các đương sự chưa phải chịu.
- Hoàn trả cho anh Thái Phương T3 và chị Bùi Thị Cẩm T2 mỗi người 300.000 đồng tiền tạm ứng án dân sự phúc thẩm đã nộp theo biên lai số: 0002488 ngày 21/02/2024 và biên lai số: 0002476 ngày 31/01/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án ngày 21/5/2024./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Trí Dũng |
11
Bản án số 205/2024/DSPT ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê nhà ở
- Số bản án: 205/2024/DSPT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê nhà ở
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hủy án sơ thẩm