|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 205/2024/DS-ST Ngày 28-6-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Kiều Thị Uyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Hoàn.
- Ông Tô Văn Nhung.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hồng Sơn, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Tình - Kiểm sát viên.
Vào ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 212/2024/DS-ST ngày 12 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 232/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 (V); trụ sở: A T, Phường L, quận H, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp: Ông Bùi Đức L, sinh năm 1980, chức vụ Trưởng Phòng Quản lý nợ; địa chỉ: Số A đường Đ, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương; là những người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền số 295/UQ-VCBNBD-QLN ngày 29/3/2024). Có mặt.
- Bị đơn: Bà Phạm Hồng L1, sinh năm 1995; thường trú: Ấp B, thị trấn L, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 29/03/2024, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:
Ngày 26/12/2022, Ngân hàng TMCP N1 – Chi nhánh N2 thực hiện giao dịch tín dụng cho vay theo yêu cầu phát hành thẻ tín dụng quốc tế với bà Phạm Hồng L1, có hạn mức tín dụng 10.000.000 đồng, lãi suất cho vay thay đổi theo thông báo của Ngân hàng G trong sao kê. Phí không thanh toán đủ số tiền tối thiểu là 3% trị giá thanh toán tối thiểu, tối thiểu là 100.000 đồng, trong đó trị giá thanh toán tối thiểu là 10% số dư sao kê kỳ trước. Phí rút tiền mặt là 3.64% số tiền giao dịch (tối thiểu 45.454 đồng/giao dịch). Phí vượt hạn mức từ 01 đến 05 ngày là 08%/năm (số tiền vượt hạn mức), 06 đến 15 ngày là 10%/năm (số tiền vượt hạn mức), từ ngày thứ 16 trở đi là 15%/năm (số tiền vượt hạn mức). Không có tài sản bảo đảm cho khoản nợ vay.
Quá thời hạn trả nợ đến nay, Ngân hàng TMCP N1 – Chi nhánh N2 đã nhiều lần gửi văn bản và liên hệ làm việc đề nghị trả nợ nhưng bà Phạm Hồng L1 không thực hiện nghĩa vụ của mình. Đến nay bà Phạm Hồng L1 vẫn không thanh toán các khoản nợ thẻ như quy định tại Yêu cầu phát hành thẻ tín dụng quốc tế. Do bà L1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Phạm Hồng L1 phải trả cho Ngân hàng toàn bộ nợ gốc, lãi, các phí phát sinh liên quan đến Yêu cầu phát hành thẻ nêu trên tạm tính đến hết ngày 28/6/2024 là 17.255.036 đồng, bao gồm: nợ gốc 9.997.422 đồng, lãi thẻ tín dụng 2.405.969 đồng, phí không thanh toán đủ số tiền thanh toán tối thiểu 4.338.805 đồng, phí vượt hạn mức 512.840 đồng. Đồng thời, bị đơn còn phải thanh toán tiền lãi phát sinh theo thoả thuận tại Yêu cầu phát hành thẻ tín dụng quốc tế, kể từ ngày 29/6/2024 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ cho Ngân hàng.
- Đối với bị đơn bà Phạm Hồng L1:
Tòa án đã triệu tập hợp lệ để cung cấp bản tự khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ vào ngày 06/6/2024; tham gia phiên tòa vào ngày 21/6/2024 và ngày 28/6/2024 nhưng vắng mặt không có lý do nên không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu chứng cứ cho Tòa án hay yêu cầu triệu tập thêm người tham gia tố tụng.
- Ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An:
Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật về tố tụng dân sự. Bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định. Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền theo thỏa thuận tại yêu cầu phát hành thẻ tín dụng quốc tế V1 kiêm hợp đồng mà bị đơn đã ký với nguyên đơn ngày 26/12/2022. Việc ký kết yêu cầu phát hành thẻ tín dụng quốc tế V1 kiêm hợp đồng được ký giữa Chi nhánh N2 của Ngân hàng thương mại cổ phần N1 có trụ sở tại số A, đường Đ, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương vì vậy quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” và thuộc thẩm quyền giải quyết Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương được quy định tại Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng và khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bị đơn bà Phạm Hồng L1 đã được Tòa án triệu tập để tham gia phiên tòa vào các ngày 21/6/2024 và ngày 28/6/2024 nhưng bà L1 vắng mặt không rõ lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung:
[2.1] Quá trình tố tụng, bà Phạm Hồng L1 đã được Tòa án triệu tập để cung cấp bản tự khai trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vào các ngày 06/6/2024 nhưng bà L1 vắng mặt không rõ lý do. Bị đơn không cung cấp bất cứ chứng cứ nào đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì vậy Tòa án căn cứ và chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xét yêu cầu phát hành thẻ tín dụng quốc tế ngày 26/12/2022 giữa Ngân hàng với bà Phạm Hồng L1 thể hiện ý chí tự nguyện thỏa thuận giữa hai bên. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Phạm Hồng L1 sử dụng thẻ tín dụng quốc tế số tiền 9.997.422 đồng và chưa thanh toán bất kỳ khoản tiền nào. Như vậy, bà Phạm Hồng L1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận.
[2.3] Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn thanh toán khoản nợ tính đến hết ngày 28/6/2024 là 17.255.036 đồng, bao gồm: nợ gốc 9.997.422 đồng, lãi thẻ tín dụng 2.405.969 đồng, phí không thanh toán đủ số tiền thanh toán tối thiểu 4.338.805 đồng, phí vượt hạn mức 512.840 đồng. Đồng thời, bị đơn còn phải thanh toán tiền lãi phát sinh theo thoả thuận tại Yêu cầu phát hành thẻ tín dụng quốc tế, kể từ ngày 29/6/2024 cho đến khi thanh toán xong các khoản nợ cho Ngân hàng.
[3] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Tòa án nên chấp nhận.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: bà Phạm Hồng L1 phải chịu theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, Điều 91, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng;
Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N3 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 đối với bị đơn bà Phạm Hồng L1 về tranh chấp hợp đồng tín dụng.
- Buộc bà Phạm Hồng L1 có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 khoản nợ theo yêu cầu phát hành thẻ tín dụng quốc tế ngày 28/6/2024 là 17.255.036 đồng, bao gồm: nợ gốc 9.997.422 đồng, lãi thẻ tín dụng 2.405.969 đồng, phí không thanh toán đủ số tiền thanh toán tối thiểu 4.338.805 đồng, phí vượt hạn mức 512.840 đồng.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Phạm Hồng L1 phải chịu 862.752 (sáu trăm sáu mươi hai nghìn bảy trăm năm mươi hai) đồng. Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 303.389 (ba trăm linh ba nghìn ba trăm tám mươi chín) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002796 ngày 11/4/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tiền lãi, phí được tiếp tục tính từ ngày 29/6/2024 cho đến khi bà Phạm Hồng L1 thanh toán xong các khoản nợ theo yêu cầu phát hành thẻ tín dụng quốc tế ngày 26/12/2022.
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Kiều Thị Uyên |
Bản án số 205/2024/DS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 205/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Thương mại cổ phần N tranh chấp hợp đồng tín dụng với bà Phạm Hồng L
