|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 205/2024/DS-PT Ngày: 21-11-2024 “V/v tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ái Loan
Các Thẩm phán: Ông Ngô Đê
Bà Ngô Thị Kim Châu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Nhi – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Xuân, Kiểm sát viên.
Cán bộ hỗ trợ phiên tòa trực tuyến tại điểm cầu thành phần Tòa án nhân dân huyện D: Ông Trần Minh Trung, Thư ký Tòa án nhân dân huyện D.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại hai điểm cầu: điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh và điểm cầu thành phần Tòa án nhân dân huyện D mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án thụ lý số: 217/2024/TLPT-DS ngày 17 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 19/2024/DS-ST ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 140/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Ông Dương Trung H, sinh năm 1960 (Có mặt)
- Bà Lâm Thị Ú, sinh năm 1950 (Có mặt)
- Bà Lâm Thị L, sinh năm 1947 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp C, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh.
Cùng địa chỉ: Ấp X, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh.
Người đại diện hợp pháp của bà Lâm Thị L: Ông Dương Trung H, sinh năm 1960, địa chỉ: Ấp C, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh. (Theo văn bản ủy quyền ngày 30/3/2021).
- Bị đơn: Ông Kim Văn T1, sinh năm 1964 (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp X, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Hứa Thị C, sinh năm 1967 (Vắng mặt)
- Chị Kim Thị Hồng T2, sinh năm 1986 (Vắng mặt)
- Chị Kim Hồng T3, sinh năm 1989 (Có mặt)
- Chị Kim Thị Thu T4, sinh năm 1994 (Vắng mặt)
- Chị Kim Thị Anh T5, sinh năm 1997 (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp X, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh.
Người đại diện hợp pháp của bà Hứa Thị C, chị Kim Thị Hồng T2, chị Kim Thị Thu T4, chị Kim Thị Anh T5: Ông Kim Văn T1, sinh năm 1964, địa chỉ: Ấp X, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh. (Theo văn bản ủy quyền ngày 12/9/2023).
Người kháng cáo: Ông Kim Văn T1 là bị đơn trong vụ án.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 14/8/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Dương Trung H trình bày:
Nguồn gốc thửa đất số 867, diện tích 2.766m² nêu trên trước đây là của ông ngoại ông, phần đất này nằm trong tổng diện tích khoảng 30 công của ông ngoại ông để lại, ông ngoại chết năm 1927, bà ngoại chết năm nào ông không rõ. Khi chiến tranh xảy ra, cha mẹ ông cùng các anh chị em bên ngoại ông di cư về sinh sống tại xã L, huyện H, tỉnh Tây Ninh, để lại phần đất nêu trên, không có người trông giữ. Sau khi chiến tranh kết thúc, khoảng năm 1978, ông và cha ruột về sinh sống tại ấp C, xã L Lúc này phần đất của ông bà để lại đã bị các hộ dân sinh sống gần đó chiếm hết và các hộ dân này đã sử dụng cho đến nay. Do đó gia đình ông không còn sử dụng, cũng không tranh chấp với ai.
Hộ ông Kim Văn T1 sử dụng thửa đất 867 nêu trên từ thời gian nào ông không rõ, tuy nhiên năm 1997 khi gia đình ông xây lại mồ mã thành mã đá thì ông T1 đã sử dụng đất rồi, ông T1 được cấp quyền sử dụng đất năm 2002 tại thửa số 867, diện tích 2.766m², cấp bao gồm nền mồ mã ông bà của ông. Do gia đình ông T1 tự ý đăng ký nên ông không biết. Tuy nhiên sau khi ông T1 được cấp đất nhưng vẫn để cho gia đình ông sử dụng, quản lý, tu sửa mồ mã ông bà bình thường, không ngăn cản. Sau khi gia đình ông về định cư tại xã L thì năm nào vào dịp thanh minh, gia đình ông cũng đi tạ mã, mỗi tháng nào gia đình ông cũng vào mồ mã để quét dọn vệ sinh. Đến năm 2020, khi gia đình tu sửa lại nhà mồ thì ông T1 ngăn cản và phát sinh tranh chấp đến hôm nay.
Nay ông cùng bà Lâm Thị Ú, bà Lâm Thị L yêu cầu Tòa án công nhận cho ông bà được quyền sử dụng diện tích qua khảo sát đo đạc là 88,9m² nằm trong tổng diện tích 2.766m² thuộc thửa số 867, tờ bản đồ số 9 tọa lạc tại ấp X, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh do hộ ông Kim Văn T1 đứng tên quyền sử dụng đất, ông bà tự nguyện trả giá trị đất theo giá trị của hội đồng định giá, yêu cầu gia đình ông T1 không được ngăn cản các ông bà vào thăm mồ mã ông bà.
Các nguyên đơn bà Lâm Thị L, Lâm Thị Ú thống nhất lời trình bày và yêu cầu của ông Dương Trung H, không bổ sung gì thêm.
Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 22/7/2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Kim Văn T1 trình bày:
Nguồn gốc thửa đất số 867 nêu trên trước đây là của ông Thạch D. Năm 1988 ông D có sang nhượng lại cho ông toàn bộ thửa đất nêu trên và 01 căn nhà cất trên đất. Sau khi mua đất xong, gia đình ông dọn về sinh sống trên nhà đất này. Do hoàn cảnh gia đình gặp khó khăn nên gia đình ông đi làm thuê ở ấp Đ, xã Đ và nhờ mẹ ruột ông ở lại trông coi nhà đất. Được một thời gian thì ông và gia đình về sinh sống ổn định cho đến nay. Sau khi mua đất, ông có đóng thuế hàng năm, có đăng ký, kê khai và được nhà nước cấp quyền sử dụng đất năm 2002 do hộ gia đình ông đứng tên quyền sử dụng đất.
Thời điểm ông mua đất trên thửa đất số 867 có 01 cái mộ. Khoảng năm 1997, gia đình ông H chôn thêm 01 cái mộ nữa và tiến hành tu sửa cả 02 mộ nêu trên thành 02 mộ đá và xây dựng thêm nền mã, hàng rào bao quanh. Lúc đó bên phía nguyên đơn có hỏi ông xây 04 trụ đá để lợp tol che nắng che mưa cho 02 ngôi mộ, ông có đồng ý cho xây 04 trụ đá, tuy nhiên phía nguyên đơn đã tự ý xây nhà mồ mà không có hỏi gì ông, ông có tính ra ngăn cản nhưng mẹ ruột ông khuyên nên ông mới cho xây.
Đối với yêu cầu của phía nguyên đơn yêu cầu gia đình ông trả lại diện tích đất khoảng 88,9m² nằm trong tổng diện tích 2.766m² thuộc thửa số 867, tờ bản đồ số 9 tọa lạc tại ấp X, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh do hộ ông đứng tên quyền sử dụng đất, ông không đồng ý vì đất này là của gia đình ông. Đồng thời yêu cầu phía nguyên đơn phải di dời mồ mã và nhà mồ trả lại đất cho gia đình ông.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hứa Thị C, chị Kim Thị Hồng T2, chị Kim Thị Thu T4, chị Kim Thị Anh T5 và chị Kim Hồng T3 thống nhất lời trình bày và yêu cầu của ông Kim Văn T1, không bổ sung gì thêm.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 19/2024/DS-ST ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Trà Vinh đã xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Dương Trung H, bà Lâm Thị L, bà Lâm Thị Ú về việc yêu cầu công nhận cho ông H, bà L, bà Ú được quyền sử dụng diện tích 88,9m² nằm trong tổng diện tích 2.766m² thuộc thửa số 867, tờ bản đồ số 9 tọa lạc tại ấp X, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh do hộ ông Kim Văn T1 đứng tên quyền sử dụng đất.
- Ông H, bà L, bà Ú có nghĩa vụ hoàn trả giá trị quyền sử dụng đất diện tích 58,1m² nằm trong 88,9m² nêu trên cho hộ ông Kim Văn T1 số tiền là 5.810.000 đồng.
- Hộ ông T1 gồm ông Kim Văn T1, bà Hứa Thị C, chị Kim Thị Hồng T2, chị Kim Thị Thu T4, chị Kim Thị Anh T5 và chị Kim Hồng T3 không được ngăn cản ông H, bà Ú, bà L đi qua đường mòn trên thửa đất số 867 nêu trên vào thăm mồ mã ông bà. Ông H, bà Ú, bà L không được lạm dụng quyền vào thăm mồ mã ông bà để gây ảnh hưởng đến quyền của hộ ông T1 đối với thửa đất số 867 nêu trên.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí thẩm định, định giá, án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của đương sự.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024, ông Kim Văn T1 kháng cáo yêu cầu Toà án phúc thẩm sửa một phần bản án sơ thẩm, trừ diện tích đất mộ công nhận cho gia đình ông H là 30,8m² thì buộc ông H, bà L, bà Ú tháo dỡ nền ốp gạch vĩa hè, có bê tông lót, có xây bó nền trên diện tích 58,1m², trả lại cho ông T1 diện tích 58,1m² thuộc thửa 867, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại ấp X, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh. Đồng thời yêu cầu hộ gia đình ông H, bà L, bà Ú không được cây cất thêm mộ trên phần mộ, giữ nguyên hiện trạng đất ban đầu.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Ý kiến của Vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh:
Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử phúc thẩm và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét kháng cáo của ông Kim Văn T1 là không có cơ sở chấp nhận vì tại thời điểm ông T1 chuyển nhượng trên đất đã có một ngôi mộ của thân tộc nguyên đơn, thời điểm nguyên đơn xây dựng nhà mồ, ông T1 và gia đình biết nhưng không ngăn cản.
Tuy nhiên bản án sơ thẩm tuyên án buộc hộ ông T1 là không rõ ràng, gây khó khăn trong việc thi hành án. Đề nghị Hội đồng xét xử sơ thẩm áp dụng Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 19/2024/DS-ST ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Trà Vinh về phần tuyên án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: vụ án tranh chấp quyền sử dụng đất, do đất tranh chấp tọa lạc tại huyện D, tỉnh Trà Vinh nên Toà án nhân dân huyện D giải quyết là đúng quy định tại Điều 26 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của ông Kim Văn T1: Thửa số 867, diện tích 2.766m² tờ bản đồ số 9 tọa lạc tại ấp X, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh, được Ủy ban nhân dân huyện D cấp quyền sử dụng cho hộ ông Kim Văn T1 vào năm 2002, có nguồn gốc do ông T1 nhận chuyển nhượng từ ông Thạch D vào năm 1988, tại thời điểm nhận chuyển nhượng trên thửa đất đã có 01 ngôi mộ (mã đất) của ông Huỳnh Văn Thế L1 ông ngoại của các nguyên đơn. Năm 1997, gia đình ông H đưa hài cốt của bà ngoại ông là bà Dương Thị T6 về chôn cạnh mộ ông T7 và tu sửa thành mộ đá, xây dựng nền mộ, hàng rào bao quanh. Năm 2013, gia đình ông H tiếp tục xây dựng nhà mồ trong khu vực hai ngôi mộ, toàn bộ quá trình thực hiện tu sửa, xây dựng ông T1 và các thành viên gia đình ông đều biết và không có ngăn cản.
[3] Theo biên bản xem xét thẩm định tại chổ thì diện tích đất gắn liền với khuôn viên nền mộ có diện tích 88,9m² nằm trong tổng diện tích 2.766m² thuộc thửa số 867, tờ bản đồ số 9 tọa lạc tại ấp X, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh. Trên toàn bộ phần đất nền ốp lát gạch vĩa hè có bê tông lót diện tích 89,25m²; hai mộ đá ốp gạch men, nhà mồ khung bê tông cốt thép, nền gạch men, diện tích 17,65m²; hàng rào trụ bê tông cốt thép, song bê tông cốt thép cao 1,1m, ngang 5,4m, dài 5,6m. Như vậy khuôn viên phần mộ đã được xây dựng kiên cố từ năm 1997 mà phía bị đơn không tranh chấp ngăn cản. Do đó Tòa án sơ thẩm công nhận cho ông H, bà L, bà Ú được quyền sử dụng diện tích 88,9m² nằm trong tổng diện tích 2.766m² thuộc thửa số 867, tờ bản đồ số 9 và buộc ông H, bà L, bà Ú có nghĩa vụ hoàn trả giá trị quyền sử dụng đất diện tích 58,1m² cho hộ ông Kim Văn T1 là có căn cứ.
[4] Xét việc Ủy ban nhân dân huyện D cấp quyền sử dụng toàn bộ diện tích thửa đất cho hộ ông Kim Văn T1, trong đó có phần diện tích đất mộ của thân tộc ông H, là không đúng đối tượng sử dụng đất, cần phải hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho hộ ông Kim Văn T1, nhưng cấp sơ thẩm không xem xét, và sau khi xét xử sơ thẩm, các đương sự không kháng cáo nên Tòa án phúc thẩm không xem xét. Đồng thời, cần giải quyết lối đi cho nguyên đơn vào viếng mộ mới hết vụ án, nhưng án sơ thẩm chỉ buộc bị đơn không được có hành vi cản trở việc nguyên đơn vào viếng mộ, và sau khi xét xử sơ thẩm, các đương sự không kháng cáo nên Tòa án phúc thẩm không xem xét. Kháng cáo của ông Kim Văn T1 là không có cơ sở chấp nhận. Tuy nhiên cấp sơ thẩm không tuyên rõ hộ ông T1 gồm những ai sẽ gây khó khăn cho công tác thi hành án, nên cấp phúc thẩm sửa lại phần tuyên án.
[5] Đề nghị của Kiểm sát viên xét xử phúc thẩm là phù hợp với quy định pháp luật nên được chấp nhận.
[6] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, không bị cải sửa có hiệu lực thi hành kể từ khi hết hạn kháng cáo kháng nghị.
[7] Về án phí dân sự: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên người kháng cáo ông Kim Văn T1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, tuy nhiên do ông T1 là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí, căn cứ Điều 12, 14 Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 ngày 30/12/2016, miễn án phí cho ông Kim Văn T1.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 12, 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Kim Văn T1.
Sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 19/2024/DS-ST ngày 26 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Trà Vinh về phần tuyên án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Dương Trung H, bà Lâm Thị L, bà Lâm Thị Ú về việc yêu cầu công nhận cho ông H, bà L, bà Ú được quyền sử dụng diện tích 88,9m² nằm trong tổng diện tích 2.766m² thuộc thửa số 867, tờ bản đồ số 9 tọa lạc tại ấp X, xã L, huyện D, tỉnh Trà Vinh do hộ ông Kim Văn T1 đứng tên quyền sử dụng đất, có kích thước tứ cận như sau:
- - Hướng Đông giáp thửa 867 kích thước 8,4m
- - Hướng Tây giáp thửa 867 kích thước 8,6m
- - Hướng Nam giáp thửa 867 kích thước 10,7m
- - Hướng Bắc giáp thửa 867 kích thước 10,3m
- Ông Dương Trung H, bà Lâm Thị L, bà Lâm Thị Ú có nghĩa vụ hoàn trả giá trị quyền sử dụng đất diện tích 58,1m² nằm trong 88,9m² nêu trên cho hộ ông Kim Văn T1 số tiền là 5.810.000 đồng.
- Hộ ông T1 gồm ông Kim Văn T1, bà Hứa Thị C, chị Kim Thị Hồng T2, chị Kim Thị Thu T4, chị Kim Thị Anh T5 và chị Kim Hồng T3 không được ngăn cản ông Dương Trung H, bà Lâm Thị L, bà Lâm Thị Ú đi qua đường mòn trên thửa đất số 867 nêu trên vào thăm mồ mã ông bà. Ông H, bà Ú, bà L không được lạm dụng quyền vào thăm mồ mã ông bà để gây ảnh hưởng đến quyền của hộ ông T1 đối với thửa đất số 867 nêu trên.
- Các phần khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, không bị sửa có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn cho ông Kim Văn T1.
(Thuộc phần A Sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số 202/CV-CNHDH ngày 07/6/2022 của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện D)
Ông Dương Trung H, bà Lâm Thị L, bà Lâm Thị Ú có nghĩa vụ liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền dụng đất.
Tất cả số tiền trên kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Ái Loan |
6
7
Bản án số 205/2024/DS-PT ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 205/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất giữa Dương Trung H với Kim Văn Th
