Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐIỆN BIÊN

TỈNH ĐIỆN BIÊN

Bản án số: 205/2022/HS-ST

Ngày: 20/7/2022

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Yên

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nông Trung Kiên, Bà Nguyễn Thị Tâm

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Châm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 7 năm 2022 tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên mở phiên tòa trực tuyến xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 206/2022/TLST- HS ngày 24 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 208/2022/QĐXXST- HS ngày 07 tháng 7 năm 2022 đối với Bị cáo:

Họ và tên: Cà Văn N; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm: 1996, tại Điện Biên; Nơi cư trú: Bản M, xã Thanh L, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Con ông: Cà Văn P – Sinh năm 1977 và con bà: Lò Thị P – Sinh năm 1976; Vợ: Lù Thị V – Sinh năm 1995 (Đã ly hôn); Có 01 con sinh năm 2013; Tiền sự: Không; Tiền án: Không. Nhân thân: Bị cáo chưa bị Tòa án nào xét xử; Ngày 01/02/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên ra Quyết định số 23/2018/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc trong thời hạn 22 tháng, ngày 02/10/2019 chấp hành xong và được coi chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/5/2022 sau đó chuyển sang tạm giam cho đến ngày xét xử (Có mặt tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện Điện Biên).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 01/5/2022, Cà Văn N đi bộ từ nhà ở bản M, xã T, huyện Đ đến khu vực khe suối giữa bản N và bản L, xã T, h mục đích tìm mua Heroine để sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, N gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 30 tuổi (Không biết tên, địa chỉ) một gói Heroine được gói bên ngoài bằng nilon màu trắng, miệng gói được hàn kín với giá 160.000 đồng. Sau khi mua được Heroine, Nam cất giấu vào bên trong tem mác chiếc quần N đang mặc rồi đi bộ về nhà. Hồi 20 giờ 35 phút cùng ngày khi N đang đi bộ tại khu vực bản L, xã T, huyện Đ thì bị Tổ công tác Đồn biên phòng Thanh Luông, Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Điện Biên phát hiện, bắt quả tang và thu giữ 01 gói chất bột màu trắng nghi Heroine có khối lượng 0,76 gam bên trong tem mác chiếc quần N đang mặc.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng và niêm phong vật chứng ngày 02/5/2022 đã xác định như sau: Các cục bột màu trắng nghi Heroine của Cà Văn N có khối lượng là 0,76 gam gửi toàn bộ giám định.

Tại bản kết luận giám định số 601/KL-KTHS ngày 03/5/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng có khối lượng 0,76 gam thu giữ của Cà Văn N gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine. Kèm theo kết luận giám định hoàn lại đối tượng giám định 0,65 gam và bì niêm phong cũ có biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng giám định kèm theo.

Tại bản cáo trạng số 123/CT-VKSĐB ngày 23/6/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên truy tố bị cáo Cà Văn N về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt bị cáo: Từ 18 tháng đến 21 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với Bị cáo.
  • Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 0,65 gam Heroine là vật chứng còn lại của vụ án.
  • Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, hoàn toàn nhất trí với bản Cáo trạng và luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên.

Lời nói sau cùng của Bị cáo trước khi HĐXX nghị án: Bị cáo Cà Văn N xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội của Bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Cà Văn N khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản mở niêm phong xác định khối lượng; Kết luận giám định, Kết luận điều tra, các bản cung, biên bản ghi lời khai, bản tự khai có trong hồ sơ vụ án cũng như cáo trạng đã truy tố đối với Bị cáo, có đủ cơ sở khẳng định: Hồi 20 giờ 35 phút, ngày 01/5/2022 tại khu vực bản L, xã T, huyện Đ, Cà Văn N bị tổ công tác Đồn biên phòng Thanh Luông, Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh Điện Biên phát hiện, bắt quả tang vì đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,76 gam Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Nguồn gốc số Heroine bị thu giữ là do N mua của một người đàn ông dân tộc Thái khoảng 30 tuổi (không biết tên, địa chỉ) với số tiền 160.000 đồng (Một trăm sáu mươi nghìn đồng). Hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, vi phạm pháp luật. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi do lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi nêu trên của Bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[2] Về tính chất của vụ án: Vụ án thuộc trường hợp nghiêm trọng. Hành vi cất giấu trái phép chất ma túy nhằm mục đích để sử dụng của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, gây mất trật tự tại địa phương, gây dư luận xấu trên địa bàn. Mặt khác ma túy là hiểm họa của loài người, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Chính vì vậy Bị cáo phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với Bị cáo để giáo dục Bị cáo trở thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

[3.1] Tình tiết tăng nặng: Bản thân Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3.2] Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với Bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[3.3] Về nhân thân: Bị cáo sinh ra và lớn lên tại xã T, huyện Đ, tỉnh Điện Biên. Bị cáo được gia đình nuôi và cho đi học đến lớp 9/12 thì nghỉ học ở nhà phụ giúp gia đình. Năm 2012 kết hôn với chị Lù Thị V và có một người con sinh năm 2013. Đến năm 2021 Bị cáo ly hôn với chị V. Bị cáo sử dụng chất ma túy từ năm 2015 cho đến nay. Ngày 01/02/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Điện Biên ra Quyết định số 23/2018/QĐ-TA áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc trong thời hạn 22 tháng, ngày 02/10/2019 chấp hành xong và được coi chưa bị xử lý vi phạm hành chính.

[4] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính Bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Nhưng xét thấy Bị cáo là đối tượng nghiện ma tuý, nghề nghiệp của bị cáo là làm ruộng không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên không có khả năng thi hành. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Cà Văn N phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Xử phạt Bị cáo: 01(Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (Ngày 01/5/2022).

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 0,65 gam Heroine là vật chứng còn lại của vụ án.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Nhà tạm giữ CAHĐB;
  • - VKSND huyện Điện Biên;
  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - CQCSĐT CAHĐB;
  • - Hồ sơ THA hình sự;
  • - Chi cục THADS huyện Điện Biên;
  • - Toà án ND tỉnh Điện Biên;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Sở tư pháp;
  • - Lưu VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Yên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 205/2022/HS-ST ngày 20/07/2022 của Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 205/2022/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/07/2022
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt 01 năm 06 tháng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger