|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 204A/2024/HNGĐ-ST Ngày: 24/06/2024 V/v "Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Mai Khanh
- Bà Nguyễn Thị Quế Anh
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Quyên, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 96/2024/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 03 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 178/2024/QĐXX-ST ngày 17/05/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Mỹ S; sinh năm 1978; Địa chỉ: Số nhà E, đường T, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Chị Lê Tuyết N, sinh năm: 1993; Địa chỉ: khối I, phường B, thành phố V, tỉnh Nghệ An (Ủy quyền nhận, giao nộp văn bản, tài liệu).
- Bị đơn: Anh Phạm Sỹ H; sinh năm 1978; Địa chỉ: Xóm A, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Hiện đang cư trú tại: Hàn Quốc. Vắng mặt (lần thứ hai).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/08/2023, bản tự khai ngày 13/5/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Lê Thị Mỹ S trình bày:
Chị và anh Phạm Sỹ H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn ngày 11/01/2005 tại UBND xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Sau khi kết hôn tình cảm vợ chồng thời gian đầu hoàn toàn bình thường, đến khoảng năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn, đến đầu năm 2014 thì anh Phạm Sỹ H đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc, thời gian đầu vợ chồng còn liên lạc với nhau thường xuyên nhưng càng về sau thì không thường xuyên liên lạc về cho vợ con nữa. Do khoảng cách địa lý ở xa và vì những mâu thuẫn đã phát sinh trước đó mà vợ chồng vẫn chưa khắc phục được dẫn đến tình trạng mâu thuẫn vợ chồng càng ngày càng trầm trọng, anh H không còn liên lạc về cho chị nữa, không quan tâm đến vật chất lẫn tinh thần, không thông tin cho chị nơi ở Hàn Quốc dẫn đến tình cảm vợ chồng phai nhạt. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình hai vợ chồng không phù hợp, bất đồng quan điểm sống, lại sống xa nhau dẫn đến vợ chồng không có tiếng nói chung. Gia đình hai bên cũng đã trao đổi nhiều lần nhưng tình trạng vợ chồng vẫn không khắc phục được, hiện nay chị xét thấy vợ chồng sống ly thân đã lâu, tình cảm vợ chồng không còn mục đích vợ chồng không đạt được nên chị làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn với anh H.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Phạm Sỹ Lê H1, sinh ngày 03/05/2010. Hiện nay cháu đang ở với chị. Nay ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà bị đơn anh Phạm Sỹ H vắng mặt, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Theo kết quả xác minh tại Công văn số 2051/QLXNC-P3 ngày 24 tháng 01 năm 2024 của Cục Q – Bộ C thì: “Trường hợp Phạm Sỹ H, sinh ngày 23/5/1978 tại Nghệ An, CMND số [...]; khai hộ khẩu thường trú tại: H, Nghệ An; đã xuất nhập cảnh 05 lần, lần cuối sử dụng hộ chiếu số B2628123 để xuất cảnh ngày 17/3/2015 qua cửa khẩu N2, hiện chưa có thông tin nhập cảnh”. Vì vậy, sau khi thụ lý, Toà án đã gửi, niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Công văn đề nghị cung cấp thông tin, địa chỉ của anh H ở nước ngoài; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa... nhưng anh H vẫn không có mặt, không có văn bản trình bày ý kiến để giải quyết nên vụ án không tiến hành hoà giải được.
Tại đơn trình bày đề ngày 16/05/2024, ông Phạm Sỹ K, bà Trần Thị N1 trình bày: Ông bà là bố mẹ đẻ anh Phạm Sỹ H. Anh H hiện đang sinh sống và làm việc tại Hàn Quốc, có thường xuyên điện thoại về hỏi thăm sức khỏe ông bà. Qua thông báo của Tòa án, ông, bà được biết hiện nay chị Lê Thị Mỹ S đang làm đơn xin ly hôn với anh H và đã thông báo cho anh H biết. Thông qua ông bà, anh H đồng ý ly hôn với chị S, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, hiện nay anh H thường xuyên thay đổi chỗ ở không có địa chỉ cụ thể để cung cấp cho ông, bà nên ông bà không có địa chỉ của anh H ở nước ngoài để cung cấp cho Tòa án. Việc ly hôn của anh H và chị S thì ông bà không có ý kiến, đó là việc của vợ chồng anh H tự giải quyết. Do điều kiện sức khỏe nên ông bà xin vắng mặt tất của các buổi làm việc và triệu tập của Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự; việc thụ lý và giải quyết vụ án đúng các quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định đúng tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo đúng quy định... Tại phiên toà, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt là không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về việc giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 122, 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- + Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Lê Thị Mỹ S được ly hôn anh Phạm Sỹ H.
- + Về con chung: Giao con chung Phạm Sỹ Lê H1, sinh ngày 03/5/2010 cho chị Lê Thị Mỹ S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Phạm Sỹ H do chị S chưa có yêu cầu.
- + Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên Toà án không xem xét.
- + Về án phí: Nguyên đơn chị Lê Thị Mỹ S phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án; lời trình bày của đương sự được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngày 16/8/2023 chị Lê Thị Mỹ S có đơn khởi kiện gửi tới Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Phạm Sỹ H. Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo thì chị Lê Thị Mỹ S và anh Phạm Sỹ H đều có nơi đăng ký thường trú tại xóm A, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An nhưng anh H đã đi xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc từ năm 2014 đến nay chưa về nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, 123 và 127 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà, bị đơn anh Phạm Sỹ H mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Bị đơn anh Phạm Sỹ H hiện nay vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm A, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An nhưng đã xuất khẩu lao động tại Hàn Quốc từ năm 2014, hiện không có mặt tại địa phương mà không thông báo địa chỉ cụ thể hiện nay tại nước ngoài. Toà án đã có công văn yêu cầu cung cấp địa chỉ của anh H ở nước ngoài nhưng theo ông Phạm Sỹ K và bà Trần Thị N1 (bố mẹ đẻ anh H) thì anh H tuy vẫn có liên hệ với gia đình và đã biết việc Toà án đang thụ lý giải quyết yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị Mỹ S nhưng vẫn không cung cấp địa chỉ cụ thể, không gửi lời khai về nên gia đình không có để cung cấp cho Toà án. Do đó, cần xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Phạm Sỹ H.
[2] Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Mỹ S:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Lê Thị Mỹ S và anh Phạm Sỹ H được xác lập trên cơ sở do hai người tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng đã có thời gian chung sống hoà thuận và đã có với nhau một con chung nhưng hạnh phúc gia đình không xây dựng được lâu dài do hai anh chị có nhiều bất đồng, mâu thuẫn trong cuộc sống, vợ chồng đã lâu không liên lạc, không quan tâm lẫn nhau về đời sống vật chất lẫn tinh thần. Quá trình giải quyết vụ án, anh H lại không có mặt tại Toà án để làm việc, cũng không cung cấp được chứng cứ gì về phương án khắc phục tình trạng vợ chồng. Hội đồng xét thấy, thời gian mà vợ chồng chung sống với nhau là không dài mà đã ly thân nhiều năm nay nhưng cả hai bên đương sự đều không có giải pháp gì để đoàn tụ, nguyên đơn chị S vẫn kiên quyết yêu cầu giải quyết ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị S yêu cầu giải quyết ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Theo lời khai của chị S và các tài liệu thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án thì chị Lê Thị Mỹ S và anh Phạm Sỹ H có một con chung là: Phạm Sỹ Lê H1, sinh ngày 03/05/2010, hiện nay đang do chị S trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Nay ly hôn, chị S đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cháu H1 và không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy yêu cầu được nuôi con của đương sự là hoàn toàn chính đáng và từ khi anh H đi xuất khẩu lao động đến nay, cháu đã ở cùng với chị S, được chăm sóc, phát triển hoàn toàn bình thường, khỏe mạnh. Anh H hiện nay lại đang đi làm việc, sinh sống ở nước ngoài, không có địa chỉ cụ thể nên yêu cầu được nuôi con của chị S là phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của các bên cũng như nguyện vọng của con chung. Vì vậy, cần giao cháu Phạm Sỹ Lê H1 cho chị S tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình là phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con và điều kiện hoàn cảnh của các bên, đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu. Chị S xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung nhưng không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên Toà án chưa xem xét.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, chị S không yêu cầu Toà án giải quyết, anh H cũng chưa có ý kiến gì nên Toà án chưa có cơ sở để xem xét. Các đương sự có quyền khởi kiện khi có yêu cầu.
[3]. Về án phí: Chị Lê Thị Mỹ S phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 207, Điều 227, khoản 1 Điều 288, khoản 1 Điều 273, Điều 469, Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị Mỹ S được ly hôn với anh Phạm Sỹ H.
- Về quan hệ con chung: Giao con chung là Phạm Sỹ Lê H1, sinh ngày 03/05/2010 cho chị Lê Thị Mỹ S trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: chị Lê Thị Mỹ S không yêu cầu và anh Phạm Sỹ H cũng chưa có ý kiến nên Tòa án chưa xem xét.
Anh Phạm Sỹ H có quyền đi lại thăm nom, không ai được cản trở anh Phạm Sỹ H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị Lê Thị Mỹ S và anh Phạm Sỹ H không yêu cầu nên Toà án không giải quyết. Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.
- Về án phí: Chị Lê Thị Mỹ S phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0012711 ngày 06/03/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau:
Chị Lê Thị Mỹ S có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Anh Phạm Sỹ H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thanh Nga |
Bản án số 204A/2024/HNGĐ-ST ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 204A/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn giữa chị S và anh H
