|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 204/2024/DS-ST
Ngày 28-6-2024
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thương
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Văn Cường;
- Ông Tô Văn Nhung;
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương Giang, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thuý An - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 269/2024/TLST-DS ngày 10/5/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 243/2024/QĐXXST-DS ngày 10/6/2024, Quyết định hoãn phiên toà số 210/2024/QÐST-DS ngày 25/6/2024, giữa các đương sự:
· Nguyên đơn: Ông Trần Văn Nhị Đ, sinh năm 1968; địa chỉ: số G đường F, khu phố D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; (Có yêu cầu xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thu H, sinh năm 1966; địa chỉ: Số A khu phố B, phường A, thành phố D, Bình Dương; (Vắng mặt không rõ lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 10/4/2024 và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Trần Văn Nhị Đ trình bày:
Ngày 30/1/2022, ông Đ cho bà Nguyễn Thu H vay số tiền 100.000.000 đồng; Thời hạn vay là 03 tháng kể từ ngày 30/01/2022 và không thỏa thuận lãi. Thực hiện theo hợp đồng vay, ngày 30/01/2022, tại nhà bà H; địa chỉ A, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương, ông Đ đã đưa đủ 100.000.000 đồng bằng tiền mặt cho bà H và bà H có viết “giấy mượn tiền” đề ngày 30/01/2022. Việc bà H viết giấy mượn tiền và việc giao nhận tiền có sự chứng kiến của ông Trần Thanh B và ông Ngô Hồng Đ1. Hết thời hạn vay (ngày 30/4/2022), bà H không trả lại tiền gốc cho ông Đ. Mặc dù, ông Đ đã nhiều lần liên hệ để yêu cầu bà H thanh toán khoản nợ nhưng bà H cố tình trốn tránh không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Chính vì vậy, ông Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc bà Nguyễn Thu H trả cho ông Trần Văn N Đệ tổng số tiền 121.479.000 đồng, gồm: nợ gốc 100.000.000 đồng và tiền lãi tạm tính từ ngày 01/5/2022 đến ngày 28/6/2024 (25 tháng 27 ngày) với lãi suất 10%/năm: 100.000.000 đồng x 10%/năm x (25 tháng 27 ngày) = 21.479.000 đồng.
Chứng cứ nguyên đơn cung cấp: Giấy vay tiền ngày 30/01/2022.
- Đối với bị đơn bà Nguyễn Thu H: Quá trình tố tụng, bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; Thông báo cho đương sự vắng trên phương tiện thông tin đại chúng, triệu tập hợp lệ bị đơn để làm việc, lấy lời khai; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham gia phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do.
- Người làm chứng ông Trần Thanh B và ông Ngô Hồng Đ1 trình bày:
Ngày 30/01/2022, tại nhà bà Nguyễn Thu H, sinh năm1966; địa chỉ: Số A khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương, ông B và ông Đ1 có chứng kiến việc ông Trần Văn Nhị Đ cho bà Nguyễn Thu H vay số tiền 100.000.000 đồng; thời hạn vay 3 tháng kể từ 30/01/2022 đến 30/4/2022, việc vay tiền không có lãi. Ông Đ và bà H có lập “giấy vay tiền" đề ngày 30/01/2022 do bà H viết. Ông B và ông Đ1 có ký bên người làm chứng. Sau khi ký “giấy vay tiền” đề ngày 30/01/2022, ông Đ đã bàn giao đủ số tiền vay cho bà H dưới sự chứng kiến của ông B và ông Đ1. Hai ông chứng kiến việc bà H vay tiền của ông Đ vì ông Đ có rủ ông B và ông Đ1 đi cùng để chứng kiến cho sự việc trên. Ông B và ông Đ1 cam đoan lời khai trên là sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm đối với lời khai của mình.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa:
Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã chấp hành và tuân theo pháp luật đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Nguyên đơn có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt và bị đơn đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không rõ lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là hợp lệ.
Về nội dung vụ án: Xét thấy, nguyên đơn và bị đơn có quan hệ hợp đồng vay tiền theo chứng cứ do nguyên đơn cung cấp trong quá trình tố tụnglà “Giấy mượn tiền ngày 30/01/2022” và lời khai của người làm chứng. Bị đơn chưa trả tiền cho nguyên đơn nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả lại số tiền gốc là có căn cứ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận. Đối với yêu cầu tính lãi, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả lãi chậm trả theo mức lãi suất 10%/năm (tương đương 0,83%/tháng và 0,027%/ngày). Mức lãi suất của nguyên đơn yêu cầu là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nguyên đơn ông Trần Văn Nhị Đ có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và bị đơn bà Nguyễn Thu H đã được Toà án triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ các Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt tất các đương sự.
[2] Về quan hệ vay tiền giữa ông Trần Văn Nhị Đ và bà Nguyễn Thu H: Theo lời khai của ông Đ và các chứng cứ do ông Đ cung cấp trong quá trình tố tụng, lời khai của người làm chứng thể hiện: Ngày 30/01/2022, bà Nguyễn Thu H có vay của ông Trần Văn N Đệ số tiền 100.000.000 đồng, việc vay tiền được thể hiện bằng “giấy mượn tiền” ngày 30/01/2022. Trong giấy mượn tiền có chữ ký của bên vay bà Nguyễn Thu H và 02 người làm chứng là ông Trần Thanh B và ông Ngô Hồng Đ1, giấy vay tiền do bà Nguyễn Thu H viết. Trong suốt quá trình tố tụng, bị đơn bà H không có ý kiến hay cung cấp tài liệu chứng cứ để phản bác phần trình bày cũng như chứng cứ và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Như vậy, căn cứ vào chứng cứ và lời khai của nguyên đơn ông Đ, người làm chứng ông B và ông Đ1 có cơ sở xác định ông Đ có cho bà H vay số tiền 100.000.000 đồng.
[3] Theo quy định của Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 về nghĩa vụ trả nợ của bên vay: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn...”. Ông Đ xác định từ khi vay đến nay bà H chưa trả cho ông Đ khoản tiền nào, kể cả tiền gốc và tiền lãi. Bị đơn bà H không cung cấp chứng cứ chứng minh đã thực hiện nghĩa vụ thanh toán nợ. Vì vậy, nay ông Đ khởi kiện yêu cầu bà H trả số tiền vay còn nợ là 100.000.000 đồng là có căn cứ chấp nhận (1).
[4] Về tiền lãi: Tại “giấy vay tiền” đề ngày 30/01/2022, các bên không thỏa thuận về lãi, chỉ thỏa thuận thời hạn vay là ba tháng kể từ ngày 30/01/2022 (tức hạn cuối đến ngày 30/4/2022), bà H sẽ trả đầy đủ tiền nợ gốc. Như vậy, xác định thỏa thuận vay giữa các bên là vay có thời hạn và không có lãi. Đến hạn trả nợ bà H không thực hiện đúng nghĩa vụ trả tiền nên phải chịu trách nhiệm do chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự, lãi suất chậm trả được tính là 10%/năm (tương đương 0,83%/tháng và 0,027%/ngày) theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, tính từ ngày 01/5/2022 đến ngày 28/6/2024 trên số tiền chậm trả tương ứng 100.000.000 đồng, cụ thể: [(100.000.000 đồng x 0,83% x 25 tháng) + (100.000.000 đồng x 0,027% x 27 ngày)] = 21.479.000 đồng (2). Yêu cầu của ông Đ về tiền lãi là phù hợp với quy định của pháp luật nên có căn cứ chấp nhận.
[5] Như vậy, tổng số tiền bà Nguyễn Thu H phải thanh toán cho ông Trần Văn N Đệ là (1) + (2): 100.000.000 đồng + 21.479.000 đồng = 121.479.000 đồng.
[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phát biểu tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
[7] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thu H phải chịu án phí có giá ngạch được tính trên tổng số tiền phải trả cho ông Trần Văn N Đệ theo quy định của Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 357, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào các Điều 92, 144, 147, 227, 228, 238 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn Nhị Đ đối với bà Nguyễn Thu H.
Buộc bà Nguyễn Thu H phải trả cho ông Trần Văn N Đệ số tiền 121.479.000₫ (một trăm hai mươi mốt triệu bốn trăm bảy mươi chín nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
2. Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thu H phải chịu 6.073.950₫ (sáu triệu không trăm bảy mươi ba nghìn chín trăm năm mươi đồng). Trả lại cho ông Trần Văn N Đệ 3.048.630đ (ba triệu không trăm bốn mươi tám ngàn sáu trăm ba mươi đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002885 ngày 02/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
3. Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thương |
Bản án số 204/2024/DS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 204/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
