TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 204/2024/HS-ST
Ngày: 27-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Thanh Quyên
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Tư
- 2. Bà Nguyễn Thị Thuỷ
- - Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Mạnh – Kiểm sát viên.
Ngày 27/9/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 192/2024/HSST ngày 16/9/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 191/2024/QĐXXST – HS ngày 16/9/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh năm 1995; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Thôn K, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện tại: Số nhà A, ngõ A, đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Bố: Nguyễn Văn B, sinh năm 1965; Mẹ: Trần Thị O, sinh năm 1966; Gia đình có 3 anh em, bị cáo là thứ ba; Vợ: Lại Bảo Y, sinh năm 1995; Có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/9/2024, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B và có mặt tại phiên toà.
* Bị hại: Chị Nguyễn Thu H1, sinh năm 1995 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số nhà C, đường T, tổ E, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Lại Hải Y1, sinh năm 1995 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số nhà A, ngõ A, đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn H, sinh năm 1995, đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn K, xã T, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa (hiện ở tại số nhà A, ngõ A, đường T, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang) quen biết chị Nguyễn Thu H1, sinh năm 1995, trú tại số nhà C, đường T, tổ E, phường T, thành phố B. Chị H1 kinh doanh online các mặt hàng hoa quả như dâu tây, hạt dẻ, mã thầy.
Tháng 12/2023, chị Nguyễn Thu H1 thuê Nguyễn Văn H đi giao các mặt hàng hoa quả do khách đặt mua online trên địa bàn tại thành phố B. Hàng ngày khi có khách liên hệ mua hàng, chị H1 sẽ nhắn tin qua ứng dụng Zalo đến số điện thoại 0346.014.xxx của H được lưu tên trong danh bạ điện thoại là “Ck Yến Ship” những thông tin gồm địa chỉ, số điện thoại của khách và giá tiền mỗi đơn. Chị H1 đóng gói các đơn hàng để H đến lấy hàng và đi giao cho khách. H sẽ thu tiền từ khách hàng theo trị giá mỗi đơn hàng cộng thêm tiền công vận chuyển từ 10.000 đồng đến 25.000 đồng tuỳ theo từng đơn hàng bằng hình thức nhận tiền mặt hoặc nhận chuyển khoản đến số tài khoản 6101650888 ngân hàng T của H, trường hợp khách đã thanh toán với chị H1 thì H không thu tiền, có một số đơn hàng mà chị H1 miễn phí vận chuyển thì H chỉ thu tiền theo giá trị của đơn hàng còn phí vận chuyển sẽ do chị H1 thanh toán cho H. Ngoài ra, trong quá trình vận chuyển thì chị H1 còn thuê H đi lấy hàng nhập về, H sẽ chủ động thanh toán chi phí vận chuyển với các nhà xe rồi mang hàng về giao cho chị H1. Cuối mỗi ngày giao hàng, chị H1 tính tổng trị giá các đơn hàng mà H đã giao, trừ đi số tiền H thanh toán khi đi lấy hàng, tiền công và những đơn hàng mà H không được thu tiền vận chuyển để xác định tổng số tiền H phải bàn giao cho chị H1 trong ngày.
Từ ngày 30/01/2024 đến ngày 03/02/2024, Nguyễn Văn H sử dụng xe mô tô Honda Wave, biển kiểm soát 36B3-660.12 đến nhà chị H1 để lấy hàng và đã giao hàng thành công đối với 57 lượt khách hàng với tổng trị giá các đơn hàng là 9.030.000 đồng. Trong đó có 19 đơn hàng khách đã thanh toán bằng hình thức trả tiền mặt cho H với tổng trị giá 2.670.000 đồng và 36 đơn hàng khách đã thanh toán bằng hình thức chuyển khoản cho H với tổng trị giá 6.180.000 đồng, có 02 đơn hàng được khách thanh toán trực tiếp cho chị H1 với tổng trị giá 180.000 đồng. Trong thời gian này, H đi lấy hàng cho chị H1 05 lần với tổng số tiền H đã thanh toán, tiền công lấy hàng là 570.000 đồng, ngoài ra có 11 đơn hàng mà H không thu tiền công vận chuyển khi giao hàng cho khách tương ứng với số tiền 110.000 đồng. Cụ thể như sau: Ngày 30/01/2024, H giao thành công 01 đơn hàng trị giá 175.000 đồng được thanh toán bằng tiền mặt. H đi lấy hàng cho chị H1 01 lần, được khấu trừ số tiền 70.000 đồng. Số tiền H phải trả cho chị H1 trong ngày là 105.000 đồng; Ngày 31/01/2024, chị H đã gửi cho H thông tin của 19 đơn hàng trong đó có 01 đơn bị huỷ trước khi đến lấy hàng. H giao thành công 18 đơn hàng tổng trị giá 2.975.000 đồng trong đó 14 đơn hàng nhận chuyển khoản tổng trị giá 2.650.000 đồng, 04 đơn hàng nhận tiền mặt tổng trị giá 325.000 đồng. Trong ngày H đi lấy hàng cho chị H1 02 lần, được khấu trừ số tiền 130.000 đồng và 100.000 đồng. Ngoài ra có 02 đơn hàng chị H1 miễn phí vận chuyển cho khách, H được khấu trừ 20.000 đồng. Số tiền H phải hoàn trả cho chị H1 trong ngày 31/01/2024 là 2.725.000 đồng; Ngày 01/02/2024, H giao thành công 13 đơn hàng tổng trị giá 2.025.000 đồng, trong đó 01 đơn khách mua đã thanh toán trực tiếp cho chị H1 trị giá 50.000 đồng; 10 đơn hàng H nhận chuyển khoản tổng trị giá 1.665.000 đồng, 02 đơn hàng H nhận tiền mặt tổng trị giá 310.000 đồng. Trong ngày H đi lấy hàng cho chị H1 01 lần, được khấu trừ số tiền 130.000 đồng. Ngoài ra có 02 đơn hàng chị H1 miễn phí vận chuyển cho khách và 01 đơn hàng khách đã trả phí vận chuyển cho chị H1 nên H được khấu trừ 30.000 đồng. Số tiền H phải hoàn trả cho chị H1 trong ngày 01/02/2024 là 1.815.000 đồng; Ngày 02/02/2024, H giao thành công 17 đơn hàng tổng trị giá 2.380.000 đồng, trong đó 01 đơn khách mua đã thanh toán trực tiếp cho chị H1 trị giá 130.000 đồng; 08 đơn hàng H nhận chuyển khoản tổng trị giá 1.155.000 đồng, 08 đơn hàng H nhận tiền mặt tổng trị giá 1.095.000 đồng. Trong ngày, H đi lấy hàng cho chị H1 01 lần, được khấu trừ số tiền 140.000 đồng. Ngoài ra có 02 đơn hàng chị H1 miễn phí vận chuyển cho khách và 01 đơn hàng khách đã trả phí vận chuyển cho chị H1 nên H được khấu trừ 30.000 đồng. Số tiền H phải hoàn trả cho chị H1 trong ngày 02/02/2024 là 2.080.000 đồng; Ngày 03/02/2024, H giao thành công 08 đơn hàng tổng trị giá 1.475.000 đồng, trong đó 04 đơn hàng H nhận chuyển khoản tổng trị giá 710.000 đồng, 04 đơn hàng H nhận tiền mặt tổng trị giá 765.000 đồng. Trong ngày có 03 đơn hàng chị H1 miễn phí vận chuyển cho khách nên H được khấu trừ 30.000 đồng. Số tiền H phải hoàn trả cho chị H1 trong ngày 03/02/2024 là 1.445.000 đồng. Tổng số tiền Nguyễn Văn H đã thu của khách và phải hoàn trả cho chị H1 từ ngày 30/01/2024 đến ngày 03/02/2024 là 8.170.000 đồng.
Sau đó, H đã nảy sinh ý định chiếm đoạt số tiền trên. H đã chi tiêu và chơi trò chơi điện tử trên mạng. Ngày 03/02/2024, chị H1 yêu cầu H phải hoàn trả số tiền đã thu nhưng chưa thanh toán thì H đã chi tiêu hết nên không có tiền trả cho chị H1. Ngày 04/02/2024, H tự nghỉ làm việc và đi khỏi địa phương để trốn tránh việc trả nợ. Chị H1 nhiều lần nhắn tin, gọi điện cho H để đòi tiền nhưng H không nghe máy.
Ngày 25/02/2024, chị Nguyễn Thu H1 có đơn trình báo H chiếm đoạt số tiền 8.900.000 đồng. Quá trình điều tra đã xác định tổng số tiền Nguyễn Văn H chiếm đoạt của chị Nguyễn Thu H1 là 8.170.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số 195/CT-VKS ngày 16/9/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như Cáo trạng đã truy tố. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là không oan, bị cáo nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật của mình là sai, bị cáo rất hối hận, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Quá trình làm việc với Cơ quan Điều tra, bị cáo đã giao nộp số tiền 9.000.000 đồng là tiền bị cáo bồi thường cho chị H1. Đến nay bị cáo nhất trí bồi thường cho chị H1 số tiền 8.170.000 đồng. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 36 B3 -660.12; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A2020, số tiền còn thừa là tài sản của cá nhân bị cáo nên bị cáo đề nghị được xin lại.
Bị hại chị Nguyễn Thu H1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lại Hải Yến vắng mặt tại phiên toà, được công bố lời khai. Bị cáo không có ý kiến gì về những lời khai đó.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 6 tháng đến 8 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 04/9/2024.
- Do bị cáo không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp, hiện đang bị tạm giam nên không cần áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thu H1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền chiếm đoạt 8.170.000 đồng. Bị cáo đã nộp số tiền 9.000.000 đồng để bồi thường cho chị H1 qua Cơ quan Cảnh sát Điều tra và được chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang. Do vậy, cần áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584; Điều 585; Điều 589 Bộ luật Dân sự để buộc bị cáo H bồi thường cho chị H1 số tiền 8.170.000 đồng. Chị H1 được nhận số tiền bồi thường trên tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.
- Về xử lí vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- +Trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 36B3 -660.12; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A2020, gắn sim số 0346.014.234 và số tiền 830.000 đồng nhưng được giữ lại tiền để đảm bảo công tác thi hành án,
- Ngoài ra, cần áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, bị hại, người liên quan.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đều hợp pháp.
- Về việc xét xử vắng người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Tại phiên toà hôm nay bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, việc vắng mặt họ không ảnh hưởng tới kết quả xét xử vụ án do họ đã có lời khai trong hồ sơ. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị hại, người liên quan là có căn cứ.
- Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình gây ra. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn H được chị Nguyễn Thu H1 ở số nhà C, đường T, tổ E, phường T, thành phố B thuê giao các mặt hàng hoa quả và thu tiền từ các khách hàng trên địa bàn thành phố B. Từ ngày 30/01/2024 đến ngày 03/02/2024, H thu tiền từ khách hàng nhưng không trả cho chị H1 mà chiếm đoạt sử dụng chi tiêu cá nhân. Ngày 04/02/2024, H tự nghỉ làm việc và đi khỏi địa phương để trốn tránh việc trả nợ. Tổng số tiền mà H chiếm đoạt của chị H1 là 8.170.000 đồng.
- Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo được chị H1 thuê đi giao các mặt hàng hoa quả và thu tiền hàng. Tuy nhiên, sau khi giao hàng và nhận tiền hàng bị cáo không trả chị H1 mà chiếm đoạt số tiền 8.170.000 đồng để chi tiêu rồi bỏ trốn để trốn tránh việc trả nợ. Do vậy, cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.
- Hành vi phạm tội của bị cáo mặc dù ít nghiêm trọng xong đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương nơi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của bị cáo.
- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa bị xét xử và xử phạt vi phạm hành chính lần nào.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo lần đầu phạm tội, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi phạm tội, bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại cho chị H1. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng cho bị cáo.
- Xét tính chất mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, điều luật đã viện dẫn. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo phạm tội lần đầu và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị cáo là đối tượng thường xuyên vắng mặt tại địa phương, đi đâu làm gì chính quyền địa phương không nắm được. Do vậy, để đảm bảo tình hình an ninh chính trị địa phương, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục bị cáo trở thành người tốt cho xã hội.
- Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có tài sản riêng và hiện đang bị tạm giam nên không cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo và cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Do bị cáo đang bị tạm giam nên cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo công tác thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thu H1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền chiếm đoạt 8.170.000 đồng. Bị cáo đã nộp số tiền 9.000.000 đồng để bồi thường cho chị H1 qua Cơ quan Điều tra và được chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang. Do vậy, cần áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584; Điều 585; Điều 589 Bộ luật Dân sự để buộc bị cáo H bồi thường cho chị H1 số tiền 8.170.000 đồng. Chị H1 được nhận số tiền bồi thường trên tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.
- Về xử lí vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
- + Trả lại cho bị cáo H 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 36B3 - 660.12; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A2020, gắn sim số 0346.014.234 và số tiền 830.000 đồng nhưng được giữ lại tiền để đảm bảo thi hành án. Đây là tài sản của cá nhân bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội.
- Ngoài ra cần áp dụng điểm Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 2 Điều 136; các Điều 331, Điều 332, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự để buộc bị cáo H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 6 (sáu) tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 04/9/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584; Điều 585; Điều 589 Bộ luật Dân sự;
Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải bồi thường cho chị Nguyễn Thu H1 số tiền 8.170.000 đồng (Tám triệu một trăm bẩy mươi nghìn đồng). Chị Nguyễn Thu H1 được nhận số tiền 8.170.000 đồng (Tám triệu một trăm bẩy mươi nghìn đồng) do bị cáo H bồi thường tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
+Trả lại cho bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 36B3 -660.12; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A2020, gắn sim số 0346.014.234 và số tiền 830.000 đồng nhưng được giữ lại tiền để đảm bảo thi hành án.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc bị cáo H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng các Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Báo cho bị cáo có mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Lương Thị Thanh Quyên |
Bản án số 204/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (criminal case)
- Số bản án: 204/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn VĂn H phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
