Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN A

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án: 204/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 27-5-2024
V/v: “Tranh chấp hôn nhân
và gia đình, ly hôn, nuôi
con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Sang.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Thanh Chúng và ông Huỳnh Thanh Phong.

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thanh Trúc Phương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 107/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 219/2024/QĐXXST-HN ngày 22 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 262/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Hữu D, sinh năm 1994; cư trú: Tổ G, ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang

- Bị đơn:Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1993; cư trú: Tổ G, ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang.

(Ông D có đơn xin xét xư vắng mặt, bà H vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, ông Nguyễn Hữu D trình bày: Hôn nhân giữa ông và bà H do tự tìm hiểu tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện A, tỉnh An Giang vào năm 2016. Sau khi kết hôn, vợ chồng ông sống và làm công ty tại tỉnh Bình Dương. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc cho đến 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp, thường xuyên cãi vả, không tìm được tiếng nói chung, bà H không quan tâm chồng con. Do ông còn thương vợ và con còn nhỏ nên khi gia đình hai bên hàn gắn nên ông bỏ qua và tiếp tục chung sống. Cho đến tháng 9/2023 thì vợ chồng ông tiếp tục phát sinh mâu thuẫn trầm trong và sống ly thân cho đến nay. Trong thời gian ly thân gia đình hai bên không hàn gắng và ông và bà H cũng không liên lạc với nhau. Nhận thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng không thể tiếp tục sống chung, tình cảm ông dành cho bà H không còn nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông xin được ly hôn với bà Nguyễn Thị Kim H.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Hữu D1, sinh ngày 16/12/2016. Hiện cháu D1 đang sống với bà H. Sau khi ly hôn, ông đồng ý giao con chung cho bà H được trực tiếp nuôi, ông xin không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong vụ án này kể từ khi thụ lý cho đến khi Tòa án ra thông báo phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ thì bà H vẫn vắng mặt, Hội đồng xét xử nghĩ nên cần tiến hành việc xét xử mà không qua thủ tục hòa giải.

Tòa án tiến hành kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ để các bên tiếp cận, đương sự thống nhất với những tài liệu, chứng cứ mà mình cung cấp, không bổ sung thêm.

Biên bản lấy lời khai ngày 16/4/2024, người thân ông D cung cấp: Hôn nhân của ông D và bà H tự tìm hiểu tiến tới hôn nhân và có tổ chức lễ cưới vào năm 2016. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, cho đến năm 2019 thì vợ chồng phát sinh cự cãi, bà H bỏ nhà đi. Sau khi được gia đình hai bên hàn gắn, ông D, bà H cũng có chung sống lại. Cho đến năm 2023 thì vợ chồng ông D, bà H tiếp tục phát sinh mâu thuẫn, bà H dẫn con đi làm thuê cho đến nay. Theo bà khả năng hàn gắn của hai người là không thể do gia đình hai bên đã có khuyên ngăn nhưng không thành; về con chung thì có 01 con chung, hiện đang sống với bà H; tài sản chung, nợ chung thì bà không biết.

Tòa án có đến nhà bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1993; cư trú: Tổ G, ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang nhưng bà H và cháu D1 không có ở nhà nên không thể tiến hành ghi lời khai bà H và cháu D1.

Theo thông báo ngày 25/4/2024, ông Lê Minh C - Trưởng Công an xã P cung cấp: Hiện bà Nguyễn Thị Kim H vẫn còn đăng ký thường trú tại ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang.

Tại phiên toà:

Ông D vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, bà H vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử, xét xử vắng mặt ông D, bà H theo thủ tục chung.

Hội đồng đồng xét xử đã công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án tại phiên tòa theo quy định.

Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi; thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ trong hồ sợ vụ án cho thấy hôn nhân của ông D, bà H có mâu thuẫn trầm trọng, thời gian ly thân đã lâu nhưng hai bên không có thiện chí hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông D theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Để đảm bảo điều kiện cho con chung phát triển và ổn định về tâm sinh lý của các cháu sau này được tốt đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông D, giao con chung cho bà H được tiếp tục nuôi dạy.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Theo quy định của pháp luật, bên không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Do bà H vắng mặt, Tòa án không ghi nhận ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với cháu Nguyễn Hữu D1 nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Do đương sự không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Phạm Hữu D2 yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Kim H. Bà H cư trú tại huyện A, tỉnh An Giang nên được Tòa án thụ lý giải quyết theo Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về sự vắng mặt của đương sự: Ông D2 vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, bà H được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H theo Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của đương sự trong quá trình tố tụng thể hiện: Quan hệ hôn nhân giữa ông D2, bà H do tự tìm hiểu yêu thương tiến tới hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện A, tỉnh An Giang vào ngày 04/11/2016 nên làm phát sinh giá trị pháp lý theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu của ông D2 xin ly hôn với bà H, Hội đồng xét xử xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng giữa ông D2, bà H phát sinh từ lâu nhưng cả hai không có giải pháp hàn gắn nên đã sống ly thân từ năm 2023. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã hòa giải đoàn tụ cho cả hai nhưng bà H không có mặt để hàn gắn tình cảm, ông D2 cương quyết ly hôn. Cho thấy, mâu thuẫn tình cảm giữa hai bên đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, điều này là phù hợp với lời trình bày của người thân trong gia đình ông D2, bà H nên yêu cầu ly hôn của ông D2 là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

[3] Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Hữu D1, sinh ngày 16/12/2016. Hiện cháu D1 đang sống với bà H, ông D2 đồng ý giao cháu D1 cho bà H tiếp tục nuôi dạy, do không ghi nhận được ý kiến của cháu D1 và bà H nên để đảm bảo điều kiện cho con chung phát triển và ổn định về tâm sinh lý của cháu sau này được tốt nên Hội đồng xét xử nghĩ nên giao cháu D1 cho bà H được tiếp tục nuôi dạy.

Về cấp dưỡng: Theo quy định của pháp luật, bên không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Do bà H vắng mặt, Tòa án không ghi nhận ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với cháu Nguyễn Hữu D1 nên không đề cập xem xét, nếu bà H có yêu cầu về mức cấp dưỡng sẽ khởi kiện bằng một vụ án khác.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Ông D2 xác định không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét. Tuy nhiên, nếu có căn cứ xác định có tài sản chung, nợ chung thì các đương sự có thể khởi kiện và sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác.

[5] Về án phí: Ông D2 phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Các Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Các Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Phạm Hữu D2.

Về quan hệ hôn nhân: Ông Phạm Hữu D2 được ly hôn với bà Nguyễn Thị Kim H.

Về con chung:Nguyễn Thị Kim H được trực tiếp nuôi dạy 01 (một) con chung tên Nguyễn Hữu D1, sinh ngày 16/12/2016, ông D2 không cấp dưỡng nuôi con chung.

Ông D2 cùng các thành viên gia đình phải tôn trọng quyền trực tiếp nuôi con của bà H. Ngược lại, bà H và các thành viên trong gia đình không được cản trở ông D2 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.

Về án phí: Ông Phạm Hữu D2 phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Số tiền này được chuyển từ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn) đồng mà ông D2 đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú theo biên lai thu số: 0009370 ngày 26/3/2024.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.

(Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự).

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện (2);
  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - Chi cục THADS huyện (1);
  • - Các đương sự;
  • - UBND nơi đăng ký kết hôn (1);
  • - Lưu hồ sơ (1),
  • - Lưu văn phòng (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 204/2024/HNGĐ-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 204/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN A, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ông D - bà H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger