Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔNG ANH

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 204/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 25/4/2024

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Triệu Thúy Hà;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đăng Hoàn;

2. Bà Hoàng Thị An.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Minh Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đông Anh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Doãn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 720/2023/TLST-HNGĐ ngày 07/12/2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 23/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/4/2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 16/2024/QĐST– HNGĐ ngày 19/4/2024, giữa:

Nguyên đơn: Chị Chu Thị Y, sinh năm 1992.

Trú tại: Thôn H, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

Bị đơn: Anh Lê Xuân N, sinh năm 1991.

Trú tại: Thôn X, xã X, huyện Đ, thành phố Hà Nội.

Có mặt: Nguyên đơn.

Vắng mặt: Bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện đề và các lời khai tiếp theo tại Tòa án, nguyên đơn chị Chu Thị Y trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Chu Thị Y và anh Lê Xuân N kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có tổ chức hôn lễ và đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội ngày 10/3/2020. Anh chị chung sống với nhau từ ngày 10/3/2020 tại ngõ A, nhà số H thôn H, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống, chị Y và anh N không được hạnh phúc, bắt đầu xảy ra mâu thuẫn từ 01/8/2021. Trong thời gian chung sống với nhau, anh N cờ bạc, đánh đập chị Y nhiều lần và báo nợ về cho chị Y. Vậy nên chị Y viết đơn mong quý tòa giải quyết cho chị được ly hôn. Chị Y và anh N đã ly thân thì ngày 01/8/2021 đến nay và hai bên hiện không sống cùng nhau nữa. Gia đình hai bên đã hàn gắn nhưng không thành.

Về con chung: Chị Y và anh N có một người con chung là cháu Lê Thạc Bảo A, sinh ngày 01/8/2020. Hiện tại, sức khoẻ của cháu tốt, đang sống cùng với chị Y. Sau khi ly hôn, chị mong muốn Toà án giao cháu Bảo A cho chị Y nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Y yêu cầu anh N đóng góp nuôi con với mức cấp dưỡng là 2.000.000 đồng/tháng (Hai triệu đồng một tháng).

Về tài sản, công sức đóng góp, nợ chung: Chị Y và anh N không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Kết quả điều tra xác minh tại địa phương xã X, huyện Đ, thành phố Hà Nội cho thấy:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Chu Thị Y và anh Lê Xuân N kết hôn năm 2020, sau cưới, chị Y và anh N sống tại nhà ông T, bà T1 (bố mẹ đẻ anh N). Sau khi kết hôn, anh N và chị Y có nhiều mâu thuẫn, nên chị Y đã không ở chung với anh N, anh N và chị Y đã sống ly thân từ lâu (khoảng tháng 8/2021). Hai bên gia đình cũng đã khuyên giải, hàn gắn nhưng không thành. Anh N và chị Y không đề nghị chính quyền địa phương can thiệp, hòa giải, gia đình anh N cũng từ chối cung cấp thông tin liên quan đến mâu thuẫn của vợ chồng anh N và chị Y, do vậy, không rõ nguyên nhân mâu thuẫn của anh chị.

Về con chung: Anh Lê Xuân N và chị Chu Thị Y có 01 con chung là cháu Lê Thạc Bảo A sinh ngày 01/8/2020. Hiện tại cháu Bảo A đang do chị Y chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh N hiện là lao động tự do, không rõ làm công việc gì, thu nhập như thế nào.

Về tài sản: Không rõ anh Lê Xuân N và chị Chu Thị Y có nợ chung, tài sản chung hay không.

Tại phiên tòa,

Nguyên đơn chị Y vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, chị Y khẳng định vợ chồng đã mâu thuẫn trầm trọng, không thể hàn gắn tình cảm, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; vụ án được thụ lý đúng thẩm quyền; Tòa án đã xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng; Tòa án đã thu thập đầy đủ tài liệu, chứng cứ để đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Phiên tòa diễn ra công khai, dân chủ, đề cập đến mọi vấn đề phải giải quyết trong vụ án.

Về việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, bị đơn chưa chấp hành quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh N.

Về nội dung: Đề nghị Toà án tuyên:

  • + Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Chu Thị Y đối với anh Lê Xuân N.
  • + Về con chung: Chị Y và anh N có 01 con chung là cháu Lê Thạc Bảo A, sinh ngày 01/8/2020. Sau ly hôn, giao cháu Bảo A cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng.
  • + Về tài sản chung, công sức và nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
  • + Về án phí: Chị Y, anh N phải chịu án phí không có giá ngạch theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Nguyên đơn chị Chu Thị Y yêu cầu Tòa án giải quyết yêu cầu ly hôn, đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Lê Xuân N có đăng kí hộ khẩu thường trú tại xã X, huyện Đ, như vậy thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc về Tòa án nhân dân huyện Đông Anh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục giải quyết vắng mặt bị đơn: Anh Lê Xuân N đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, anh N vắng mặt trong quá trình tố tụng. Tại phiên tòa, anh N vắng mặt đến lần thứ hai mặc dù đã được triệu tập hợp lệ. Do vậy, Tòa án căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh N.

[2] Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Y, anh N kết hôn vào ngày 10/3/2020 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Như vậy, hôn nhân của anh chị là hợp pháp.

Về mâu thuẫn vợ chồng: Trong quá trình chung sống, vợ chồng anh chị xuất hiện mâu thuẫn từ năm 2021, nguyên nhân do anh N cờ bạc, đánh đập chị Y nhiều lần và báo nợ về cho chị Y. Hai bên gia đình cũng đã hoà giải nhưng mâu thuẫn vẫn không được giải quyết. Chị Y và anh N đã ly thân từ ngày 01/8/2021. Đến nay, xác định tình cảm vợ chồng với anh N không còn, vợ chồng không thể hoà giải được mâu thuẫn, mục đích hôn nhân không đạt được, chị Y mong muốn Toà án giải quyết ly hôn cho chị và anh N.

Anh N không chấp hành tố tụng, không có ý kiến bằng văn bản gửi Toà án thể hiện quan điểm đối với yêu cầu xin ly hôn của chị Y. Do vậy, xác định anh N không có thiện chí đoàn tụ với chị Y.

Xét thấy, để có một cuộc hôn nhân hoà thuận, hạnh phúc phải dựa trên cơ sở của sự thương yêu, tôn trọng, tin tưởng và giúp đỡ lẫn nhau giữa vợ chồng và những người thân trong gia đình. Hôn nhân của chị Y, anh N thì không được như vậy, mâu thuẫn trong gia đình đã kéo dài và ngày càng trở nên trầm trọng, vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm. Các bên đều không có nguyện vọng đoàn tụ.

Xác định, mâu thuẫn giữa chị Y và anh N đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Chị Y có quyền yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với anh N là hoàn toàn có căn cứ, đúng sự thật khách quan, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận. Cho chị Y được ly hôn với anh N để giải phóng cho hai bên sớm ổn định cuộc sống riêng của mình.

Về con chung: Chị Y và anh N có một người con chung là cháu Lê Thạc Bảo A, sinh ngày 01/8/2020. Chị Y có nguyện vọng nuôi con chung, yêu cầu anh N cấp dưỡng 2.000.000 đồng/tháng (Hai triệu đồng/tháng). Do anh N không chấp hành tố tụng, từ chối khai báo nên xét giao cháu Bảo A cho chị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Y yêu cầu anh N phải cấp dưỡng nuôi con là 2000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu Bảo A tròn 18 tuổi là có căn cứ. Bởi lẽ, cha mẹ sau ly hôn phải có nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc cho con chung, phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng khi bên kia có yêu cầu. Mặc dù anh N không có lời khai về việc cấp dưỡng và nuôi con chung, song anh không trực tiếp nuôi con chung nên phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Mức cấp dưỡng 2.000.000 đồng/tháng mà chị Y yêu cầu anh N đóng góp là phù hợp nên được chấp nhận.

Anh N có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Chị Y xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh N không có lời khai, không có quan điểm về tài sản chung, công sức và nợ chung nên không xem xét, giải quyết.

Trường hợp vợ chồng có tài sản chung, chị Y và anh N có quyền khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng bằng một vụ án khác khi có đủ điều kiện theo pháp luật.

[3] Về án phí: Nguyên đơn chị Y phải chịu 300.000 đồng án phí theo quy định của pháp luật. Anh N phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

  • - Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
  • - Điều 28, 35, 39; 203, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • - Luật thi hành án dân sự.

Xử:

  • - Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Chu Thị Y, cho chị Y được ly hôn với anh Lê Xuân N.
  • - Về con chung: Giao cháu Lê Thạc Bảo A, sinh ngày 01/8/2020 cho chị Y trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Bảo A tròn 18 tuổi hoặc đến khi có quyết định khác của Toà án.
  • Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh N phải cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Y là 2000.000 đồng/tháng.
  • Anh N có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
  • - Về tài sản: Không xem xét giải quyết.
  • - Về án phí: Chị Chu Thị Y phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Ghi nhận chị Y đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo Biên lai số AA/2021/0007278 ngày 10/10/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh, nay chuyển thành án phí, chị Y đã nộp đủ án phí.
  • Anh N phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
  • - Về quyền kháng cáo: Chị Y có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
  • Anh N có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Đông Anh;
  • - UBND xã Kim Chung, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Triệu Thuý Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 204/2024/HNGĐ-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn

  • Số bản án: 204/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chu Thị Yến - Lê Xuân Nam ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger