|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 204/2024/HS-ST
Ngày: 24/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồ Hòa
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Đấu - Bà Phan Kim Hoa
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Dương – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Trần Thế Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 194/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024 tại hai điểm cầu gồm: Điểm cầu trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vinh; Điểm cầu thành phần: Trại tạm giam Công an tỉnh N theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 240/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn L - Tên gọi khác: Me; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 04 tháng 01 năm 1989 tại thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký thường trú: K, phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): 11/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn H – đã chết và bà: Trương Thị C – đã chết; Vợ, con: chưa có; Tiền án: Ngày 17/3/2021, Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ra trại ngày 27/01/2022; Ngày 03/10/2022, Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ra trại ngày 29/9/2023; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 24/3/2009 bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử 09 tháng tù cho hưởng án treo thử thách 18 tháng về tội “Trộm cắp tài sản”; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/5/2024 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có nhu cầu sử dụng ma tuý nên vào khoảng 08 giờ ngày 01/5/2024, Nguyễn Văn L gọi điện thoại cho anh P (nhà gần chợ M) hỏi mua 500.000 đồng ma túy heroin thì P đồng ý và nói L xuống mà lấy. Tại đây L đưa cho P 500.000 đồng và được P chỉ cho L một bao thuốc lá, L nhặt lên thì thấy bên trong có một gói bọc bằng giấy màu trắng bên trong có cục bột màu trắng, L cầm bao thuốc lá đi về gần khu vực chợ M lấy một ít ra sử dụng, số còn lại cất dầu rồi bắt xe ôm về. Đến 09 giờ 15 phút cùng ngày, khi L đi đến khu vực cầu B thuộc xã H, thành phố V để vào nhà bạn thì bị tổ công tác Công an phường H, thành phố V, tỉnh Nghệ An kiểm tra phát hiện. Do hoảng sợ nên L thả gói ma túy xuống đất, Công an yêu cầu nhặt lên và giao nộp. Người và tang vật được đưa về trụ sở Công an phường H, thành phố V lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng.
Tại Kết luận giám định số 484/KL-KTHS(Đ2 - MT) ngày 07/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn L gửi tới giám định là ma túy, loại heroin có khối lượng là 0,116 gam, tên khoa học là D được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 và Nghị định 57/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định danh mục chất ma túy và tiền chất.
Cáo trạng số 204/VKS –TPV ngày 03/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 điều 249 BLHS.
Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Nguyễn Văn L từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù; Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy đã được niêm phong dán kín thu giữ của Nguyễn Văn L, tịch thu xung quỹ nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu HONOR màu trắng thu giữ của bị cáo; Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định pháp luật.
Bị cáo không tranh luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng khác của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản cáo trạng đã truy tố là đúng. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên toà. Như vậy, có cơ sở để kết luận: Vào khoảng 09 giờ 15 phút ngày 01/5/2024, tại khu vực trước cầu B thuộc xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Văn L đang có hành vi cất giữ trái phép 01(một) gói ma túy là ma túy (heroin), có khối lượng là 0,116 gam mục đích để sử dụng, thì bị tổ công tác Công an phường H, thành phố V phát hiện, bắt quả tang. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo có 02 tiền án chưa được xóa án tích nên phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
[2.2]. Vụ án thuộc loại rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, bị cáo có nhân thân xấu nên cần xử nghiêm.
Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội và chỉ cần xử bị cáo khung hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là đủ nghiêm và thể hiện sự khoan hồng pháp luật.
Đối với loại tội này ngoài hình phạt chính còn có hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo hiện không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[3] Về vật chứng: Phong bì thư niêm phong vật chứng ma túy thu giữ của Nguyễn Văn L là chất cấm không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu HONOR màu trắng thu giữ của bị cáo là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu xung quỹ nhà nước.
Đối với người bán ma túy cho L do không biết lai lịch địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra, nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.
[4] Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm o khoản 2 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 05 (năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 01/5/2024.
3. Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điều 47 Bộ luật hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu huỷ phong bì niêm phong chứa ma túy thu giữ của Nguyễn Văn L còn lại sau khi giám định, tịch thu xung quỹ nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu HONOR màu trắng thu giữ của bị cáo (Vật chứng có tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án thành phố Vinh theo phiếu nhập kho số NK 2024/227 ngày 12/7/2024).
4. Về án phí: Căn cứ vào điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 đồng tiền án phí HSST.
5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An./.
|
Nơi nhận
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồ Hòa |
Bản án số 204/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 204/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bản án HSST
